Hoàng Sa – Trường Sa hai mảnh Việt Nam trôi dạt trên Biển Đông

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Lịch sử Hoàng Sa thời Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn‏

 

 

Bản đồ Đông Nam Á do người phương Tây vẽ năm 1606, Hoàng Sa (Pracel) được ghi thuộc Champa tại vị trí trong đất liền giữa Cinoa (Thuận Hóa) và Champa là Cofta de Pracel (bằng tiếng Latin).

 

 

Quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi “Baixos de Chapar ou de Pulls Scir”, tức là Băi cát Chămpa (băi đá ngầm), nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía đông bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687.

 

 

Quần đảo Hoàng Sa (Isles Pracel) cùng với tên gọi “Baixos de Chapar de Pullo Scir”, trong bản đồ của Joachim Ottens (1663 - 1719) vẽ xong năm 1710.

 

 

Bản đồ Đàng Ngoài Việt Nam (Ton Kin), Đàng Trong Việt Nam (Cochin Chin) cùng quần đảo Hoàng Sa (le Paracel) (có cùng một cách tô đường viền màu xanh dương nhạt), Lào (Laos), Trung Hoa (Chine) cùng đảo Hải Nam (Hainam I.), năm 1771. Trong bản đồ gốc cương vực Vương quốc Trung Hoa được giới hạn bằng đường viền màu vàng và không bao gồm quần đảo Hoàng Sa (le Paracel).

 

 

Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam thời Lê trung hưng, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier). Băi cát vàng (鐄葛?) trên bản đồ tức là Hoàng Sa.

 

 

Hoàng Sa (phía dưới, bên trái, ghi là “Băi Cát Vàng”), trong tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá biên soạn năm Chính Ḥa thứ 7 (1686) đời Lê Hy Tông

 

 

Bản đồ Biển Đông của Robert Sayer (1725-1794), nhà xuất bản Luân đôn in năm 1791 ghi chú là: Paracel Bank (quần đảo Hoàng Sa) vẽ theo Dự thảo Hàng hải chỉ nam của xứ An Nam (Cochin China Đàng Trong) năm 1764.

 

 

Các quần đảo Hoàng Sa (黄沙) và Trường Sa (tức Vạn lư Trường Sa, 萬里長沙) được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (năm 1834-1840).

 

 

Bản đồ Paracels Islands (Hoàng Sa) một phần của CochinChine (Vương quốc An Nam) năm 1827.

 

 

Quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ của Đức năm 1876 vẽ vùng Viễn Ấn Hinter-Indien với lời ghi rơ quần đảo thuộc xứ “Annam”.

 

 

Châu bản triều Nguyễn (阮朝硃本) về việc xây đền thờ ở Hoàng Sa (黄沙寺) của đội Hoàng Sa do Phạm Văn Nguyên (笵文原) chỉ huy, (Văn bản soạn ngày 13 tháng 7 âm lịch năm Ất Mùi, Minh Mạng 16, tức ngày 5 tháng 9 năm 1835).

 

 

Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa (黄沙), ngày 13 tháng 7 năm Đinh Dậu niên hiệu Minh Mạng thứ 18 (ngày 13 tháng 8 năm 1837).

Những người đánh cá Việt Nam sống trên các đảo tuỳ theo mùa nhưng từ bao giờ th́ không thể xác định được. Những người đánh cá từ các quốc gia láng giềng khác nhau thường xuyên lui tới đảo này trong hàng thế kỉ và những người đi biển có nguồn gốc ở xa hơn (người Ấn Độ, Ả Rập, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan) đă biết và nói về các đảo này từ lâu.[8] Trong số đó, có các nhà hàng hải Pháp xuống tàu từ cảng La Rochelle, ngày 7 tháng 3 năm 1568 cùng với các nhà bác học ḍng Tên đi Viễn Đông đă đến Hoàng Sa.[9]

 

Đầu thế kỉ 17: Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm. Theo Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quư Đôn th́: “Phủ Quảng Ngăi huyện B́nh Sơn có xă An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ ḥn này sang ḥn kia phải đi một ngày hoặc vài canh th́ đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngot. Trong đảo có băi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy... Các thuyền ngoại phiên bị băo thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xă An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhân giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm th́ đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu ([nước ngoài bị đắm v́ băo]),... Đến kỳ tháng 8 th́ về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp,... Họ Nguyễn đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở B́nh Thuận, hoặc người xă Cảnh Dương, ai t́nh nguyện đi th́ cấp giấy sai đi,..., cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên,..., cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản... Hoàng Sa gần phủ Liêm Châu đảo Hải Nam, người đi thuyền có lúc gặp thuyền cá Bắc Quốc,...”.[10] Lịch triều hiến chương loại chí viết: “Xă An Vĩnh, huyện B́nh Dương ở gần biển. Ngoài biển, phía Đông Bắc có đảo [Hoàng Sa] nhiều núi linh tinh, đến hơn 130 ngọn núi. Đi từ núi [chính] ra biển ([tức sang các đảo khác]) ước trừng một vài ngày hoặc một vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có băi cát vàng, dài ước 30 dặm, bằng phẳng rộng răi... Các đời chúa [Nguyễn] đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh, thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm, cứ đến tháng 3, khi nhận được lệnh sai đi, phải đem đủ 6 tháng lương, chở 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, 3 ngày 3 đêm mới đến đảo ấy ([tức Hoàng Sa])... Đến tháng 8 th́ đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân, đưa nộp.”[11]

 

Năm1686: (năm Chính Ḥa thứ 7) Đỗ Bá Công biên soạn Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư trong Hồng Đức Bản Đồ hay Toản Tập An Nam Lộ trong sách Thiên Hạ Bản Đồ. Tấm bản đồ trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ được vẽ theo bút pháp đương thời với lời chú rất rơ ràng:”Giữa biển có một dải cát dài gọi là Băi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”, c̣n bản đồ vẽ trong Toản Tập An Nam Lộ th́ ghi chú rất rơ địa danh Băi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Đại Chiêm, Sa Kỳ, Mỹ Á, phủ Quảng Nghĩa và các huyện B́nh Sơn, Chương Nghĩa, Mộ Hoa.

 

Năm1695: nhà sư Thích Đại Sán (1633 - 1704, hiệu Thạch Liêm, quê ở tỉnh Giang Tây,Trung Quốc, đến Phú Xuân theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu) đă nhắc đến địa danh “Vạn lí Trường Sa” ngoài Biển Đông (ám chỉ quần đảo Hoàng Sa[12][13]) trong quyển 3 của tập sách Hải ngoại kỉ sự. Trích một đoạn sách do Nguyễn Phương và Nguyễn Duy Bột (Viện đại học Huế - Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam, 1963) dịch: “Khách có người bảo: mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng vào độ nửa tháng trước sau tiết lập thu; chừng ấy, gió tây nam thổi mạnh, chạy một lèo gió xuôi chừng bốn năm ngày đêm có thể đến Hổ Môn. Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần nổi lên, nước chảy về hướng đông, sức gió nam yếu, không chống nổi ḍng nước chảy mạnh về đông, lúc ấy sẽ khó giữ được sự ổn tiện vậy. Bởi v́ có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ đông bắc qua tây nam; đống cao dựng đứng như vách tường, băi thấp cũng ngang mặt nước biển; mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm vào ắt tan tành; băi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là Vạn lí Trường Sa, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; Nếu thuyền bị trái gió trái nước tất vào, dầu không tan nát, cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quăng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hằng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo băi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư tất vào. Mùa thu nước ḍng cạn, chảy rút về hướng đông, bị một ngọn sóng đưa đi thuyền có thể trôi xa cả trăm dặm; sức gió chẳng mạnh, sợ có hiểm hoạ Trường Sa.”[13][14]

Năm 1698: Quần đảo trở nên nổi tiếng trong các biên niên sử hàng hải với vụ đắm tàu Amphitrite dưới thời vua Louis XIV trong khi đi từ Pháp sang Trung Quốc.[15]

 

Năm 1753: Có 10 người lính của Đội Bắc Hải đến quần đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, c̣n 2 người th́ ở lại canh thuyền. Th́nh ĺnh cơn băo tới và thuyền bị trôi dạt đến cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Chính quyền Trung Hoa cho điều tra, và khi biết các sự kiện, đă cho đưa 2 người lính Việt Nam về. Lê Quư Đôn viết: “Tôi đă từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Càn Long thứ 18 (1753), có 10 tên quân nhân xă An Vĩnh tổng Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngăi nước An Nam, một ngày tháng 7 đến Vạn lư Trường Sa t́m kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ t́m kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán...”.[10][16]

 

Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ tŕnh.[17]

 

 

Hai trang sách Đại Nam Thực lục Chính biên (大南實錄), bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, viết về việc Nhà Nguyễn Việt Nam chính thức xác lập chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa với tư cách là một quốc gia, gồm: 01 trang ở Đệ nhất kỷ quyển 52 và 01 trang ở Đệ nhị kỷ quyển 122.

 

Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên pḥng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

 

Năm 1847-1848: Quản lư hành chính các đảo được duy tŕ nhằm giúp đỡ các cuộc hải tŕnh và cũng để thu thuế ngư dân trong vùng.[18](*)

 

 

Lịch sử TRƯỜNG SA

 

 

Sự thay đổi nhận thức về các đảo và quần đảo trên biển Đông của Phương Tây (châu Âu) từ thế kỷ 18 sang thế kỷ 19 (1710-1794-1801-1826).

 

 

Bản sao bản đồ Biển Đông và vùng Đông Nam Á của Matteo Ricci, vẽ trong “Khôn dư vạn quốc toàn đồ“ in tại Trung Quốc năm 1602, về sau được người Nhật Bản ghi thêm ḍng chú thích bằng chữ Hán “ (Vạn Lí Trường Sa).

 

Từ thế kỷ 16 đến 18, người châu Âu từ các quốc gia như Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh Quốc Pháp vẫn chưa phân biệt rơ sự khác nhau giữa quần đảo Trường Sa với quần đảo Hoàng Sa. Trên bản đồ thường ghi I de Pracell như bản đồ Bartholomen Velho (1560), bản đồ Fernao Vaz Dourado (1590), bản đồ Van Langren (1595)... Cho đến năm 1787-1788, đoàn khảo sát Kergariou Locmaria mới xác định rơ vị trí của quần đảo Paracel (chính xác là quần đảo Hoàng Sa hiện nay) và từ đó người phương Tây mới bắt đầu phân biệt quần đảo Hoàng Sa ở phía bắc với một quần đảo khác ở phía nam, tức quần đảo Trường Sa.[40]

 

Tên gọi

 

Sang thế kỷ 18 thế kỷ 19 th́ các nhà hàng hải châu Âu thỉnh thoảng đi ngang qua vùng Trường Sa. Đến năm 1791 th́ Henry Spratly người Anh du hành qua quần đảo và đặt tên cho đá Vành Khăn là Mischief. Năm 1843 Richard Spratly đặt tên cho một số thực thể địa lư thuộc Trường Sa, trong đó có Spratly's Sandy Island cho đảo Trường Sa. Kể từ đó Spratly dần trở thành tên tiếng Anh của cả quần đảo.[41]

Đối với người Việt th́ thời nhà Lê các hải đảo ngoài khơi phía đông được gọi chung là Đại Trường Sa đảo. Đến thời nhà Nguyễn triều vua Minh Mạng th́ tên Vạn Lư Trường Sa (萬里長沙) xuất hiện trong bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ của Phan Huy Chú. Bản đồ này đặt nhóm Vạn Lư Trường Sa ở phía nam nhóm Hoàng Sa (黄沙). Về mặt địa lư th́ cả hai nhóm đều được khoanh lại thành một quần đảo lớn nằm dọc bờ biển miền trung nước Đại Nam.[42] (*)

 

 

HOÀNG SA – TRƯỜNG SA

Chủ quyền bất khả tranh cải của Việt Nam

 

 

SỰ THỰC VỀ CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM TẠI HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

 

Như trên đă tŕnh bày, Trung Hoa khi bắt đầu khảo sát Tây Sa vào năm 1909 đă cho rằng Tây Sa là vô chủ. Năm 1898, chính quyền Quảng Châu, Trung Hoa đă trả lời các khiếu nại của Công sứ Anh ở Bắc Kinh về việc những người Trung Hoa ở Hải Nam cướp phá các tàu Bellona của Đức (bị đắm năm 1895) và tàu Humeji- Maru của Nhật (bị đắm năm 1896) do Công ty Bảo hiểm người Anh bảo hiểm, rằng: “quần đảo Tây Sa là những ḥ̣n đảo bị bỏ rơi, chúng không phải sở hữu của cả Trung Hoa lẫn An Nam, cũng không sáp nhập về hành chánh vào bất kỳ quận nào của Hải Nam và không có nhà chức trách nào chịu trách nhiệm về cảnh sát của chúng”. [Monique Chemillier - Gendreau, sđd, p.158].


Đến khi Pháp bắt đầu đưa ra những bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam, Trung Hoa hồi đó và Trung Quốc bây giờ lại luôn luôn nói rằng Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) đă thuộc về Trung Quốc từ lâu, bất khả tranh nghị, khi th́ nói từ đời Minh, khi th́ nói từ đời Tống. Sự thực thế nào?


Sự thực là quần đảo Hoàng Sa không hề là vô chủ như luận điểm của chính quyền Trung Hoa năm 1909: Các tư liệu chứng minh chủ quyền của Việt Nam đă xuất hiện liên tục qua các đời, từ đầu thời Chúa Nguyễn (tức đầu thế kỷ XVII), sang thời Tây Sơn rồi tới triều Nguyễn (từ vua Gia Long), Việt Nam có khoảng gần 30 tư liệu các loại, không ít ỏi như thư của Toàn Quyền Pasquier gửi cho Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa ngày 18-10-1930, mà đă khẳng định chủ quyền của Việt Nam hết sức rơ ràng.


Thời kỳ Đại Việt, từ thời kỳ Nam Bắc phân tranh và thời Tây Sơn, nguồn tư liệu về Hoàng Sa hầu như chỉ c̣n lại tư liệu của chính quyền họ Trịnh ở Bắc Hà, chủ yếu là “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”, “Toản tập An Nam lộ” trong sách “Thiên hạ bản đồ”, trong Hồng Đức bản đồ năm 1686 và Phủ biên tạp lục năm 1776 của Lê Quư Đôn.


Trong “Thiên Nam tứ Chí lộ đồ thư” hay “Toản tập An Nam lộ”, năm 1686 có bản đồ là tài liệu xưa nhất, ghi rơ hàng năm họ Nguyễn đưa 18 chiến thuyền đến khai thác ở băi Cát Vàng. C̣n tư liệu trong Phủ biên tạp lục của Lê Quư Đôn, năm 1776 là tài liệu cổ, mô tả kỹ càng nhất về Hoàng Sa, quyển 2 có hai đoạn văn đề cập đến việc Chúa Nguyễn xác lập chủ quyền của Đại Việt tại Hoàng Sa bằng hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải.


Sang thời kỳ triều Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1909, có rất nhiều tài liệu chính sử minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:


- “Dư địa chí” trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1821) và sách Hoàng Việt địa dư chí (1833). Nội dung về Hoàng Sa của hai cuốn sách trên có nhiều điểm tương tự như trong Phủ biên tạp lục của Lê Quư Đôn cuối thế kỷ XVIII.


- Đại Nam thực lục phần Tiền biên, Quyển 10 (soạn năm 1821, khắc in năm 1844) tiếp tục khẳng định việc xác lập chủ quyền của Đại Việt cũng bằng hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải.


- Đại Nam thực lục chính biên Đệ nhất kỷ (khắc in năm 1848); Đệ nhị kỷ (khắc in xong năm 1864); Đệ tam kỷ (khắc in xong năm 1879) có cả thảy 11 đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều nội dung mới, phong phú, rất cụ thể về sự tiếp tục xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


- Tài liệu rất quí giá, là châu bản triều Nguyễn (thế kỷ XIX), hiện đang được lưu trữ tại kho lưu trữ trung ương 1 ở Hà Nội. Ở đó người ta t́m thấy những bản tấu, phúc tấu của các đ́nh thần các bộ như Bộ Công, và các cơ quan khác hay những dụ của các nhà vua về việc xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn như việc văng thám, đo đạc, vẽ họa đồ Hoàng Sa, cắm cột mốc… Năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có chỉ đ́nh hoăn kỳ văng thám, sau đó lại tiếp tục.


- Trong bộ sách Đại Nam nhất thống chí (1882 soạn xong, 1910 soạn lại lần hai và khắc in) xác định Hoàng Sa thuộc về tỉnh Quảng Ngăi và tiếp tục khẳng định hoạt động đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản…


Ngoài ra các bản đồ cổ của Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đều vẽ băi Cát Vàng hay Hoàng Sa và Vạn Lư Trường Sa trong cương vực của Việt Nam.


Đặc biệt nhất sự kiện năm 1836 Vua Minh Mạng sai Suất đội thủy binh Phạm Hữu Nhật, người gốc đảo Lư Sơn chỉ huy thủy quân đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sau đó thành lệ hàng nămĐại Nam thực lục chính biên Đệ nhị kỷ, Quyển 165 cũng đă chép rất rơ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu vua hàng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy tŕnh, vẽ bản đồ và c̣n cắm cột mốc, dựng bia. Châu bản tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đă nêu rất rơ: “Mỗi thuyền văng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc”.Đại Nam thực lục chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 6 c̣n ghi rơ : “Vua Minh Mạng đă y theo lời tâu của Bộ Công sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mỗi bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mỗi bài khắc những chữ: “Minh Mạng thập thất niên Bính Thân thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật phụng mệnh văng Hoàng Sa tương đồ chí thử hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.


(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).


V́ sự kiện trên đă thành lệ hàng năm, nên Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1851), Quyển 207, tờ 25b-26a và Quyển 221 đă chép lại việc dựng miếu, dựng bia đá, cắm cột mốc năm 1836 và lệ hàng năm phái biền binh thủy quân đi văng thám, vẽ bản đồ…Về những tư liệu của Trung Quốc minh chứng chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, người ta thấy:
 

- Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696. Trong Quyển 3 của Hải ngoại kỷ sự đă nói đến Vạn Lư Trường Sa khẳng định Chúa Nguyễn đă sai thuyền ra khai thác các sản vật từ các tàu đắm trên quần đảo Vạn Lư Trường Sa.


- Các bản đồ cổ Trung Quốc do chính người Trung Quốc vẽ từ năm 1909 trở về trước đều minh chứng Tây Sa và Nam Sa không thuộc về Trung Quốc.


Khảo sát tất cả bản đồ cổ của Trung Quốc từ năm 1909 trở về trước, người ta thấy tất cả bản đồ cổ nước Trung Quốc do người Trung Quốc vẽ không có bản đồ nào có ghi các quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Tất cả bản đồ cổ ấy đều xác định đảo Hải Nam là cực Nam của biên giới phía Nam của Trung Quốc.


Sau khi Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa tháng 1/1974, nhiều đoàn khảo cổ Trung Quốc đến các đảo thuộc quần đảo này và “phát hiện” nhiều cổ vật như tiền cổ, đồ sứ, đồ đá chạm trổ trên các ḥn đảo này, song đều không có giá trị ǵ để minh xác chủ quyền Trung Quốc, trái lại họ lại phát hiện ở mặt Bắc ngôi miếu “Hoàng Sa tự” ở đảo Vĩnh Hưng, tức đảo Phú Lâm (Ile Boisée) bằng chứng hiển nhiên vết tích của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam.Về những tư liệu Phương Tây cũng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

 

- Nhật Kư trên tàu Amphitrite (năm 1701) xác nhận Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam.

 

- Le Mémoire sur la Cochinchine của Jean Baptiste Chaigneau (1769 – 1825) viết vào những năm cuối đời Gia Long (hoàn tất năm 1820) đă khẳng định năm 1816 vua Gia Long đă xác lập chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Paracels.
 

- Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes của Giám mục Taberd xuất bản năm 1833 cho rằng Hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816.
 

- An Nam đại quốc họa đồ của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838, phụ bản của cuốn từ điển La tinh – Annam, ghi rơ «Paracels seu Cát Vàng» với tọa độ rơ ràng như hiện nay chứ không phải như Trung Quốc cho là ven bờ biển. («Seu» tiếng la tinh có nghĩa «hay là», Cát Vàng: chữ nôm, Hoàng Sa: chữ Hán).
 

- The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol VI đă đăng bài của Giám mục Taberd xác nhận vua Gia Long chính thức giữ chủ quyền quần đảo Paracels.
 

- The Journal of the Geographycal Society of London (năm 1849) GutzLaff ghi nhận chính quyền An Nam lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ để thu thuế ở Paracels.


Về sau Trung Hoa đưa ra những bằng chứng ngụy tạo nói ngược lại luận điệu ban đầu xem là đất vô chủ (1909) mà cho rằng Tây Sa đă thuộc Trung Quốc từ lâu. Ngay tên Tây Sa và Nam Sa cũng mới đặt từ sau năm 1907, và Nam Sa lại bất nhất khi chỉ Trung Sa, khi chỉ Nam Sa ở vị trí hiện nay (Spratleys).


Sự thực chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa đă rơ ràng như trên. Khi bị Trung Hoa xâm phạm, vào thời điểm ban đầu, với tư cách là người đến xâm chiếm thuộc địa, người Pháp chưa hiểu hết lịch sử chủ quyền lănh thổ Việt Nam nên có lúc đă không lên tiếng bảo vệ kịp thời. Tuy nhiên, không lâu sau đó, chính quyền thực dân Pháp đă có đủ thông tin và thay đổi quan điểm, bảo vệ chủ quyền cho Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.


Sự thực là bất cứ chính quyền nào, kể cả chính quyền thuộc địa chịu trách nhiệm về quản lư Hoàng Sa và Trường Sa, chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.


Nguyên nhân chủ yếu khiến cho Trung Quốc tranh chấp chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa chính là Việt Nam đă bị Pháp đô hộ và chịu ảnh hưởng những biến động chính trị quốc tế cũng như quốc nội, nhất là từ thời chiến tranh lạnh và sau này và tham vọng bành trướng mở rộng lănh thổ bằng vũ lực.


Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đă quá rơ ràng, nên giải pháp phải là “cái ǵ của César phải trả lại cho César”.


Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào, dù khác chính kiến đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử đă chứng minh dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, cuộc đấu tranh sẽ thành công. Đối với các nước Asean, trên cơ sở Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, sẽ tương nhượng trong tinh thần hợp tác giữa các thành viên trong khối, đôi bên đều có lợi.


Việt Nam và Trung Quốc núi liền núi, sông liền sông, đă có những bài học lịch sử quư giá. Việt Nam với truyền thống hàng ngàn năm luôn kiên quyết bảo vệ quyền độc lập tự chủ của ḿnh, song luôn luôn tôn trọng nước đàn anh Trung Quốc, luôn theo truyền thống làm “phên dậu của Trung Quốc”, không bao giờ làm hại đến quyền lợi Trung Quốc.


Bất cứ giải pháp nào dựa vào sức mạnh như người Nhật đánh chiếm bằng vũ lực Hoàng Sa, Trường Sa năm 1938, 1939 cũng như Trung Quốc dùng vơ lực năm 1974 chỉ mang tính nhất thời, không có giá trị pháp lư. Có đế quốc nào mạnh như đế quốc La Mă thời Cổ đại hay đế quốc Mông Cổ thời Trung đại, hay đế quốc Anh, Pháp thời cận đại, rồi có ngày cũng suy yếu, phải bỏ những lănh thổ chiếm giữ bằng vũ lực.


Bất cứ giải pháp nào muốn vững bền phải dựa trên sự thực lịch sử, nhà nước Việt Nam đă chiếm hữu thật sự trước tiên tại Hoàng Sa và Trường Sa từ lúc chưa có ai tranh chấp, và phải dựa vào trật tự thế giới hiện hành khi có Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945 và những Nghị quyết của Liên hiệp quốc sau đó, cùng với Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.


Mọi người kể cả người Trung Quốc phải thấy rơ sự thật lịch sử trên!


Việt Nam phải luôn luôn nhắc đi nhắc lại cho cả thế giới được biết rằng vụ Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974, Trường Sa năm 1988 là trái phép hoàn toàn, trái với Hiến chương và các nghị quyết của Liên hiệp quốc. Không thể để cho Trung Quốc coi vụ chiếm đóng Hoàng Sa như đă xong. Khi nội lực Việt Nam chưa đủ mạnh th́ dứt khoát không kư kết bất cứ một hiệp định nào gây sự thiệt hại cho Việt Nam.


Việc cần làm ngay là phải quảng bá rộng răi lịch sử về chủ quyền của nhà nước Việt Nam đới với Hoàng Sa và Trường Sa, và xây dựng nội lực Việt Nam vững mạnh, đoàn kết hùng cường.


Cuộc đấu tranh đ̣i lại Hoàng Sa cho Việt Nam cũng như sự bảo toàn quần đảo Trường Sa là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định sẽ thành công cũng như Việt Nam đă từng giành được độc lập tự chủ dù bị phong kiến phương Bắc đô hộ hơn một ngàn năm.

 


Hàn Nguyên Nguyễn Nhă

 

* Tiến sĩ Sử học, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam.


Sự thực lịch sử về chủ quyền và những hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự tranh chấp cùng nguyên nhân xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đă quá rơ ràng, nên giải pháp phải là “cái ǵ của César phải trả lại cho César”. Bất kỳ chính quyền nào cũng như bất cứ người Việt Nam nào, dù khác chính kiến, đều coi trọng việc lấy lại Hoàng Sa về với Việt Nam và bảo toàn toàn vẹn Trường Sa. Lịch sử đă chứng minh dù có hàng ngàn năm bị lệ thuộc rồi cũng có ngày với sự kiên cường, bất khuất, cuộc đấu tranh sẽ thành công.

 

 

T.S. Nguyễn Nhă

 

 

Trường Ca Hoàng Sa Trường Sa

 

 

 

Tôi, cán bộ Hành chánh Quốc gia

Được huấn luyện và phục vụ

Suốt hai nền Cộng Ḥa

Cho đến ngày mất nước đi tù VC

 

Là người làm việc Hành chánh

Biết rất rơ có ba Sắc lịnh -Nghị định

Do Chánh phủ VNCH ban hành

Qui định địa giới hành chánh

 

HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA, TRƯỜNG SA

Là Lănh thổ Việt Nam Cộng Ḥa

 

Hoàng Sa nằm trên vỉ tuyến

Ngang với Tỉnh Quảng Nam

Nên thuộc địa phận Tỉnh nầy

Chịu trách nhiệm quản trị

 

Trường Sa cùng vỉ tuyến Tỉnh Bà Rịa

Địa giới và quản trị HC thuộc Tỉnh nầy

Sau cải tổ Hành chánh

Trường Sa là Đặc Khu HC thuộc Tỉnh Gia Định

 

Trên đây là thể chế Hành chánh

Sau đây việc thi hành

Hoàng Sa do một Đại Đội Địa

Phương Quân trấn giữ

 

Từng định kỳ viên chức Hành chánh

Thuộc hai Tỉnh kể trên

Vẫn tháp tùng tàu HQ vận lương

Ra thị sát việc Hành chánh và dân t́nh

 

HAI ĐẶC KHU HÀNH CHÁNH

HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

 

Có người bạn Hải quân kể cho nghe

Cảnh trí tuyệt đẹp trên hai Hải Đảo

Nhiều giống chim chóc lạ và đẹp

Bay lượn thong dong trên bầu trời Tự Do

 

Riêng tại Đảo lớn Hoàng Sa

Băi phân chim rộng lớn và thật dày

Có thể lập nhà máy biến chế Phốt phát

Dân sở tại được thêm chút huê lợi

 

Việc Hành chánh, việc dân mới ổn định

Khinh tốc đỉnh Trung cộng đă ào tới

Ngày ngày biểu dương uy hiếp

Đại đội Địa Phương quân trú pḥng

 

Bốn chiến hạm VNCH được phái tới

Tăng cường bảo vệ Hoàng Sa

Khinh tốc đỉnh Tàu cộng tối tân, hỏa lực mạnh

Đánh ch́m ngay một chiến hạm ta

 

Hải quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà vị quốc vong thân

Binh sĩ thuộc quyền lớp tử vong, lớp bị bắt sống

 

Chánh phủ VNCH trong cơn bối rối

Liền phái ngay Ngoại trưởng Vương Văn Bắc

Sang Hoa Thạnh Đốn cầu viện

Chỉ nhủn nhặn cầu xin việc nhỏ xíu

 

Cấp cho ngay một phi đội phi cơ Phantom

Để Không Quân VN triệt hạ

Đám khinh tốc đỉnh phỉ Tàu

Câu phúc đáp thật là chua chát

 

Vũ khí, quân cụ được cấp cho đó

Là để chống Cộng sản Bắc Việt

Chớ đâu phải để chọc ghẹo NƯỚC LỚN TÀU

Thôi mau về tự lo liệu đi

 

Những ngày tù đày trên rừng núi Hoàng Liên

Những khi phẩn chí Hải quân Trung tá Phát (?)

Dùng tiếng Đức ngùng ngoằn kể

Đánh chác cái mẹ ǵ khi họ a ṭng xếp đặt cả rồi

 

Đám Hải quân tụi tui bị bắt sống

Đem về ngay Thành Phố Thượng Hải

Cho tạm trú ngay Trường học sở tại

Sáng sớm phát mỗi đứa hai trăm NDT

 

Cho tự do ra ngoài phố cơm nước, tiêu xài

Chiều về, lục túi, tiền c̣n dư, lấy lại

Sáng mai lại phát hai trăm, xài tiếp

Cứ thong dong như vậy cho đến ngày

 

C130 Không lực Hoa Kỳ

Đáp xuống Thành Phố Thượng Hải

Rước “Quí vị Tù binh” về xứ

Chúc quí vị thượng lộ b́nh an

 

Sướng vậy, sao quan năm c̣n sạc tiếng Đức?

Là sĩ quan QLVNCH, biết rơ nước sắp mất rồi

Nhưng v́ TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM

Biết đánh chác cái mẹ ǵ nhưng vẫn đánh, thế thôi

 

Cậu tôi là chiến sĩ Liên Tôn Phục Quốc

Ngày nay không c̣n nữa

Thưở sanh tiền thường dặn cháu:

“Ḿnh là con dân đất nước,

Thấy “Việc Nghĩa” hết ḷng làm

Nên hư, thành bại trời đất biết”

 

Ngày nay trước vận nước ngặt nghèo

Bên trong lũ quan lại VC hư hèn, nhu nhược

Bên ngoài Tàu phù lẫy lừng uy hiếp

Toàn dân khốn khổ biết tính lẽ nào?

 

Sách có chữ rằng:

Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên

Nhưng lại cũng có câu rằng:

Tận nhân lực, tri thiên mạng

 

Nếu toàn dân đồng ḷng, vùng lên lật đổ ách quỉ Cộng

Thành lập Chánh Phủ ĐOÀN KẾT QUỐC GIA

Trên dưới cùng một ḷng theo truyền thống DIÊN HỒNG

Ắt có câu trả lời khẳng định: Hoàng Sa Trường Sa là của ai?

 

HAI MĂNH VIỆT NAM TRÔI GIẠT

NỔI CH̀M TRÊN BIỂN ĐÔNG LÀ

 

LĂNH THỔ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

 

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính