Khuynh Hướng Xă Hội và Chủ Nghĩa Xă Hội

 

Nguyễn Nhơn

 

 

 

Kết quả khảo sát của hăng Gallup vào tháng 8/2018 cho thấy 51% số người trẻ ở Mỹ và 57% số người theo đảng Dân Chủ thích chủ nghĩa xă hội.

Số liệu trên phù hợp với sự kiện các phụ nữ trẻ thuộc tổ chức Dân Chủ Xă hội Hoa Kỳ (Democratic Socialists of America) thắng các cuộc bầu cử sơ bộ của đảng Dân Chủ. Theo dự đoán sẽ có người thắng cử Hạ Viện vào tháng 11/2018 này.

Ở Việt Nam đảng Cộng sản đă độc tôn sử dụng và diễn giải cụm từ “chủ nghĩa xă hội” theo cách riêng của họ từ nhiều năm nay nên nhiều người Việt cả hai phía theo và chống cộng vẫn mang định kiến về chủ nghĩa này.

Bạn có thể không biết chính Đức Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) sáng lập Phật Giáo Ḥa Hảo và Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng để truyền bá tư tưởng dân chủ xă hội đến quần chúng Việt Nam.

Chủ trương Việt Nam Dân Chủ Xă Hội Đảng gồm chính trị cho toàn dân, chống độc tài dưới mọi h́nh thức và xây dựng dân chủ để thực thi công bằng xă hội.

.Hai nước Mỹ: một giàu một nghèo

Như đă giới thiệu đầu bài tổ chức này đă thắng nhiều cuộc bầu cử sơ bộ đảng Dân Chủ vừa qua.

Theo Harrington có hai nước Mỹ: một của người giàu và một của người nghèo. Quyền lực chính trị và kinh tế đều nằm trong tay người giàu và v́ vậy chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng, người đă giàu lại càng giàu hơn.

Thế giới của người nghèo, trong nền kinh tế “tăng trưởng thô bạo” (ruthless growth) ngày càng mở rộng, càng nghèo là nguyên nhân mọi vấn nạn xă hội.

Theo Harrington muốn thay đổi xă hội phải dứt khoát từ bỏ đấu tranh giai cấp do Karl Marx đề ra, phải thực hiện đấu tranh chính trị, phải tái cấu trúc hệ thống các đảng chính trị và phát động cuộc chiến chống lại nghèo khó.

Thực trạng Việt Nam: một giàu một nghèo

T́nh trạng bất b́nh đẳng tại Việt Nam tệ hại hơn nước Mỹ rất nhiều nhưng đến nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

Trước đây, đảng Cộng sản nắm độc quyền về cả chính trị lẫn kinh tế, nên xă hội “b́nh đẳng” trong nghèo đói.

Khi Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện rồi sụp đổ, để sống c̣n đảng Cộng sản phải mở cửa giao thương với nước ngoài, nhưng vẫn cố nắm độc quyền cả chính trị lẫn phương tiện sản xuất và phân phối.

Đến nay nhiều ngành như điện, nước, xăng, dầu, xuất nhập cảng gạo, cảng, vận tải, viễn thông, hàng không, ngân hàng,… vẫn tiếp tục chịu sự kiểm soát nặng nề của nhà nước, có ngành nhà nước vẫn giữ độc quyền.

Mô h́nh này tạo ra một tầng lớp tư sản mới hưởng đặc quyền, đặc lợi và tham nhũng ḅn rút tài sản quốc gia.

… Để thực hiện mục tiêu “tăng trưởng thô bạo” nền kinh tế Việt Nam đến nay chủ yếu dựa trên đầu tư và vay nợ quốc tế. Hậu quả là ngân sách thu ít, không đủ chi và phải trả nợ lời.

Tư liệu sản xuất là đất được biến thành nguồn vốn của nhà nước đă khiến không ít người dân mất đất, mất kế sinh nhai.

Một ví dụ là Thủ Thiêm ngay trung tâm thành phố Hồ Chí Minh chia làm hai khu vực: một của giới nhà giàu với những cao ốc đầy đủ tiện nghi giàu có, một của các chủ đất chưa được đền bù sống bần cùng không có ngày mai.

… Tầng lớp nông dân, công nhân, dân nghèo thành thị chịu đựng bao đựng bao bất công xă hội, từ lợi tức thấp, giáo dục kém, y tế tồi,… nên chênh lệch giữa các tầng lớp xă hội ngày một cách xa, là nguyên nhân của mọi tệ nạn xă hội.

Việc đấu tranh đ̣i quyền tự do v́ thế cần tiến hành song song với đấu tranh cho một xă hội công bằng.

Có như thế người đấu tranh mới thực sự gần dân, do dân, v́ dân và giải quyết được những vấn nạn xă hội do mô h́nh thể chế cộng sản gây ra.

Thay đổi thể chế để có ‘chủ nghĩa xă hội’ theo cách thực hiện công bằng xă hội đúng đắn chính là điều kiện để phát triển kinh tế và xă hội Việt Nam thực sự bền vững, lâu dài.

(Nguyễn Quang Duy – V́ Sao Giới Trẻ Mỹ Nay Thích Chủ Nghĩa Xă Hội?)

 

 

Bây giờ là thập niên thứ hai của Thế kỷ 21, giới trẻ nước Mỹ lại hồ hởi về dzụ “công bằng xă hội” th́ thiệt là … hết biết!

 

Năm 1990, gă nhà quê xứ Thủ từ địa ngục xă nghĩa tấp tễnh qui mă, tuổi đă 53 vẫn hồ hởi cắp cặp da vào học đại học cộng đồng, lần đầu tiên thấy câu chữ lạ lẫm: Social Capitalism (Tạm dịch: Chủ nghĩa Tư Bản Khuynh hướng Xă hội).

 

Và người ta giải thích cụ thể theo bản kê về thứ hạng “An Sinh Xă Hội”: Mỹ đứng hạng 13 sau các nước Bắc Âu và Âu châu về … Welfare – An sinh xă hội.

 

Vậy là đă từ lâu “Đế quốc Mỹ” vẫn cứ là nước tư bản (có khuynh hướng) xă hội, chớ chẳng có ǵ lạ.

 

Và bây giờ sở dĩ các anh chị Mỹ trẻ lại nho nhe về dzụ “công bằng xă hơi” th́ cũng dễ hiểu.

 

Đó là do câu thành ngữ Việt Nam: Phú qúy sinh lễ nghĩa. Bần cùng sinh đạo tặc.

 

Khi kinh tế thịnh vượng “welfare” xả giàn. Khi kinh tế suy thoái th́ bó lại.

 

Và “ăn quen, nhịn hổng quen” nên sanh ra “bức xúc” và mấy anh chị mần chánh trị trẻ thừa cơ hô hoán thủ lợi.

 

Thật ra th́ trong chánh trị Mỹ, người ta cứ “đối lập” theo h́nh thức chớ trong đại học các vị giáo sư Mỹ cứ cười cười bảo:

 

  • Ông cộng ḥa th́ răn đe giới tư bản: À, cứ cái mửng “sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi,” hổng đóng góp ǵ cho xă hội th́ có ngày sinh loạn mất hết của cải.

  • Ông dân chủ th́ trề môi bảo: Cứ ngồi đó đ̣i hỏi welfare cho cố vô, nhà giàu họ hổng thèm kinh doanh mần ăn nữa th́ lấy ǵ ăn?!

 

Vậy đó, người Mỹ thực dụng là như vậy!

 

Gă nhà quê xứ Thủ làm biếng tra cứu, nói theo tuồng bụng cầu vui, thật ra cũng phiền muộn trong ḷng: Đó là nỗi buồn nhược tiểu! Những ǵ diễn biến hiện nay ở Mỹ cũng như xứ việt cọng, sĩ phu nước Việt VNCH mặc dầu nền dân chủ non trẻ lại trong thời chinh chiến điêu linh vẫn “thông minh” thiết dựng một thể chế với chính sách cụ thể giải quyết một lượt vừa nạn nghèo khó và công bằng xâ hội.

 

Lời Mở đầu Hiến Pháp Đệ Nhất VNCH viết:

 

“Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia; “

Điều 20

Quốc gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu. Luật pháp ấn định thể thức thủ đắc và hưởng thụ để ai ai cũng có thể trở thành sở hữu chủ và để bảo đảm cho con người đời sống xứng đáng và tự do, đồng thời xây dựng nền thịnh vượng xă hội.

Điều 21

Quốc gia tán trợ việc nhân dân sử dụng của để dành để thủ đắc nhà ở, ruộng cày, và cổ phần trong các xí nghiệp.

 

Từ nguyên tắc Hiến pháp, chánh phủ lập ra chính sách:

 

1/ Hữu sản hóa toàn dân thông qua “Chương tŕnh hữu sản hóa tài xế taxi”, “Người Cày Có Ruộng”, “Khu Trù Mật” , “Dinh điền”, “Khẩn hoang – Lập Ấp” …

 

2/ Cộng Đồng Đồng Tiến – Lao tư Lưỡng lợi: Chủ nhân và công nhân “kẻ có cơm – người có cháo” chớ không để cho xăy ra cảnh “người giàu nứt đố đỗ vách, kẻ lần hổng ra!” “Chương tŕnh Phát triển Cộng Đồng”, “Hợp Tác Xă” …

 

Cám cảnh sanh t́nh, bùi ngùi nhắc lại câu chuyện cũ :

 

ĐỆ NHẤT VIỆT NAM CỘNG H̉A

 

Trời vào thu, tháng mười, bâng khuâng nhớ nghĩ về những ngày tháng tuổi thanh xuân, hăm hở học hành, xây dựng tương lai.

 

Ngày 26 tháng 10 năm 1956, chàng trai tuổi mười tám, đứng trên xe kiệu hoa, mừng ngày thành lập Đệ nhất Việt Nam cộng ḥa, vung mạnh tay chém rắn ba đầu Phong – Thực – Cọng.

 

Nhớ ngày học lớp nhứt trường tỉnh, một bửa chánh chủ tỉnh Thủ Dầu Một Bonami (?) ghé thăm lớp học, bắt lỗi thầy Nguyễn Văn Kia giảng ngữ pháp tiếng Tây sai. Mặc dầu thầy tranh cải đỏ mặt, tía tai, nó vẫn cậy quyền nạt nộ.

 

Cho nên khi đậu xong tú tài mới xin thi vào Học viện Quốc gia Hành chánh Saigon, ư muốn tham dự vào nền hành chánh công quyền trong tinh thần dân chủ dưới nền pháp chế cộng ḥa, v́ công bằng, b́nh đẳng, không cậy quyền áp chế người thấp cổ, bé miệng.

 

Đầu đề bài thi tuyển về nghị luận thật đơn giản với một câu ngắn gọn:

 

Tổng thống Việt Nam cộng ḥa nói: “Học đến tận nơi, hỏi đến tận chốn, hiểu thật thông suốt, hành thật chu đáo”. Gă học tṛ nhà quê đầu óc giản dị, cứ đem những điều cơ bản về thuyết tri hành hợp nhất của Vương Dương Minh mà viết. Trong ba giờ thi, chỉ viết được bốn năm trang rồi tịt. Vậy mà rốt rồi cũng đậu được vào học viện nổi tiếng Đông Nam Á thời ấy.

 

Chương tŕnh học tập thời ấy thiệt là nặng. Tuy rằng học về khoa quản trị hành chánh công quyền Âu Mỹ, thầy dạy, tṛ học vẫn trên tinh thần truyền thống Á Đông. Thay v́ nói, cai trị là tiên liệu, thầy Tôn Thất Trạch giảng “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu”. Thay v́ nói phục vụ công chúng, thầy giảng thiệt lâu về phục vụ công ích, công thiện.

 

Năm thứ nhất học lư thuyết. Qua năm thứ hai có những buổi đi khảo sát các chương tŕnh “Phát triển Cộng đồng.”

 

Để chống lại chủ thuyết cọng sản triệt tiêu quyền tư hữu, VNCH chủ trương Hữu sản hóa đại chúng.

 

Đầu tiên là chương tŕnh hữu sản hóa tài xế xe Taxi. Ở Saigon hồi đó, chủ cho thuê loại xe taxi Renault 4 nhỏ như con bọ hung. Chánh phủ cho nhập cảng loại xe du lịch kiểu mới Dauphine Alpha mới tinh, bán trả góp cho tài xế lái taxi.

 

Trọng đại hơn là sách lược Quốc gia “Người cày có ruộng” hữu sản hóa giới nông dân. Chánh phủ truất hữu ruộng của điền chủ trả bồi thường bằng công khố phiếu, bán cho mỗi hộ nông dân ba mẫu trả góp. Về sau thời Đệ nhị VNCH nhận thấy như vậy chậm chạp không theo kịp t́nh h́nh biến chuyển mau lẹ nên cấp miển phí thay v́ bán trả góp.

 

Về các chương tŕnh phát triển cộng đồng, ngoài Miền Trung có Hợp Tác Xă Sịa, tỉnh Thừa Thiên nỗi tiếng với nhà máy xay lúa lớn, hiện đại phục vụ xay xát cho nông dân cả vùng Quận Phong Điền.

 

Khu Trù Mật Vị Thanh – Hỏa Lựu, Cần Thơ nức tiếng thời ấy là biểu tượng cho chương tŕnh phát triển nông thôn.

 

Cọng sản thường rêu rao: quân dân như cá nước nhằm xu mị lợi dụng dân tiếp tế, che chở cho du kích vc ẩn núp quấy phá. Để cô lập bọn chúng VNCH tiến hành sách lược “Ấp chiến lược”. Đệ nhất VNCH nổi tiếng Đông Nam Á về chính sách chống du kích nầy. V́ vậy mà cọng sản Bắc Việt phải xẻ dọc Trường Sơn đưa bộ đội vào Nam chiến đấu trực tiếp.

 

Từ năm 1955 đến 1959 là những năm Miền Nam ổn định và phát triển mạnh mẻ. Hệ thống giáo dục mở rộng trên nền tảng Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng vừa vun bồi truyền thống dân tộc vừa phát triển kiến thức khoa học, kỹ thuật.

 

Đến cuối năm 1960, t́nh h́nh bỗng nhiên đột biến. Đầu tiên là một nhóm nhân sĩ thường được kêu là nhóm Caravelle (tên một nhà hàng lớn trên đường Catinat) ra tuyên cáo đ̣i cải tổ chánh phủ.

 

Đêm 10 rạng 11 tháng 11 năm 1960, một lực lượng binh chủng nhảy dù tấn công bót Catinat tức là trụ sở Tổng nha Công an. Một tiểu đoàn tấn công thẳng vào Dinh Độc Lập tức Phủ Tổng thống. T́nh h́nh vô cùng nguy ngập: Cầu B́nh Lợi bị một đại đội nhảy dù của Trung úy Đào Văn Lượng phá sập một nhịp để ngăn chặn sư đoàn 5 về giải cứu. Ở Phú Lâm, một đại đội dù thiết lập nút chặn để ngăn chặn lực lượng thiết giáp từ Quân khu 5 Cần Thơ về cứu viện. Trong t́nh cảnh ngặt nghèo như vậy, Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm đă mưu trí liên lạc với các đảng phái chủ mưu đăo chánh hứa hẹn sẽ hội họp để thảo luận về việc thành lập chánh phủ Liên hiệp Đoàn kết Quốc gia. Trong khi ấy, Đại đội Liên binh pḥng vệ dinh Tổng thống đă hết đạn, giá súng, đưa Tổng thống vào chỗ ẩn trú chờ lực lượng dù vào tiếp thu dinh Độc Lập. Bỗng nhiên lực lượng dù ngưng tấn công và án binh bất động. Đó là do mấy người làm chánh trị cơ hội mắc kế hoăn binh của Ngô Tổng thống nên ra lịnh ngưng bắn.

 

Hừng sáng ngáy 11/11/1960, đoàn xe thiết giáp từ Quân khu 5, Cần Thơ kéo về giải cứu bị một Đại dội dù ngăn chặn ở Phú Lâm. May đâu viên Trung úy Đại đội trưởng mới nhậu nhẹt với Thiếu tá Trần Cửu Thiên, Tỉnh trưởng Cần Thơ trong buổi lễ khao quân mấy bửa trước nên giải tỏa hàng rào chặn cho vị nầy thông qua. Đoàn thiết giáp thừa thế vượt qua nút chặn, tiến vào giải vây dinh Độc Lập.

 

Cả tiểu đoàn nhảy dù của Đại úy Trần Văn Hai lẫn đám thanh niên, sinh viên do các đảng phái xách động biểu t́nh trước dinh Tổng thống đều bị thiết giáp đẩy lui và rút chạy.

 

Về sau xăy ra câu chuyện về khí phách của những nhân vật đảng phái đứng đàng sau vụ đảo chánh bất thành: Khi bị bắt vào vào Nha An ninh Quân đội, BS. Phan Quang Đ. Thủ lănh Đại Việt khóc lóc tỉ tê. Thiếu tá Nguyễn Bạch Ngọc, ủy viên Chánh phủ Ṭa án Quân sự Mặt trận Vùng 3 sau nầy, khi ấy là tùy viên hầu cận Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm thuật lại thái độ của tổng thống về cái chết của lănh tụ Quốc dân đảng Nhất Linh Nguyễn Tường Tam: Khi được tin Nhất Linh tự tử, tổng thống thật buồn phiền, than thở, làm sao mà khổ thân làm vậy! Chỉ chịu khó ít bửa là mọi việc được giải quyết, làm sao mà phải tự vẩn! Và suốt mấy hôm, tổng thống c̣n tỏ vẻ phiền muộn.

 

Nội vụ chỉ diễn ra trong một đêm, hậu quả tác động vào vận nước thật lớn lao: Từ ngày ấy về sau, uy thế VNCH suy yếu không bao giờ phục hồi lại được!

 

Nhân khi nội bộ tranh chấp, giặc cọng thừa cơ nổi dậy: Phát “Đồng Khởi Bến Tre” định chiếm tỉnh lỵ Trúc Giang ra mắt cái tổ chức bù nh́n việt gian gọi là Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. May nhờ Thiếu tá Phạm Ngọc Thảo, Tỉnh trưởng Kiến Ḥa, vốn gốc kháng chiến Bến Tre, mưu trí tổ chức phản nội tuyến, bẻ găy đồng khởi của “chị ba Định,” tư lịnh phó cái gọi là lực lượng quân sự GPMN, đánh cho đồng khởi te tua không c̣n manh giáp.

 

Việc nầy vừa yên, việc khác kế tiếp: Dù đồng khởi thất bại, tháng 12 năm 1960, vc vẫn cho ra mắt Mặt trận GPMN ở Tân Biên, Tây Ninh, từ đó mở rộng chiến tranh đánh phá Miền Nam. Mở đầu là trận đánh úp hậu cứ sư đoàn 13 ở Trảng Sụp, Tây Ninh vào dịp Tết 1961.

 

Tôi có duyên nợ với Khu Trù Mật Vị Thanh – Hỏa Lựu. Năm 1961, khi đi thực tập ở Cần Thơ, thỉnh thoảng được tháp tùng Thiếu tá tỉnh trưởng Trần Cửu Thiên đi thăm khu vực nầy. Sau một năm làm việc tại Phủ ĐUTUTB, tháng 4, 1963 được bổ nhiệm Trưởng ty Nội An kiêm Đặc trách Ấp Chiến Lược Tỉnh Tân Lập Chương Thiện mà tỉnh lỵ là Khu Trù Mật Vị Thanh ngày trước.

 

Ba năm về trước, Khu trù mật Vị Thanh chỉ có một nhà lồng chơ nhỏ tương đương với ngôi chợ của một quận lỵ trung b́nh. Dọc theo bờ kinh Xà No chỉ có một dăy phố trệt. Giờ đây khu chợ đă có thêm mấy dăy phố lầu, xem ra cũng có phần thị tứ như một tỉnh lẽ, mặc dầu là giữa đồng ruộng mênh mong, sát cạnh rừng U Minh vc như rươi.

 

Tôi nói về nhiệm vụ Ty Nội An là nhằm góp thêm chút ít ư kiến về cái gọi là “Pháp Nạn 1963” dẩn tới sự sụp đổ thảm thương của nền Đệ Nhất VNCH. Pḥng quan trọng của Ty Nội An là Pḥng Chánh trị Sự vụ. Nơi đó tập trung các chỉ thị về an ninh do trung ương đưa xuống và các báo cáo về an ninh do các cơ quan an ninh và các Quận trong tỉnh báo cáo về. Nghĩa là cơ quan phổ biến các chỉ thị của trung ương để thi hành và tổng hợp t́nh h́nh an ninh trong tỉnh để báo cáo về Bộ Nội vụ. Do đó, trưởng ty Nội An biết rơ t́nh h́nh của Phật giáo đồ ở địa phương. Về các huấn thị của chánh phủ, không có mật lịnh nào về đàn áp Phật giáo. Trái lại là nhiều huấn thị liên tiếp lệnh cho tỉnh trưởng giải thích cho các giới tôn giáo về lập trường của chánh phủ trên căn bản tuyên cáo giữa Ủy ban liên bộ của chánh phủ và Ủy ban Liên phái bảo vệ Phật giáo.

 

Cho nên câu chuyện pháp nạn nếu có, chỉ xăy ra ở Sài g̣n và Huế do mưu đồ chánh trị của Mỹ và cọng sản dàn dựng qua trung gian của nhóm Ấn Quang chớ chẳng phải pháp nạn Phật giáo ǵ hết trơn.

 

V́ vậy mà khi cuộc đảo chánh 1 tháng 11, 1963 xăy ra, quân chính ở cái tỉnh lẽ kế bên rừng U Minh ngơ ngác không biết v́ sao sự thể lại xăy ra như vậy!

 

Cũng nói cho rơ, bọn việt cọng đâu có giỏi giang ǵ, trong khi các đơn vị quân đội được lịnh phe đăo chánh án binh bất động, tỉnh lỵ Chương Thiện hầu như bỏ ngỏ, đến nổi tỉnh trưởng phải đem hết Shotgun Ấp chiến lược và đạn dược ra phát cho công chức tự tổ chức pḥng thủ cơ quan và Ty Nội An tổ chức một đoàn tuần tiểu bảo vệ tỉnh lỵ. Vậy mà đám địa phương quân vc trong rừng U Minh sát bên không làm ăn ǵ được.

 

Ngày nay, mọi sự đă sáng tỏ, những oan khuất của Vị Đệ nhất Tổng thống VNCH đă được bạch hóa.

 

Cũng xin thêm một đoạn khi nói về Đệ nhất VNCH chỉ bắt đầu từ ngày ban hành Hiến pháp ngày 26 tháng 10 năm 1956 xem ra không được đầy đủ.

 

Có lẽ nên nhấn mạnh về ngày 7 tháng 7 năm 1954 mà sau nầy thường ghi nhớ là ngày Song Thất tức là ngày Thủ tướng Toàn quyền Ngô Đ́nh Diệm tŕnh diện nội các, chính thức chấp chánh trong t́nh h́nh hầu như tuyệt vọng:

 

Ngày 20 tháng 7 Hiệp ước Genève chia đôi Đất nước.

 

90 ngày kế tiếp chánh phủ tân nhiệm phải tiếp nhận hơn 900 ngàn đồng bào Miền Bắc ĺa bỏ mồ mả tổ tiên trốn chạy cọng sản vào Nam t́m Tự do.

 

Tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu trưởng Quân Đội Quốc Gia bất tuân lịnh Thủ tướng.

 

Các giáo phái Cao – Ḥa – B́nh rục rịch khởi loạn.

 

Pháp ngầm gây khó khăn, ám trợ B́nh Xuyên gây loạn ở Thủ Đô Sài G̣n.

 

Người Mỹ thấy vậy cũng toan tính rút lại sự yểm trợ chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm.

 

Chỉ đến khi, Thủ tướng và nhóm thân cận, bằng quyết tâm và mưu trí, lật ngược được thế cờ th́ Pháp mới chịu buông tay và Mỹ mới tích cực yểm trợ.

 

Nhờ vậy, chánh phủ toàn quyền Ngô Đ́nh Diệm mới tiến hành được cuộc Trưng Cầu Dân Ư ngày 23 tháng 10 năm 1955, thiêt đặt bước đầu tiên cho việc xây dựng nền Đệ nhất Việt Nam Cộng ḥa.

 

Cũng ghi thêm ra đây một chi tiết về sự huyên truyền về cái gọi là gia đ́nh trị và kinh tài cần lao.

 

Gần đây, t́nh cờ được đọc bài kư sự của Giáo sư Lê Tấn Lộc thuật lại cuộc đối đáp của Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu với hai sinh viên thiên cọng về hai vấn đề kể trên trước cuộc tiếp tân ở Viện Pháp Việt (Institut Franco – Vietnamien) Paris:

“May mắn thay, ḷng tin tưởng vào khả năng đối đáp của vị Cố vấn Tổng Thống VNCH trước những câu hỏi hốc búa của hai sinh viên “yêu nước” – yêu XHCN! – trong khuôn viên Institut được đền bù xứng đáng.

 

- Thưa ông Cố vấn, sinh viên yêu nước thứ nhứt hỏi. Xin ông vui ḷng xác nhận hay phủ nhận chuyện ông cho chuyển ngân bất hợp pháp hai tỷ đô-la sang một ngân hàng ở Thụy Sĩ. Có phải ông định dùng số tiền nầy kinh tài để củng cố chế độ “gia đ́nh trị” do Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chủ xướng chăng?

Có tiếng vỗ tay lét đét từ phía “c̣ mồi” do các phần tử “yêu nước” gài.

 

Ông Cố vấn chờ tiếng vỗ tay chấm dứt, điềm tĩnh trả lời:

- Có! Chúng tôi có một ngân khoản ở Thụy Sĩ. Nhiều hơn con số anh đưa ra. Tôi không tiết lộ con số chính xác v́ nó liên quan tới An Ninh Quốc Pḥng. Đó là một ngân quỹ bí mật. Muốn sử dụng phải hội đủ 5 nhóm mật mă của 5 vị trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mà tôi là một thành viên. Có lẽ anh ở ngoại quốc quá lâu, nên không theo dơi hiện trạng đất nước. Người Mỹ đang áp lực chúng tôi theo đường lối chính trị của họ. Chúng tôi không muốn hoàn toàn lệ thuộc vào họ, đánh mất chủ quyền quốc gia. Nên quỹ bí mật nầy nhằm đảm bảo sự độc lập của chúng tôi trong việc điều hành quốc sự… Hy vọng tôi đă trả lời thỏa đáng điều anh thắc mắc…

 

Cử tọa không vỗ tay rầm rộ, nhưng gật gù tán thưởng. Sinh viên “yêu nước” bẽn lẽn rời khuôn viên Institut.

 

Thưa ông Cố vấn, sinh viên “yêu nước” thứ hai sừng sơ “chất vấn” tiếp. Ông vẫn chưa trả lời dứt khoát Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có áp dụng chế độ “gia đ́nh trị” tại miền Nam không?

 

Lại có tiếng vỗ tay lét đét!

Như ông bạn anh vừa hỏi tôi, tôi nghĩ rằng anh cũng đă xa quê hương rất lâu. Tôi xin tóm lược hiện t́nh đất nước từ ngày Ngô Tổng Thống về chấp chánh đến nay, để đặt câu hỏi ngược lại với anh:

Giả thử anh là Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm, về nước năm 1954 khi thực dân Pháp c̣n tiếp tục khuyến khích các phần tử thân Pháp lật đổ chính quyền, cũng như yểm trợ, xúi giục các giáo phái có thành tích bất hảo như thổ phỉ đánh phá quân đội quốc gia, trước cảnh dầu sôi lửa bỏng do các phần tử đối nghịch tạo nên, rắp tâm tiêu diệt anh, nếu phải chọn cộng sự viên sẵn sàng chết sống có nhau v́ đại cuộc, giữa hai người đồng tài, đồng sức, đồng chí hướng, một bên không là thân bằng quyến thuộc, một bên là cật ruột, anh có cảm thấy gần như không cách chi anh không hành sử như Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm chăng?

 

Sinh viên “yêu nước” thứ hai âm thầm lủi mất.”

 

Vậy đó, tư cách của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu đáng mặt sĩ phu Việt Nam yêu nước là như vậy đó!

 

Nhân ngày kỷ niệm Đệ nhất VNCH 26 tháng Mười, viết đôi ḍng tưởng nhớ công đức tiền nhân, về một thời Miền Nam tự do, no ấm, tương đối thanh b́nh với một nền cộng ḥa non trẻ xây dựng trên nền tảng Dân Tộc – Nhân bản, hướng về một xă hội Việt Nam công b́nh, nhân ái, phát triển và thịnh vượng.

 

 

Nguyễn Nhơn

(Một môn đệ Quốc gia Hành chánh

theo truyền thống Học – Hiểu – Hành)

 

 

Tinh thần Dân tộc – Nhân bản trên Hiến Pháp Đệ nhất VNCH

 

Gần đây, nhiều tác giả trong nước cổ xúy nguyên lư “Tam Quyền Phân lập” trong việc thiết đặt nền tảng Hiến Pháp.

 

Đă từ lâu, nguyên lư tam quyền phân lập hiến định đă trở thành nguyên lư cổ điển trong việc thành lập Hiến pháp.

 

Ít người biết Hiến Pháp Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa 1956 đă được thiết dựng trên nguyên lư PHÂN NHIỆM thay v́ phân quyền cổ điển.

 

Nguyên lư Phân Nhiệm nhấn mạnh vào ư niệm: Chủ quyền Quốc gia thuộc về Toàn dân. Quốc dân ỦY NHIỆM các nhiệm vụ hiến định cho các chức chưởng, định chế Quốc gia chớ không phải các định chế Quốc gia ban bố quyền cho toàn dân.

 

Về nguyên lư NHÂN BẢN, lời mở đầu Hiến pháp Đệ nhất VNCH long trong ghi: “Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;”

 

Nhân dịp kỷ niệm ngày ban hành Hiến pháp Đệ nhất VNCH 26 tháng 10, 1956, xin ghi lại đôi ḍng về tinh thần Dân tộc – Nhân bản của nền Đệ nhất VNCH.

 

Tinh thần Dân tộc – Nhân bản của nền Đệ nhất VNCH

 

Trích: “Tinh Thần Cộng Ḥa vẫn tồn tại

 

Mặc dù Việt Nam Cộng Ḥa không c̣n tồn tại nhưng sinh họat và tinh thần cộng ḥa đă ăn sâu vào cách suy nghĩ của người miền Nam.

 

Tinh thần này đă được truyền cho thế hệ tiếp nối và lan tỏa khắp nơi. Trong nước tại miền Nam các thế hệ đi trước đă kể cho con em họ về lịch sử của họ và của Việt Nam Cộng Ḥa.

 

(VIỄN TƯỞNG VỀ CHÍNH THỂ CỘNG H̉A CHO VIỆT NAM. Nguyễn Quang Duy)

 

Ngày 26 tháng 10, 2015, ngày kỷ niệm 59 năm thành lập nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Ḥa.

 

Ngày ban hành Hiến Pháp, đạo luật tối thượng thiết đặt nền tảng, kỷ cương cho Đất nước. Dù bị nạn thực dân – cộng sản qua phân, trong ư thức, t́nh tự dân tộc, Quân – Dân – Chánh Miền Nam vẫn nh́n nhận: Lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa chạy dài từ Ải Nam Quan đến mủi Cà Mau, Độc lập – Thống nhất, bất khả phân.

 

Lời Mở đầu Hiến pháp lẫm liệt viết:

 

Tin tưởng ở tương lai huy hoàng bất diệt của Quốc gia và Dân tộc Việt Nam mà lịch sử tranh đấu oai hùng của tổ tiên và ư chí quật cường của toàn dân đảm bảo, Và Điều 1 minh thị xác định:

 

Việt Nam là một nước Cộng ḥa, Độc lập, Thống nhất, lănh thổ bất khả phân.

 

Đó là tinh thần Dân tộc theo truyền thống B́nh Ngô Đại cáo:

Như nước Việt ta từ trước vốn xưng văn hiến đă lâu. Sơn hà cương vực đă chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lư, Trần gây nền độc lập cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương.”

 

Về yếu tính Nhân bản, hiến pháp cũng long trọng cam kết:

 

Tin tưởng ở giá trị siêu việt của con người mà sự phát triển tự do, điều ḥa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi hoạt động Quốc gia;

 

Điều 12

Đời tư, gia đ́nh, nhà cửa, phẩm giá, và thanh danh của mọi người dân phải được tôn trọng.

 

Về vấn đề Dân chủ, ngày nay, sống dưới chế độ độc tài toàn trị việt cộng quá lâu, giới trẻ may nhờ cuộc cách mạng truyền thông điện tử, t́m thấy được ư niệm căn bản về thể chế dân chủ, thường nêu cao định chế Tam Quyền phân lâp, Dân chủ pháp trị, Đa nguyên, đa đảng.

 

Ít người biết rằng, hai nền Việt Nam Cộng Ḥa đă từng vượt lên trên quan niệm phân quyền hiến định. Và đă long trọng thiết đặt yếu tính “Dân chủ Phân nhiệm” trên cả hai bản Hiến pháp VNCH:

 

Điều 2 Chủ quyền thuộc về toàn dân.

 

Điều 3 Quốc dân ủy nhiệm vụ hành pháp cho Tổng thống dân cử, và nhiệm vụ lập pháp cho Quốc hội cũng do dân cử.

 

Sự phân nhiệm giữa hành pháp và lập pháp phải rơ rệt. Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp phải được điều ḥa.

 

Điều nầy thật trọng yếu nhằm bảo đảm tính chất dân chủ vững chắc và có thực chất của thể chế VNCH khi xác định: Chủ quyền thuộc về toàn dân. Quốc dân “ ủy nhiệm vụ “ cho các chức chưởng, định chế quốc gia thực hiện nhiệm vụ do quốc dân giao phó chớ không phải tự thân các chức chưởng, định chế ấy ban bố quyền hạn cho toàn dân.

 

Hiện tại, tương quan giữa các ngành Hành pháp – Lập pháp – Tư pháp Hoa Kỳ vẫn đặt trên căn bản “Cân bằng Quyền lực” (Balance of Powers). Năm mươi tám năm về trước, Hiến pháp VNCH đă đặt định “ Hoạt động của các cơ quan hành pháp và lập pháp “phải được điều ḥa.” Nghĩa là các ngành hoạt động điều hành công việc quốc gia có bổn phận phải thu xếp ổn thỏa để cho bộ máy nhà nước hoạt động được điều ḥa, không để va chạm rối loạn, chớ không chỉ tiêu cực cân bằng quyền lực.

 

Một Quốc gia VNCH non trẻ, được thiết dựng trên căn bản trội yếu về hiến chế và điều hành giữa thời chinh chiến điêu linh mà đă đạt được một số thành tựu đáng kể như vậy cũng là niềm hănh diện cho sĩ phu Miền Nam nước Việt.

 

Hơn thế nữa, những ngày cuối cùng của Miền Nam, trong khi giặc cộng kéo gấn đến dưới chân thành, sĩ phu Miền Nam vẫn c̣n thao thức hội thảo đặt vấn đề: Dân chủ Pháp trị hay Đức trị? Là Phụ mẫu chi dân hay dân chi phụ mẫu?!

 

Hỡi ôi, nền VNCH như đứa bé mới học đi vừa vững chân trên nền Dân chủ Pháp trị đă chực chạy lên Dân chủ Nhân bản và tiến đến mức cao xa Đức trị!

 

Hai nền VNCH non trẻ ấy, như tuổi thanh xuân mơ mộng, hăm hở tiến vào nền văn minh thời đại thật đáng yêu.

 

C̣n như ngày nay, giữa thời kỳ chủ nghĩa xă hội đen tối, chỉ một nền Cộng ḥa Tam quyền phân lập đơn sơ, khiêm tốn vẫn chỉ là “một viễn tưởng” ở ngày mai, nghĩ cũng thật là thảm cho Đất nước và Dân tộc!

 

 

 

Nguyễn Nhơn

(Viết nhân Mùa Thu trông chờ Cách Mạng Mùa Thu Mới)

22/8/2018

 

  

 

 


 

From: 'van tran' via banvang <banvang@googlegroups.com>

Sent: Sunday, August 25, 2019 7:23 AM

To: qy moi <svhdqymembers@emaildodo.com>

Subject: Sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Cộng Sản và Chủ nghĩa Xã Hội.

 

 

Subject: Sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Cộng Sản và Chủ nghĩa Xã Hội.

 

 

Theo tôi nghe những quốc cán CS (cán bộ CS dự họp Hội nghị Quốc tế) trong thời gian khoang 6 năm sống với chúng,  th́ có thể tóm gọn là Chủ nghĩa XĂ HỘI LÀ QUÁ TR̀NH (tŕnh độ đă qua) để tiển lên Chủ Nghĩa CỘNG SẢN.

 

Trong tiến tŕnh CNXH, th́ làm theo khả năng hưởng theo năng xuất.

 

Tại Thụy Điển, người giàu lái xe vi phạm luật giao thông bị phạt theo mức tài sản có rất nhiều lần hơn người nghèo, và đó là công bằng xă hội, chủ trương của CNXH,

 

Khi đă qua tŕnh độ của CNXH th́ tới kỳ Triệt Tiêu Tư Hữu, làm cho Đảng CS, để đảng CS quản lư là tới lúc: Làm tùy sức, Ăn tùy thích, hay là Làm theo Khả Năng, hưởng theo Nhu Cầu.

 

Tóm tắt ngắn gọn là như thế. Có thể như Trọng Lú nói: "Chưa biết hết thế kỷ này có hoàn thành, thực hiện được CNXH ở VN CS không??? và c̣n chết bao nhiêu dân nữa, mất bao nhiêu đất và biển nữa??? 

 

TDT.

 

 

Sự khác biệt giữa Chủ nghĩa Cộng Sản và Chủ nghĩa Xã Hội.



 

Hoàng Thủy Ngữ (Danlambao) - Hiện nay các quốc gia trên thế giới áp dụng những lý thuyết chính trị khác nhau để quản trị nhà nước và quản lý kinh tế. Hầu hết mọi người đều biết ít nhiều về các thuật ngữ liên quan, và có thể cho biết ý nghĩa cơ bản của chúng. Tuy nhiên, có hai khái niệm chính trị thường hay bị hiểu lầm: Đó là chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Chúng gây bối rối đến mức nhiều Chính-trị-gia cũng nhầm lẫn. Hai thuật ngữ chính trị này cứ xuất hiện lẫn lộn do việc người dùng không lưu tâm nhiều đến nội dung thực sự của chúng. 

 

Thực ra, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội hoàn toàn khác nhau. Mục đích của bài viết này là muốn đưa ra những khác biệt cụ thể giữa hai chủ nghĩa đó. 

 

Lý thuyết cộng sản: 

 

Lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản xuất phát từ việc chỉ trích chủ nghĩa tư bản trên thị trường. Ý tưởng cơ bản của chủ nghĩa này là nền kinh tế tư bản cho phép thiểu số tinh hoa thuộc tầng lớp có vị trí kinh tế, chính trị, và xã hội cao hơn lợi dụng, và bóc lột đại đa số quần chúng còn lại, những thành phần có vị trí kinh tế, xã hội thấp hơn. Karl Marx và Friedrich Engels, những người đặt nền móng cho ý tưởng cộng sản, đã đề xuất thay vào đó một xã hội, nơi tất cả các cá nhân đều bình đẳng về kinh tế và xã hội. Sự bình đẳng này chỉ có được bằng cách hủy bỏ tư hữu tài sản và tiền bạc và bằng cách làm việc chung như một cá thể. Ngoài ra, nó còn yêu cầu các cá nhân chỉ cần sản xuất hàng hóa và dịch vụ đủ để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của quần chúng. Không ai sở hữu tư liệu sản xuất; nhà nước CS sẽ kiểm soát tất cả mọi phương tiện này. Cư dân trong xã hội cộng sản sở hữu chung các hàng hóa và dịch vụ đã sản xuất được. Chúng sẽ được phân phối theo nhu cầu, thay vì trên số lượng sản phẩm một cá nhân đã làm được. 

 

Xã hội cộng sản sẽ không có giai cấp kinh tế và tư hữu. Trong xã hội cộng sản lý tưởng hơn, chính phủ không cần phải tồn tại để quản lý kinh tế, mọi người sống và cùng hợp tác sản xuất, đáp ứng mọi nhu cầu chung. 

 

Lịch sử chủ nghĩa cộng sản: 

 

Trong lịch sử thế giới hiện đại, chủ nghĩa cộng sản gắn liền với chính phủ của những người Bolshevik do Vladimir Lenin lãnh đạo vào đầu thế kỷ 20. Nhóm người này đã đẩy nước Nga vào cuộc nội chiến tương tàn, và nạn đói thảm khốc, trước khi nắm trọn quyền lực và thành lập Liên Bang Xô Viết kéo dài hơn 70 năm. Nhưng quốc gia này chưa bao giờ tiến tới được mô hình thuần túy của chủ nghĩa cộng sản. Giai cấp kinh tế và xã hội vẫn tồn tại, và chính phủ không bao giờ bị giải thể. Khi bắt đầu cầm quyền, đảng Cộng Sản tuyên bố họ đang trên đường thực hiện chủ nghĩa cộng sản. Suốt thời gian dài, giai cấp công nhân (giai cấp vô sản) bị đặt dưới sự cai trị của một chế độ CS độc tài, và điều này được coi là cần thiết cho một trong những giai đoạn tiến đến xã hội cộng sản thật sự. Một số quốc gia khác như TC, Việt Nam CS, Cuba CS, Bắc Hàn CS, Đông Đức CS... cũng áp dụng chủ thuyết này. Hậu quả là các nền độc tài CS toàn trị với một thiểu số tận hưởng quyền lực cùng lợi nhuận lớn đến từ các nguồn lực sản xuất của nhà nước CS. 

 

Định nghĩa của chủ nghĩa xã hội:

 

Chủ nghĩa xã hội xuất hiện từ lâu, trước chủ nghĩa cộng sản, nhưng cũng bắt nguồn từ mong muốn tạo ra một xã hội dựa trên sự bình đẳng và điều kiện sống tốt hơn cho tất cả người dân. Mọi hành động hay quyết định, cả về chính trị và kinh tế, phải được tính toán và thực hiện với mục đích đem lại lợi ích cho tập thể quần chúng. Chủ nghĩa xã hội, ở dạng ban đầu, là ý tưởng mọi cá nhân nên cùng cộng tác để giải quyết các vấn đề luôn tồn đọng trong xã hội (như nghèo đói và áp bức) hơn là lối sống cá nhân ích kỷ. Ngoài ra, hệ tư tưởng này còn đề xuất các phương tiện sản xuất thông thường (như đất đai và cơ sở sản xuất) nên thuộc quyền sở hữu của toàn xã hội với chính phủ là đại diện thay mặt cho người dân. Trong bối cảnh này, chủ nghĩa xã hội có nhiều tiềm năng hơn chủ nghĩa cộng sản. Ví dụ, trong một xã hội theo chủ nghĩa xã hội, các phương tiện sản xuất có thể được chính phủ hay các tổ hợp (những nhóm người có cùng chí hướng, như nông dân, cùng làm việc để đạt mục tiêu sản xuất) điều hành. Nó cũng thúc đẩy ý tưởng phân phối lại quyền lực và sự giàu có như phương tiện để đạt được sự bình đẳng. 

 

Lịch sử chủ nghĩa xã hội:

 

Chủ nghĩa xã hội bám rễ sau khi thế chiến thứ Hai kết thúc. Nó chính yếu tập trung tại các khu vực phía Tây Âu Châu, và tại các quốc gia mới giành được độc lập, hậu thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Trung Đông. Các quốc gia ở Tây Âu như: Anh, Pháp, Ý; và ở Bắc Âu như: Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy nghiêng về chủ nghĩa xã hội, thực hiện các chương trình phúc lợi nhà nước và mở rộng chính sách thuế khóa. Ngoài ra, các chính phủ này còn tìm cách phân phối lại phúc lợi, các chương trình cải cách xã hội và quốc-hữu-hóa các dịch vụ công. Bằng cách áp dụng ý tưởng của chủ nghĩa xã hội, thuế khóa được hỗ trợ, y tế miễn phí cho toàn dân, và chính phủ tài trợ các chương trình giáo dục và nhà ở cho tầng lớp lao động. 

 

Trong thời gian gần đây, nhiều phong trào và chính phủ đã sử dụng hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa để hình thành các điều kiện trong khuôn khổ tổ chức của họ. Các phong trào giải phóng, phong trào nữ quyền, phong trào dân quyền v.v... đều có một số yếu tố của chủ nghĩa xã hội để hỗ trợ lý tưởng của mình. 

 

Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản: 

 

Một trong những khác biệt chính giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là làm cách nào để có thể đi đến những mô hình kinh tế này. 

 

Theo lý thuyết nguyên thủy: Chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể đạt được khi giai cấp công nhân đứng lên lật đổ tầng lớp trung lưu và thượng lưu bằng bạo lực. Các nhà lý luận cộng sản tin rằng: Bạo lực cách mạng là biện pháp duy nhất để xóa bỏ chủ nghĩa tư bản. 

 

Ngược lại, chủ nghĩa xã hội chủ trương việc thành hình thông qua quá trình bầu cử. Khi tham gia cuộc bầu cử, công dân có thể chọn đảng phái để thay mặt mình Lãnh đạo chính phủ. Phương pháp cải cách này chậm hơn nhưng duy trì được một số trật tự nhất định trong lãnh vực chính trị và pháp lý của quốc gia. 

 

Ngoài ra, hai chủ nghĩa này còn khác nhau về các nguyên tắc sở hữu. Trong chủ nghĩa cộng sản, hàng hóa và dịch vụ được phân phối dựa trên nhu cầu cá nhân thay vì trên nỗ lực đóng góp của cá nhân vào quá trình sản xuất. Trái lại, chủ nghĩa xã hội cho phép việc phân phối hàng hóa và dịch vụ dựa trên sự đóng góp công sức của cá nhân vào sản xuất. 

 

Mặc dù hai hệ tư tưởng chính trị này rất khác nhau, không một quốc gia nào trên thế giới ngày nay có thể tuyên bố là thuần túy cộng sản hay xã hội chủ nghĩa. Các nhà Nghiên cứu lưu ý rằng: Hầu hết các chính phủ kết hợp các yếu tố từ nhiều mô hình kinh tế để phát huy sức mạnh và cung cấp các dịch vụ xã hội. Ngay cả ở Hoa Kỳ, quốc gia đề cao chủ nghĩa tư bản, người ta cũng tìm thấy ý tưởng xã hội chủ nghĩa trong chương trình an sinh xã hội Medicare và Medicaid của Lyndon B. Johnson, hay chương trình cải cách kinh tế New Deal của Franklin D. Roosevelt và ông đã thành công: Nền kinh tế Mỹ dần phục hồi sau cuộc Đại Suy Thoái Kinh Tế thế giới những năm 1930. 

 

Rất nhiều đảng phái tại các quốc gia Tây Âu hiện nay tự nhận là dân chủ xã hội (social democracy), chẳng hạn như Sveriges Sosialdemokratiska Arbetareparti ở Thụy Điển, Arbeiderpartiet ở Na Uy, hay British Labour Party ở Anh. Mục tiêu không phải để tạo ra bất kỳ một nền kinh tế kế-hoạch-hóa nào, nhưng là một nền kinh tế hỗn hợp với hầu hết các hoạt động kinh tế nằm trong thị trường tư bản tự do, đồng thời đặt nặng các lãnh vực y tế, giáo dục và phúc lợi xã hội lên vai nhà nước. 

 

Bằng cách kết hợp hệ tư tưởng của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản v

...

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính