Em đọc Sử Việt:

Nguồn gốc Văn Hóa Nhân Bản Việt Nam

 

 

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nḥa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nḥa Tinh thần Dân tộc v́ chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn măi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.


Để chống lại âm mưu xóa nḥa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ vơ toàn dân đọc Sử Việt.

 


TRÍCH DẪN

 

“… dẫu vậy có thể nói những nét lớn th́ khảo cổ và cổ sử đă kiện chứng cho thuyết Việt Nho, theo đó Việt sáng tạo ra ư tưởng, c̣n Tàu th́ công thức hóa và làm trọn vẹn. Việt là kế thừa trung tín của Di Nho hơn Tàu. Tàu theo đạo Khổng mà Khổng đă học với Di Nho tức Nghiêu Thuấn mà Thuấn là “Đông Di Chi Nhơn”.

 

Nguồn Gốc Văn Hóa Việt

Theo Những Khám Phá Mới Nhất

by Rev. Kim Định, Vietnamese Philosopher

 

Bàn về 2 quyển khảo cổ và cổ sử mới nhất về nước Tàu có liên hệ tới nguồn gốc văn hóa Việt Nam.Đó là quyển “The Origins of Chinese Civilization” gồm những bài đă thuyết tŕnh trong hội nghị Berkelev 1980. Sách in tại University of California Press 1983. Sẽ viết tắt là Origins.Quyển thứ hai là The Chinese Heritage by K.C. Wu, 496 trang, in tạiCrown Publisher Inc. New York 1982 sẽ viết tắt là Wu. Tiến sĩ Wu làm đại sứ kiêm học giả.


Bài này sẽ theo hai quyển trên và một ít tài liệu cập nhật hóa để xét lại nguồn gốc nước Tàu và Việt. Theo đó nước Tàu mới có từ quăng 20 thế kỷ trước Công Nguyên gồm ba nhà Hạ, Thương, Chu. Ta hăy điểm qua từng nhà.


1. Nhà Hạ kéo dài 439 năm (2205-1898). Tiếng Hạ không phải là tên chủng tộc mà chỉ là một mảnh đất nhỏ ở Mạn Nam sông Hoàng Hà đối với người ở Mạn Bắc th́ kể là mùa hạ. Có thể người Chàm Chốc Đốc đă ở đấy v́ họ cũng có tên là Hạ và có tục cưới rễ y như ông Vũ nhà Hạ về ở quê vợ là Đồ Sơn tức Hội Khê. Cha ông tên là Cổn được trao cho việc trị thủy nhưng thất bại, đến lượt ông Vũ th́ thành công. Chữ trị thủy hiểu theo ẩn nghĩa là “cai trị nước”. Ông Vũ trị thủy được là nhờ có con qui nổi lên ở sông Lạc đội quyển sách có 9 khoản. Theo cái nh́n của huyền sử th́ đó là cách cai trị của Lạc Việt gọi là Cửu Lạc, sau Nho Giáo gọi là Hồng Phạm Cửu Trù với Lạc Thư, tất cả đều phát xuất từ Việt tỉnh cương tức là 9 điều xếp theo 9 ô chữ tỉnh của Việt tộc.


2. Nhà Thương kéo dài 612 năm (1766-1154). Về văn hóa th́ phát xuất từ Hoài Di tức theo văn hóa Di Việt. Bà Giản Địch đẻ tổ nhà Thương theo lối dă hợp của Di, cũng theo mẫu hệ: gọi tên theo lối Việt như vua Đê Ất, khi đánh với nhà Chu th́ hầu hết là nhờ quân các nước Di nên nói được nhà Chu thắng nhà Thương là Tây thắng Đông. Nhưng thắng Di, mà Di với Việt có liên hệ chặt chẽ cả về tiếng nói cùng một gốc Nam Á (Austro-Asiatic) (xem Origins tr. 437-442) “Thế mà đất của Di rất bao la gồm Sơn Đông, Đông Hà Nam, Bắc Giang Tô, Đông Bắc An Huy, có thể cả miền duyên hải Hà Bắc và Trực Lệ, hai bên Liêu Đông và bán đảo Triều Tiên trong đó có những tên họ như Tái Hạo (Phục Hi), Thiếu Hạo (Kim Thiên) họ Phong, họ Doanh, họ Yếm... tất cả đều liên hệ với Di. Những biến cố lớn đời nhà Hạ là những cuộc đụng chạm với Di”. Học giả Phó Tư Niên, trưng theo Origins tr. 498. Cho đến hết nhà Thương th́ chưa có ǵ được gọi là văn hóa Tàu. Tất cả c̣n là Di, chỉ tự nhà Chu mới có sự khác biệt về văn hóa.


3. Nhà Chu kéo dài 897 năm từ 1122-225 phát xuất từ Tây Di, họ Cơ thuộc bộ tộc Nhung (hoặc Khương). Về văn hóa sút hơn nhà Thương rất nhiều, tuy nhiên chính nhà Chu đă biến đổi văn hóa Di Việt thành ra văn minh Tàu là do đến sau và cai trị lâu năm, và nhất là v́ có tính cách du mục, phụ hệ, vơ biền: đưa vào văn hóa Di Việt nhiều yếu tố du mục như chức thiên tử (ghế vua thần) quân đội chuyên nghiệp, luật h́nh, hoạn quan, hữu nhậm, ưa số 6 và 4, đàn áp đàn bà, khinh miệt dân chúng gọi là lê dân (dân đen đầu) hay kiểm thủ. V́ có pha máu Turc tóc vàng nên gọi dân thế. Và cũng từ đấy th́ bắt đầu phân biệt Tàu với Di Việt bằng cách coi khinh và những chữ Di Địch mới hàm ư “rợ mọi” chứ trước không hề có thế. V́ Tàu đều phát xuất từ Tứ Di cả, nhưng khi đă chinh phục được Tứ Di rồi quay lại khinh dễ gốc của ḿnh.


4. Nhà Tần kéo dài 49 năm từ 255-206, nhưng chiếm toàn cơi nước Tàu nhất là Sở, Việt, Ngô và xưng là Tần Thủy Hoàng Đế th́ mới từ năm 221. Tuy cai trị vắn những đă để lại một h́nh ảnh nước Tàu to lớn thống nhất, nên từ ấy về sau các nhà viết sử bám vào h́nh ảnh này mà quên đi những quăng đầu lúc nước Tàu c̣n nhỏ xíu. Từ Tần Thủy Hoàng nước Tàu mới có như nay nhưng vẫn phải mượn tên Tần đề gọi nước. Người Tàu đọc Tần là Tsin (đọc theo âm tiếng Việt là Chin) thành ra Chine, China. Tần là một trong Tứ Di, nhưng v́ tiếp cận với du mục quá lâu nên đi theo hướng du mục, chuyên chế, không hợp với Nho nguyên thủy là vương đạo theo tinh thần dân chủ. V́ thế cai trị nước Tàu quăng 49 năm.


5. Nhà Hán chia hai là tiền Hán 174 năm (206-32 trước Công Nguyên) cũng phát xuất từ Tứ Di, miền Giang Tô. Khi mới lên ngôi c̣n tế Ly Vưu và xưng ḿnh là Hán Man. Chữ Hán chỉ là h́nh dung từ nghĩa cao sang vinh hiển, chứ không là tên ḍng tộc, y như chữ Hạ và Hoa đều thế. V́ Tàu chỉ từ Tứ Di phát xuất chứ không có ḍng tộc riêng nên không có tên riêng. Trước đây người ta tưởng là Hoa hay Hạ là tên ḍng tộc nhưng mới đây ông Wu (tr. 106-110) đă chứng minh là không phải thế mà là tên mới từ đời nhà Chu thêm h́nh dung từ Hoa vào Hạ để chỉ sự hiển vinh, lâu rồi người ta dùng chữ Hoa bỏ chữ Hạ. Đến đời mới v́ Tần nổi quá nên người Mông Cổ gọi Tàu là Tần và tên này dính luôn.


Những điều này chứng tỏ Tàu không là một chủng tộc riêng mà chỉ do tự Tứ Di phát xuất. Điều này đă trở thành hiển nhiên khi xem mấy vị thủy tổ như Phục Hi, Nữ Oa đều xuất thân từ Di (miền Châu Từ, sông Hoài... Thần Nông th́ có lưu truyền phát xuất từ miền Tibet đi vào Tàu qua ngă Tứ Xuyên và định cư ở Hồ Bắc bên bờ Dương Tử Giang. C̣n vị nổi nhất là Bàn Cổ th́ nay đă t́m ra là người Việt họ Bàn đọc là Bàng (Hồng Bàng) là Bành (Bành Tổ) theo lối đọc miền Nam mấy âm đó xuưt xoát (xem Hán Việt tự điển Nguyễn Văn Khôn chữ Bàng, Bàn. V́ không nhận ra điều đó nên nhiều sách gán với chữ Bàn Hồ của dân Dao). Tương truyền mồ mả ông c̣n đâu đó trong miền rừng núi tỉnh Quảng Đông, ông mới được đưa vào Tàu đời Tam Quốc trong quyển “Tam ngũ lược kỳ” của Từ Chỉnh và đến đời Tống th́ được đưa vào Triết. Trong hoàn vũ Đông Tây kim cổ không có h́nh ảnh nào về nhân chủ cao đẹp hơn h́nh ảnh Bàn Cổ. Ngày 15-8-1984 An Việt khám phá ra những điều này (trong sách ông Wu tr. 2) nên đă đặt tên cho một chi ở San Jose là Bàn Cổ để ghi “biến cố quan trọng” là t́m ra tổ chót vót của ḿnh.


Hỏi: Sao lại nói Việt Nho mà không Di Nho hay Hán Nho?


Thưa: Gọi Di Nho được lắm, nhưng v́ nay không c̣n dân nào mang tên Di để đại diện nên phải lấy tên Việt vốn gắn liền với Di như đă nói trên. Nên chú ư chữ Việt đây tuy là siêu việt cũng một căn với phủ việt là thứ ŕu lưỡi cong đặc biệt của Đông Sơn cũng là của Việt. Việt này bao la ăn từ Chiết Giang lên măi Liêu Đông dính với Địch như đă nói trên (triệt 3) và có thể là U Việt (Việt diện U linh). C̣n phía Dương Tử Giang th́ có Liêu Việt, Bộc Việt. Lại có Lạc Việt miền Hoàng Hà... Việt mênh mông này có trước Bách Việt. Bách Việt viết với bộ mễ mới có sau tự lúc Việt Chiết Giang bị Sở thôn tính th́ tỏa xuống phía nam lập ra nhiều nước nhỏ mà Tàu gọi là Bách Việt trong đó nổi nhất có Nam Việt của ta ở Quảng Đông, thứ nh́ là Mân Việt ở Phước Kiến...


V́ Việt gắn liền với Di, lại c̣n việc nước mang tên Việt với vật biểu đi đôi tiên rồng. Đó là nét đặc trưng ṇng cốt, nên phải dùng tên Việt để đặt nối nguồn gốc văn hóa nước ta, sau này nếu cần v́ lư do ngoại giao không nên dùng chữ Việt Nho th́ sẽ dùng từ Nguyên Do, Di Nho hay Nho suông thay thế.
Đàng khác khảo cổ đang hướng mạnh về trục Nam Bắc tức văn hóa phát xuất từ miền Nam (văn hóa Ḥa B́nh, Non-nok-Tha... Ban chiang...) tiến lên Bắc là Ngưỡng Thiều (tỉnh Thiềm Tây) và Long Sơn (tỉnh Sơn Đông). Mỹ có người đi theo hướng đó như ông Solheim và Gorman đại học Hawaii. Nga cũng đi theo hướng đó. Xem bài ông Karl Jettmar Origins tr. 217.


Tóm lại tuy khảo cổ chưa thể quyết đoán về mọi chi tiết cách chắc nịch theo lối huyền sử, v́ huyền sử xem bao quát để nh́n ra cái dạng chung của cánh rừng, c̣n khảo cổ ví như đi vào rừng để xem xét từng chi tiết, nên gặp phiền toái hơn nhiều, dẫu vậy có thể nói những nét lớn th́ khảo cổ và cổ sử đă kiện chứng cho thuyết Việt Nho, theo đó Việt sáng tạo ra ư tưởng, c̣n Tàu th́ công thức hóa và làm trọn vẹn. Việt là kế thừa trung tín của Di Nho hơn Tàu. Tàu theo đạo Khổng mà Khổng đă học với Di Nho tức Nghiêu Thuấn mà Thuấn là “Đông Di Chi Nhơn”.

 

 

NHÂN BẢN

 

bàn cổ và nhân khởi

kim định

 

1. Bàn cổ thủ xuất

Hỗn mang chi sơ,

Vị phân thiên địa.

Bàn cổ thủ xuất,

Thuỷ phán âm dương.

Thiên khai ư tí.

Địa tịch ư sửu,

Nhân sinh ư dần

 

Trong cảnh thái hoang ban sơ khi trời đất chưa phân th́ ông Bàn Cổ xuất hiện đầu tiên. Việc làm trước hết của ông là phân ra âm dương. Âm dương là tiết điệu căn cơ gỡ nhịp cho cuộc đại diễn của vũ trụ, cầm cân nẩy mực cho quá tŕnh biến dịch của muôn loài, trong đó con người dẫn khởi. Sách nói một ngay ông biến đổi chín lần, mỗi lần ông lớn lên mười thước th́ đất dầy ra bấy nhiêu, trời cao thêm cũng bấy nhiêu. Bàn Cổ sống 18 ngàn năm, nên đất cực dầy, trời cực cao, c̣n thân ông lớn quá xá. Bấy giờ ông khóc, nước mắt chảy ra làm nên hai gịng sông Hoàng Hà và Dương Tử. Hơi ông thở thành ra gió, ông xem chung quanh thành ra sấm chớp, khi ông vui tính th́ trời đẹp, lúc ông nổi giận th́ trời tối lại, mây mù phủ kín. Khi ông chết xác ông ră ra từng mảnh làm thành năm dăy núi trong thiên hạ. Hai con mắt làm nên mặt trời mặt trăng, mỡ chảy ra hóa thành biển cả sông ng̣i, tóc đâm rễ vào đất mọc lên thảo mộc. Sâu bọ trên thân xác ông làm nên loài người.

 

Đó là tóm tắt câu truyện Bàn Cổ (*), có đă lâu đời nên rất giàu khả năng biểu thị toàn thể triết lư Đông phương, nên nói về Bàn Cổ chính là nói đến chỗ khởi đoan của triết lư Đông phương vậy.

 

(*) Truyện Bàn Cổ là truyện Bàn Vũ cũng gọi là Bàn Hồ của dân Dao (man) trong Bách Việt đă được Từ Chỉnh đời Tam Quốc chỉnh lư lại và đưa vào sách Tam Ngũ Lược Kư.

 

 

Bàn Cổ thủ xuất:

 

Mỗi chữ mang theo một chân lư quan trọng. Sao lại thủ xuất mà không hậu xuất. Thủ xuất là cốt tránh cái tai họa bị chèn ép, khi ra sau. Au tard venu les os, đến sau chỉ c̣n có xương xẩu; nghĩa là xuất hiện sau thiên nhiên th́ sẽ bị nhiên giới hóa, hoặc nói theo đời nay là bị vật đích hóa, như trong quan niệm về vũ trụ đă làm xong hẳn, để ban ra (donné) rồi con người mới đến sau. Chỉ một chữ sau trước tưởng không quan trọng ǵ, kỳ thực đến sau là sẽ bị kẹt trong hai gọng ḱm duy tâm hay duy vật: tâm có trước hay vật có trước. Vấn đề quan trọng, v́ có trước nghĩa là làm chủ chốt và sẽ giản lược yếu tố sau vào ḿnh. Bởi thế mới tranh luận thực hăng say giằng giai trải qua từng mấy ngàn năm mà chưa vỡ lẽ: chưa bên nào chịu bên nào. Tâm có trước hay vật có trước. Nếu tâm có trước th́ là duy tâm, trong đó con người trở thành duy linh coi thân xác thế gian là kẻ thù. Nếu là duy vật th́ con người cũng duy vật coi tâm linh chỉ là bèo bọt tuỳ phụ. Cả hai đều quên con người cụ thể toàn diện. Chính v́ c̣n thiếu một khoa nhân bản trung thực khởi đầu ngay tự con người cho nên chưa t́m ra lối thoát, măi tới nay chẳng mèo nào chịu mèo nào nên phải phân lư làm hai thế giới bắc loa lên gửi cho nhau chả c̣n biết bao nhiêu lời qua tiếng lại, có đệm cả bằng bom đạn nổ long trời lở núi.

 

Có vậy chúng ta mới mở mắt ra để nh́n nhận cái minh triết tiềm mặc trong bốn chữ “Bàn Cổ thủ xuất”. Tức là không đặt vấn đề duy tâm hay duy vật bên ngoài con người. Vũ trụ có trước hay sau kệ thây nó, bàn căi đă chẳng giải quyết nổi con quay ra huynh đệ tương tàn. Vậy th́ điều thiết yếu hơn là ḿnh hăy biết việc ḿnh đă: biết đâu mà thổi tù và cho vũ trụ bên ngoài ḿnh. Hăy bàn đến cái vũ trụ khi ḿnh xuất hiện, khi ḿnh có tương quan với nó. Hăy bỏ hẳn cái lối việc nhà th́ nhác việc chú bác th́ siêng. Đó là đại để cái triết lư của “Bàn Cổ thủ xuất” để phân ra âm dương trời đất. Đó là trời đất mà trong ấy ḿnh không là kẻ ăn đậu ở nhờ, nhưng là chủ nhân ông. Như câu của Từ Hồ (môn đệ Vương Dương Minh) “Thiên đại đó là thiên địa của ta, và cuộc biến hóa đó cũng chính là cuộc biến hóa của ta chứ không phải của vật nào khác”. (*)

 

(*) Thiên địa ngă chi thiên địa.

 

Biến hóa ngă chi biến hóa.

Phi tha vật dă.

 

Từ đấy vũ trụ hết c̣n xa lạ nhưng là của con người, con ngừơi đă in dấu ḿnh vào bằng cách xếp đặt và điều lư. Đấy là một lối nhập cảnh thần t́nh nhưng xưa nay ít được để ư.

 

Học giả Granet đă nhận định rằng:

 

Có một sự kiện chứng tỏ ngừơi Trung Hoa đặc biệt chú trọng đến vấn đề chính trị tức là với họ th́ lịch sử Vũ trụ bắt đầu một trật với lịch sử của nền văn minh loài người. Nó không mở đầu bằng những suy luận về Vũ trụ nhưng việc bàn về vũ trụ vốn nằm lẫn với tiểu sử các bậc Hoàng Đế. Do đó tiểu sử các vị anh hùng cổ đại chứa nhiều yếu tố thần thoại, nghĩa là những đề tài vũ trụ sinh hóa có được đưa vào văn học th́ cũng đă bị chuyển hóa theo chiều lịch sử loài người rồi, nên xuất hiện như là sự kiện lịch sử của con người làm ra: cũng được khởi hứng do cùng một mối quan tâm chính trị. Vạn vật có hiện hữu ra đó th́ cũng cốt là để gây nên cuộc thái ḥa của những người sáng lập ra nền văn minh của nước. Chính nhờ sự minh triết của các ngài mà loài người cũng như vạn vật mới có thể thuận theo thiên mệnh và nhân tính của ḿnh. Nhờ uy thế các ngài mà có được sự thái ḥa ở trong xă hội, là cái sẽ kéo theo sự Thái b́nh, tức một sự quân b́nh trọn hảo của đại vũ trụ và chiếu giăi vào việc tổ chức của các tiểu vũ trụ. V́ khuynh hướng trong chính trị đó nên họ đẩy ra ngoài mọi suy luận về vũ trụ tạo thành”. (tức bàn về vũ trụ thiếu vắng phần con người tham dự) PC.342

 

 

Nhân sinh ư dần

 

Chính nhờ ở việc đă đặt vào dấu ngoặc các vấn đề thuộc vũ trụ tạo thành bên ngoài con người mà Bàn Cổ đáng mang huy hiệu là tiên tổ của hiện tượng luận. Nền triết lư này cũng chủ trương đặt vào ngoặc đơn mọi vấn đề triết lư là cốt để tránh cái tai nạn bị nhiên giới hóa cho những người bám riết ư niệm sự vật. V́ thế mà họ chủ trương phải giảm trừ triết học, giảm trừ lư trí suy luận để th́ giờ mà sống mà quan sát kinh nghiệm sống vừa xuất hiện trong trinh sơ chưa bị lây nhiễm nọc độc của ư hệ. Họ gọi đó là trở lại với chính sự vật (Su den sachen selbst), nghĩa là nhận định sự vật lúc vừa xuất hiện trong kinh nghiệm sống chưa bị bẻ quặt do triết thuyết, chưa bị trói buộc vào phạm trù, hoặc lên khuôn thành đề án (thématisé) chưa bị tô tạo bởi những ư niệm tiền chế, những định đề ước lệ hay làm cho sự vật bị bẻ quặt, nhưng là vũ trụ nguyên tuyền giống như lư tưởng nhà Phật mong nh́n trực thị sự vật “bản lai diện mục”. Họ có đạt được cùng chăng là chuyện khác. Ở đây ta chỉ nói tới ư muốn thiết tha gác sang một bên mọi lư luận về vũ trụ và ta cho rằng đó chính là thái độ của ông Bàn Cổ trong cái sống mải miết, sống đến độ không c̣n giờ để nói lấy nửa lời, thế mới đúng là “tiền ngôn, tiền niệm”, sống trào lên dào dạt: mỗi lần biến là lớn lên 10 thước, biến đổi 9 lần trong một ngày “nhất nhật cửu biến”. Thật là cái sống dâng trào cuồn cuộn chảy xiết. Do đó tất cả không gian trở thành không gian sống, vũ trụ trở thành vũ trụ của ông, của con người tự làm lấy nên nói hơi ông thở ra thành gió, giông, cái liếc nh́n của ông thành sấm chớp. Như thế khỏi cần đặt vấn đề quyền với lợi. V́ ông thủ xuất nên đă có ai mà phải tranh dành. Nietzsche khoe khoang rằng Zarathoustra của ông ta trổi vượt hơn các nhân vật khác v́ chính Zara dựng nên chân lư và điều chỉnh vũ trụ: “Zara, crée la vérité et gouverne le monde” (Ecce. 130). Điều này c̣n thật hơn cho Bàn Cổ, với cái thân bát ngát, cái nh́n rộng răi vô biên.

 

So với Prométhée được coi là hùng cường v́ trèo lên trời ăn trộm lửa, th́ Bàn Cổ vượt xa, ông khỏi trèo trời v́ chính ông làm ra trời đất, làm ra sấm sét th́ chút lửa có đáng giá ǵ mà phải ăn trộm. Chỉ việc đưa mắt nh́n một cái là khói lửa bốc lên rần rật! V́ thế nói nhân sinh ư dần. Dần là con hổ mạnh mẽ nhất trong 10 con vật tiêu biểu: tí, sửu, dần, măo… (th́n = rồng không trông thấy nên không kể), Dần thường gọi là Chúa sơn lâm.

 

Nhưng nói thế có phải là hoang đường chăng? Thưa không hoang đường chi hết. Đó là truyện có thực nhưng là một sự thực bị chôn vùi đi và nay mới khám phá ra tức là có ư nói đến khía cạnh tạo tác của con người trong vũ trụ, khía cạnh tương quan của người với sự vật. Sự vật có là có trong tương quan với con người: chỉ có vũ trụ của tôi khi nào tôi hiện thực dự phóng của tôi vào đó. Trước đấy có hay không tôi không cần biết, không thể biết, v́ một khi biết là khởi đầu đặt mối tương quan. Sách nói Bàn Cổ thuỷ xuất là muốn trỏ vào cái lúc thức tỉnh của tâm trạng con người. Từ lúc chỗi dậy cái mà Vương Dương Minh kêu là linh minh, th́ mới có trời đất. “Trời không có linh minh của ta th́ lấy ai ngẩng lên nh́n trời cao. Đất không có cái linh minh của ta th́ lấy ai cúi xuống nh́n đất sâu?” Thục V.310

 

Tâm bất tại thị chi bất kiến, thính chi bất văn”Đ.H. khi tâm chưa thức tỉnh chưa có đó th́ xem đâu có thấy, ḷng dân có nghe. Bởi chưng: sự vật có đó hay không nhưng nếu không có con người hiểu biết, xếp đặt th́ chúng vẫn chỉ là những vật dầy đặc nằm bầy nhầy trong hỗn loạn, bị che lấp tự căn cơ, chứ đâu có trên có dưới, có trong có ngoài để mà có vũ trụ, lớp lang, với giá trị và ư nghĩa nọ kia.

 

Do đó mới nói “Hỗn mang chi sơ, vị phân thiên địa, Bản Cổ thuỷ xuất, thủy phán âm dương” là vậy. Khi chưa có Bàn Cổ tứ c chưa có con người nhận xét th́ tất cả là hỗn mang đâu có trời cao, đất thấp, đâu có hàng cây soi bóng dưới nước ao thu. Các ṿm sao đâu có được gọi là Thanh Long, Bạch Hổ, Licorne, Bắc Đẩu, Tua rua (Moderne 30).

 

Vũ trụ chỉ có cho tôi khi nào tôi đặt một mối liên hệ với nó hoặc như đối tượng của nh́n, nghe biết hay trục lợi. Đại học có với tôi từ lúc tôi thấy cần phải đi đến học, từ lúc tôi điều lư, tôi chỉ cho một chỗ đứng, một tác dụng quy chiếu vào tôi. Khi c̣n nhỏ chưa ra khỏi tuổi trung hoà, th́ cô không có cho cậu. Cô chỉ khởi “có” từ ngày cậu dậy th́: từ lúc đó th́ cô có ngày có đêm, có một cách kinh sợ đến nỗi ti má lóm mà cũng gọi ngoa ngoét là má lơm đồng tiền. Tiền nong chi đâu. Thế nhưng mà vẫn cấp cho cậu được nhiều hoan lạc hơn cả tiền nong đó. Đấy là đại khái cái nghĩa chữ có là có trong tương quan và do đó có vũ trụ kéo theo sự có rất nhiều vũ trụ. Nghĩa là có một vũ trụ quan riêng biệt cho mỗi người. Có bao nhiêu người là có bấy nhiêu vũ trụ khác nhau làm bằng những mối bận tâm khác nhau.

 

Trên nhà khách mấy ông thầu khoán đang âu lo v́ giá ximăng lên gấp đôi. Ngoài sây hai em bé hí hửng v́ một phát giác kinh khủng: ba đồng hai cặp một gị (ba đồng được hai đôi dế một chân). Trong bếp bà mẹ cằn nhằn v́ rau muốn vọt lên những ba đồng một bó. Đang lúc dấy triết gia lo âu v́ vấn đề thời không chưa đúc lại được.

 

Đó: mới trong một khoảng chưa đầy trăm thước mà đă có đến bốn năm thế giới bao quanh gây nên những thái độ khác nhau: âu lo, hí hửng, bực ḿnh, suy cứu… Mỗi thái độ phản chiếu một vũ trụ quan khác nhau. Thế mà bao lâu trước người ta không nhận ra, nên cũng không nhận ra con người tham dự vào việc kiến tạo vũ trụ, không nhận ra sự có nhiều thế giới bao quanh; mỗi người có mỗi thế giới riêng biệt.

 

Bạn hỏi: cái đó có phần đúng nhưng ơn ích chi. Thưa ơn ích lắm, trước hết là cho việc kính trọng người khác, cho tinh thần tương dung. V́ nếu không nhận ra, không thâm tín th́ ai cũng tưởng chỉ có một vũ trụ quan của ḿnh, của phe nhóm ḿnh nên dễ dàng đưa đến thái độ độc đoán: đem vũ trụ quan tư riêng hiểu lầm là duy nhất để chụp lên đầu tha nhân như thái độ của triết học duy vật hoặc duy tâm. Sau là giúp nhận thức ra được sự sai lầm tai hại của những triết thuyết chưa khám phá ra phần chủ quan nội tâm của con người, nên dễ đem những vũ trụ khách quan trừu tượng làm bằng những ư niệm khô chết để đặt lên con người sống thực. Thảm kịch con người khởi đầu từ đó.

 

Đây là hậu quả của lối nhập cảnh thụ động (la manière passive de s’insérer dans le monde). Chính v́ muốn chống lại lối đó mà Hiện sinh cũng như Hiện tượngluận mới trỗi dậy “phản kháng” lối nh́n vũ trụ hoàn toàn thụ động như con vật và tuyên dương lối “biết như công dân của vũ trụ”, nghĩa là có tham dự vào bằng nhận thức chủ quan có tính cách nhân chủ.

 

Hiện sinh trổi hơn triết cổ điển v́ coi con người là một vật thể mà sự xuất hiện của nó làm cho vũ trụ có (l’homme est un être don’t l’apparition fait que le monde existe). Không có thế giới tự nhiên độc lập bên ngoài cái nh́n cấu tạo ra nó. Vũ trụ chỉ có trong lúc con người lănh lấy trách nhiệm t́m hiểu nó. Thế giới cụ thể của mỗi người là thước đo tầm hoạt động, tầm hiện diện của người ấy. Nếu nó không có phần đóng góp tích cực vào vũ trụ quan th́ đấy là vong thân.

Nietzsche viết: “Toàn thể cái vũ trụ quan liên hệ thực sự đến ta th́ chúng ta đều đâm rễ vào trong đó bằng những nhu cầu, ước vọng, vui mừng, trông cậy, màu sắc, đường nét, những h́nh ảnh tưởng tượng, những lời khẩn cầu, nguyền rủa. Đó là một thế giới chính của chúng ta đă tạo dựng nên, rồi chúng ta quên bẵng đi, đến nỗi sau cùng chúng ta đă phải đi t́m nguyên nhân cấu tạo, chúng ta ṿ đầu làm khổ trí năo với vấn đề nguồn gốc vũ trụ”.

 

Tóm lại ngày xưa người ta hiểu lầm rằng có thế giới khách quan bên ngoài, tự tại, riêng biệt, c̣n con người được đặt vào đấy một cách thụ động mà không chú ư đến phần tham dự chủ quan của nó. Đó là điểm thiếu sót rất trầm trọng v́ nó đưa con người đến hố vong bổn. Điểm đó hiện đang được khoa Hiện tượng nhắc nhở. Nhờ thế mà triết Tây đi sát lại gần triết lư Đông phương hơn bằng sự phát giá thêm ra một trời khác, đất khác, một vũ trụ khác có thể gọi là khoảng sống (l’espace vital). Với triết học cố định, với thiên nhiên của duy niệm người ta mới biết có khoảg vật lư (l’espace physique) với tính chất liên tục, quay hướng nào cũng đồng tính như nhau y hệt, có thể đếm đo một cách hoàn toàn khách quan. Nhà triết học duy niệm chỉ biết có khoảng không h́nh học đó, nhầy nhụa và im ĺm, con người không tham dự chi vào trong việc kiến tạo ra “bầu trời đó cả”. Đến nay th́ hiện tượng luận khám phá ra một khoảng không khác: “khoảng không sống động”, mà đặc tính của nó là quy định mọi cử động của chúng ta cũng như nhận thức của chúng ta cũng lại ban cho nó một cơ cấu, một h́nh thức. Cái thế giới này c̣n tiến xa hơn câu nói của Berkeley: “Thế giới chính là cái nh́n của tôi”, v́ tuy đă đóng góp nhưng c̣n hạn cục trong cái nh́n. Đến nay triết học khám phá ra cả những cơ năng khác trong con người cũng đều dự phần vào việc làm ra thế giới gọi là thế giới bao quanh (Umwelt) tức là một mảnh, một “miếng” (portion) của khu vực mà chủ tri tiếp xúc một cách trực tiếp vừa bằng những bộ phận giác cảm vừa bằng những bộ phận chuyển dịch, tất cả làm ra một thế giới tạo tác. V́ thế có nhiều vật phản chiếu khác nhau tuỳ theo cái khung, cái lược đồ của nó, ta cần phải biết mới hiểu được vật đó. Tóm lại một thế giới sống động bao hàm các quan điểm của người nh́n, kể cả những lầm lạc của thị giác (illusion d’optique) hiện nay đang được các nhà hiện tượng luận và nhiều khoa khác khai thác, thí dụ những khoa môi sinh. Không dè ông Bàn Cổ đă từ lâu khai thách theo lối đó, nhưng v́ không nói nên không ai để ư. Nhưng khi nghiên cứu tỉ mỉ mới nhận ra là ông đă đạt chặng thứ ba của tâm thức con người, gọi là nhân thời, thời của nhân chủ, của con người tạo tác.

 

Nh́n tổng quát quá tŕnh tiến hóa của loài người, chúng ta có thể chia ra đại khái (grosso modo) ba giai đoạn là thiên thời tùng phục thần thoại, địa thời nhịp theo phạm trù sự vật, sau cùng là nhân thời con người trở lại nội tâm ḿnh để tuân theo tính mệnh “tương dĩ thuận tính mệnh chi lư”. Tính mệnh hiểu theo nghĩa nội là Nhân tính khi con người không c̣n sống thụ động theo hai đợt trên mà đi vào lối tự tác hành. Đó chính là từ bỏ vong thân để đi vào đạt thân vậy. Thực tại này đă có một số triết gia về lịch sử hé nh́n thấy, như Vico chẳng hạn. Ông đă chia lịch tŕnh tiến hóa nhân loại theo ba giai đoạn:

 

- Thần thoại với thần quyền (l’âge divin).

- Anh hùng (l’âge héroique) vơi những thiên anh hùng trường ca (épopée).

- Con người (l’âge humain) với văn chương b́nh dân.

 

Như vậy đại để cũng hợp với tiến tŕnh thiên địa nhân và kiện chứng rằng Việt nho đă đạt tới giai đoạn nhân chủ rồi. Triết cổ điển Tây Âu măi tới quăng từ thế kỷ 17, 18 mới phần nào bắt đầu bước vào giai đoạn “nhân hoàng”. Cuộc cách mạng Pháp 1789 được Hégel chào mừng như là “b́nh minh” của giai đoạn thứ ba này.

 

 

LỜI NGƯỜI SƯU TẬP

 

Trên đây có thể nói được là sự minh giải rạch ṛi các nguyên lư cơ bản mà sĩ phu Miền Nam dựng nên “Triết lư giáo dục DÂN TỘC -NHÂN BẢN” của hai nền Việt Nam Cộng Ḥa khi:

 

- Lời mở đầu của Hiến pháp Đệ Nhất VNCH 1956 long trọng ghi:

 

Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ư chí quật cường của toàn dân đảm bảo;

Tin tưởng ở sự trường tồn của nền văn minh Việt Nam, căn cứ trên nền tảng duy linh mà toàn dân đều có nhiệm vụ phát huy;

 

Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;

 

- Điều 11 Hiến pháp Đệ Nhị VNCH 1967 long trọng ghi:

 

1- Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.

 

2- Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.

 

Ngày nay, trước vận nước suy vi, dân t́nh thất tán, bọn “hồ tinh chín đuôi” họ giả hồ c̣n mưu toan xóa nḥa Lịch sử Dân tộc mở đường cho bọn xâm lược bành trướng Bắc phương xâm thực, hán hóa dân tộc Việt: Đó là tội ác bán nước, diệt tộc thâm trọng mà Trời không dung, Đất không tha, ḷng Người oán hận!

 

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính