Em đọc Sử Việt:

Huyền Sử Việt Nho

 

 

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nḥa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nḥa Tinh thần Dân tộc v́ chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn măi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.

 

Để chống lại âm mưu xóa nḥa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ vơ toàn dân đọc Sử Việt.

 

 

Khi Tổ tiên Việt đóng dấu trên Kinh Dịch

 

LĨNH NAM TRÍCH QUÁI VỚI HUYỀN SỬ VIỆT NHO

Khi Tổ tiên Việt đóng dấu trên Kinh Dịch

(Dịch Kinh linh thể: Kim Định. Tr. 9 – 26)


“Đánh dấu một vật là ghi nhận vật đó thuộc về ḿnh, cho nên nói Việt tộc đóng dấu trên Kinh Dịch hay nói Kinh Dịch của Việt Nam cũng đồng một ư. Cả hai câu này thoạt nghe sẽ dễ bị hiểu như một câu nói khôi hài vô duyên, nhưng có thể tha thứ v́ phát xuất từ một ḷng ái quốc quá trớn nên đâm ra nói nhàm. Sở dĩ có thế nghĩ như thế, v́ hiện trạng là thế, nghĩa là Kinh Dịch hiện nay là của Tàu chớ không phải là của Việt Nam, nên trong bao nhiêu ngàn năm có người Việt Nam nào dám đả động tới Kinh Dịch.

 

Đó là việc mới được làm gần đây và tất nhiên cũng lại học theo lối Tàu lối Tây, chứ đă có ai đọc theo lối của nó. Phải là chủ cũ của nó mới đọc được và chủ cũ của nó tôi bảo là người Việt.

 

Kinh Dịch là của người Việt, v́ Tổ tiên của ta đă đóng dấu trên nó và hôm nay xin mời bạn cùng tôi đi nhận lại dấu. Xin báo trước là dấu đóng đă lâu đời nên phai mờ nhiều quá không thể dương hai mắt ốc bưu ra mà thấy được, phải dùng tia sáng hồng ngoại ǵ đó mới trông nhận ra. Bạn nào không thích thứ ánh sáng lung linh “hốt hề hoảng hề”, xin ở lại nhà, v́ không có lối nào khác.

 

Con dấu đă bị phai mờ không những v́ đă quá lâu, mà c̣n bị bôi cọ đi do người ăn cắp. Ai ăn cắp? Thưa là Trọng Thuỷ từ Bắc phương mà tới.Nhưng sao lại dám đổ oan như vậy? Thưa là v́ có vụ văn tự tuy đă phai nhưng c̣n đọc được như sau:

“Thần Kim Quy cho An Dương vương cái vuốt để làm nỏ thần nhờ đó đánh bại được Triệu Đà. Đà biết thế nên sai con là Trọng Thủy cầu hôn con gái An Dương Vương là Mỵ Châu để đánh cắp cái vuốt rùa, và Trọng Thủy đă thành công đánh lừa được Mỵ Châu đổi lấy nỏ thần đem về Bắc, rồi thay vào bằng cái nỏ giả làm vuốt rùa”.

 

Câu truyện này ai cũng thuộc ḷng, nhưng không mấy ai nghĩ rằng đó là câu chuyện thật đă gây nên một ảnh hưởng quyết liệt trên sử mệnh Việt Nam hơn bất cứ câu chuyện nào có chứng tích lịch sử cụ thể. V́ nó c̣n ảnh hưởng đến đời chúng ta hiện nay, khiến chúng ta đang điêu đứng v́ Cộng sản hay các tư trào khác, bởi v́ chúng ta không c̣n Hồn Nước nữa! Cái hồn đó là móng chân Kim Quy đă bị đánh tráo mất rồi.

 

Sự đánh tráo này quả là một biến cố tương đương với tội A Dong E Và bên trời Tây, v́ nó làm cho lịch sử rẽ sang một lối khác, nó ghi dấu một sự mất nền tảng tức là mất cái Đạo làm Người.

 

Đạo Người là Thiên Địa chi đức, được biểu thị trong con rùa có lưng tṛn tượng Thiên, 4 chân tượng Địa. Vuốt chân rùa chính là tinh hoa của cái Đạo Trời Đất, tức cũng là Nhân đạo. Cái nhân đạo đó đă bị Hán Nho choán mất chỗ và nước Việt Cổ đại của Hồng Bàng đă chấm dứt với Triệu Đà. Cái nước Việt Nam do Triệu Đà khai sáng không c̣n là nước lư tưởng Văn Lang nữa.

 

Người Việt Nam đă bị đuổi ra khỏi nước lư tưởng kia rồi, và hiện nay có c̣n nói bốn ngàn năm văn hiến th́ cũng chỉ là biểu lộ một tấm ḷng hoài cổ về một nơi xa xôi ở măi tận xa xưa, chẳng c̣n mấy âm vang trong ḷng, nên không c̣n được hiệu lực nào nữa. Tuy nhiên có điều khác với cảnh huống A Dong E Và, v́ hai ông bà không những bị đuổi ra khỏi địa đàng, nhưng c̣n bị một thiên thần coi chừng không cho trở lại cây hằng sống, c̣n chúng ta “ Ai bắt được ngọc châu Đông Hải (hiểu là triết Đông) mà múc nước giếng Mỵ Châu lên rửa, th́ càng rửa, sắc ngọc càng thêm rực rỡ “. Biết đâu nó sẽ rực rỡ đủ để soi đàng cho chúng ta trở lại được Văn Lang.

 

 

Văn Lang là ǵ ?

 

Thưa là nước lư tưởng nhất v́ được cai trị (trị thuỷ) theo đúng tinh thần Kinh Dịch là Âm Dương hoà. Âm là Địa, Dương là Thiên , ḥa là Nhân.

 

Nói đến Âm Dương hoà là nói đến trạng thái con người chưa ly tính, chưa vong thân, vẫn c̣n sống cái sống tràn đầy viên măn của Người. Có ai sống trong đó chưa th́ khó mà biết, v́ không một Lịch sử nào nói tới. chỉ có Huyền sử, mà Huyền sử th́ không những nói đến hôm xưa mà nói đến truyện hôm nay và ngày mai, nghĩa là nói đến lư tưởng của con Người muôn thuở.

 

Khi cái lư tưởng ấy chung cho nhiều người một nước một phương th́ tôi gọi là sử mệnh, hiểu như thế và quay trở lại câu hỏi đă có một nước Văn Lang chăng, đă có ai sống trong nước ấy chưa, th́ tôi thưa rằng đă có, và những người sống trong nước đó là Phục Hy và Nữ Oa.

 

Hai ông bà tiên Tổ này đă hiện thực đúng câu “ Thiên Địa chi đức “, v́ ông nắm cái Củ () : Địa phương), c̣n bà bế cái Quy (┼): Thiên viên: . Vuông Tṛn th́ trái ngược, ấy thế mà đuôi hai nguyên Tổ lúc nào cũng “ Giao chỉ “ xoắn xuưt để viết lên chữ Văn () Sơ thủy . V́ chữ Văn gồm hai nét Đất Trời giao hội, nét phẩy (丿) chỉ Đất và nét mác () chỉ Trời quay ngược chiều nhưng cả hai đều nằm dưới bộ đầu, nhưng cả hai đều nằm dưới bộ đầu ( : không có nghĩa chi cả) và nhờ đó thiết lập được một hoàng kim thời đại kêu là B́nh Văn, nghĩa là nền thái b́nh do Văn trị. Đấy là cảnh trí của nước Văn Lang của Việt Nho nguyên thuỷ, trải khắp địa vực nước Trung Hoa cổ đại. Thế rồi, một ngày kia văn minh Du mục của Tây Bắc dưới quyền điều khiển của Hoàng Đế đă vào chiếm đất, chiếm người và chiếm luôn cả đạo Dịch. Sự chiếm Kinh Dịch ở đây có nghĩa là sự chấp nhận. Sự chấp nhận này được báo hiệu bằng vua Đế Nghi có nghĩa là thích nghi với đạo Dịch.

 

Đế Nghi cùng với Lộc Tục là con của cha Đế Minh lấy mẹ Vụ Tiên. Đây là đôi nguyên Tổ thứ hai sau Nữ Oa Phục Hy, nói thứ hai là tính theo biến tŕnh biến dịch đi từ đồng nhất vào đường phân biệt, nên cặp thứ hai đă nói tới chồng Bắc vợ Nam. Nhưng c̣n là Bắc Nam của chung một nền văn hoá nông nghiệp.

 

Chưa đến giai đoạn Bắc Du mục Nam nông nghiệp như Trọng Thuỷ và Mỵ Châu. Ở đây Đế Minh là cháu Thần Nông mà lấy Tiên nữ nước Việt cũng thờ Thần Nông th́ nhất định tinh thần Văn Lang vẫn duy tŕ đẹp đẽ: hai nét Âm Dương giao hội như thường. Những sự việc trở nên rắc rối dần do ngành phía Bắc là Đế Nghi. Bởi v́ Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai, ông này nhân nhớ lại việc ông nội ḿnh là Đế Minh tuần thú phương Nam gặp Tiên, nên cũng bỏ nhà đi tuần thú phía Nam nhưng thay v́ gặp Tiên lại mất Tiên, Tiên đó là Âu Cơ.

Âu Cơ là vợ của Đế Lai lẽ ra phải khăng khít cuốn lấy đuôi vợ như Phục Hy đă làm, đàng này Đế Lai đă bỏ vợ đi chu du cùng khắp nước Việt. Như vậy là dọn đường cho tội Tổ hon xẩy ra. Tội Tổ hon là Âm Dương ly biệt.

 

Vậy sự ly biệt đó đă xẩy ra khi Trọng Thủy bỏ vợ ra đi với cái vuốt thần và như thế cái nỏ c̣n lại không phải là nỏ thần, mà An Dương Vương vẫn tưởng là thần y như thế giới hiện nay kêu là thần nhưng chẳng có chút thần nào hết. Sự lầm tưởng đó cũng là phát nguồn từ tội Tổ tong lẫn vật chất làm tinh thần. Tuy nhiên tội Tổ hon bên Đông phương nhẹ hơn bên Tây phương v́ nhiều lẽ : Lẽ đầu tiên không do các bà mà do phía các ông. Bên Tây bà E Và ra ngoài, c̣n bên này Trọng Thủy là đực rựa, đàn ông mà chạy việc ngoài là trúng. Nhưng trúng mà vẫn có tội v́ chỗ quá đáng là “ nước đi măi không về cùng non “.

 

Đế Lai không về cùng Âu Cơ có nghĩa là văn minh Bắc phương chuộng “b́nh Vơ “ hơn “ b́nh Văn “, nên tỏ ra lơ là với nền minh triết đại biểu bằng Âu Cơ (nền vàng: trung dung). Nhưng minh triết chưa chết bởi v́ có Lạc Long Quân đến với Âu Cơ và Âu Cơ lại đam mê Lạc Long Quân. Mê là phải v́ Minh triết nông nghiệp đă phát xuất từ phương Nam, mang nặng tính chất nhu ḥa phương Nam, v́ đó mà bị chồng phương Bắc lơ là, nhưng lại t́m được t́m được quê ngoại cái môi trường thuận lợi hon ó, nhờ đó nó trở nên Nữ Hoàng cai trị mọi ngành văn hóa trong nước: “ La philosophie doit être la Reine des sciences : Triết phải là bà Chúa các khoa “. Điều ấy đă được hiện thực trong nước Văn Lang nơi mà Lạc Long Quân chơi vai tṛ mờ nhạt, c̣n chính chủ tịch lại là Âu Cơ.

 

Huyền sử chép rằng: Trong nước không có vua nên Âu Cơ cùng với bộ chúng thị thiếp ở lại hành tại. Khoa xă hội gọi đây là thời mẫu hê và đa phu, v́ Âu Cơ có hai chồng là Đế Lai và Lạc Long Quân. Tục Táo Quân có lẽ khởi đầu từ đây v́ trong ba đầu rau th́ có hai ông một bà.

 

Cái mà xă hội học kêu là mẫu hệ và đa phu th́ triết lư kêu là B́nh Văn tức thời Minh triết ngự trị, nên đáng gọi là một nước cai trị bằng văn hoá theo nghĩa cao quư nhất của hai cữ văn hoá: lấy văn mà cảm hoá. Huyền sử chép rằng: Lạc Long Quân nhận định với Âu Cơ rằng v́ vợ Bắc chồng Nam: “ phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu nên chia nhau con đi ở riêng, nhưng có việc th́ cùng nghe không được bỏ nhau.”

 

Tội Tổ hon đă manh nha ở chỗ Âm Dương không xoắn xuưt với nhau nữa, tuy nhiên chưa đến bước quyết liệt, nên c̣n hẹn “ hễ có việc th́ cùng nghe, không được bỏ nhau “.

 

Nhờ đó mà nước vẫn c̣n là Văn Lang, dưới quyền Minh triết của Âu Cơ, v́ 50 con theo bố xuống thủy phủ không xuất hiện. Huyền sử chép rằng: “ 50 con theo cha xuống biển, 50 theo mẹ lên núi, tự suy tôn người trưởng lên làm vua hiệu là Hùng Vương, quốc hiệu là Văn Lang.


Nước Văn Lang : Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp Động Đ́nh Hồ. Nam đến nước Hồ Tôn “. Đó chỉ là bờ cơi của nền văn hoá phương Nam dưới quyền của Âu Cơ nghi mẫu, khác với phía Bắc đă bị phụ hệ chinh phục dần do Hoàng Đế: Óc pháp h́nh nổi hơn, không để cho Minh triết thấm nhuần.

Huyền sử chép rằng: “ Lạc Long Quân ở dưới thuỷ phủ, mẹ con Âu Cơ nhớ về Bắc quốc, liền đi lên biên cảnh, Hoàng Đế nghe tin lấy làm sợ, mới phân binh trấn giữ quan tái, mẹ con không về Bắc được”, tức văn hoá nông nghiệp không chiếm cứ lại được miền Bắc đă bị rơi vào tay văn minh Du mục.

 

Thế là hết cái nước Xích Quỷ, nước lan rộng khắp Trung Hoa cổ đại, mênh mông như một châu, nên cũng gọi là “ Thần châu xích huyện “, và tự Hoàng Đế trở đi th́ chỉ c̣n có Văn Lang tức từ miền Dương Tử Giang trở xuống mà thôi, mà cũng không c̣n thông thương được với miền Bắc nữa, v́ miền Bắc đă rơi hẳn vào quyền Du mục rồi.


Về phía Nam th́ Lạc Long Quân đă không xuất hiện, mà về phía Bắc th́ sự giao hội hai nền văn hoán rất hạn hẹp. Huyền sử gởi vào truyện Chức Nữ một năm được gặp Ngưu Lang có một lần vào đêm thất tịch (7/7), đă vậy sự gặp gỡ chẳng lấy ǵ làm vui vẻ, mà trái lại:


“Trong đêm gặp gỡ mơ màng khóc nhau

Tục truyền tháng bảy mưa ngâu

Con trời lấy đứa chăn trâu cũng phiền”

Đấy là hiểu sai Chức Nữ.

 

Cầu Ô thước

 

Chức Nữ có khóc v́ phải lấy đứa mục đồng đâu, nhưng khóc v́ nó không chịu giáo hóa, cứ dùng vơ lực mà chen lấn áp đảo hoài hoài, nên không c̣n thể về thăm quê Bắc được, đă vậy, từ đấy mẹ con Âu Cơ cứ phải bồng bế nhau di cư măi măi, chạy dài trên con đường Nam tiến.

 

Bởi v́ văn minh Du mục của Ngưu Lang đặc chuyên chú trọng h́nh thức và vơ lực nên rồi sẽ đàn áp được văn minh Nông nghiệp của phương Nam. Tuy nhiên c̣n phải qua biết bao nhiêu cuộc giao tranh.

 

Huyền sử c̣n ghi lại trong truyện Sơn Tinh và Thuỷ Tinh tranh nhau lấy con gái vua Hùng Vương tên là Mỵ Nương. V́ Sơn Tinh đến ban sáng nên lấy được Mỵ Nương. Thủy Tinh đến buổi chiều nên hàm oán đem cả loài thủy tộc đánh Sơn Tinh để cướp, Mỵ Nương, nhưng Sơn Tinh vươn lên, Thuỷ Tinh không làm chi được. Câu chuyện này tả lại lúc Văn Lang c̣n đang mạnh, nên c̣n chống cự nổi văn minh Du mục Bắc phương. Tuy chống cự nổi nhưng cũng chỉ trên con đường rút lui.

 

Và hầu chắc xung quanh giai đoạn này xẩy ra chuyện chữ “ Việt Mễ: () thay vào chữ “ Việt Tẩu () “để thích nghi với Thời Lữ.


Quẻ Lữ kép bởi quẻ Ly và Cấn: nên Lạc Long Quân nói với Âu Cơ là Nước Lửa bất đồng.

 

Sao Âu Cơ lên núi mà lại nói đến lửa do Thời Lữ vậy. Nước lửa bất đồng nhưng tinh thần Kinh Dịch mạnh nên vẫn c̣n giữ được nét tương sinh tương tức nằm ngầm, nên Lạc Long Quân nói với Âu Cơ có truyện ǵ th́ cùng nghe nhau, đó là “Văn Đạo”.

 

Nghe được nhau, v́ đây chưa đến giai đạn Bắc Nam đối kháng như sau thời Hoàng Đế đem văn minh Du mục vào, nhưng c̣n là văn hoá nông nghiệp: Và Âu Cơ tuy sinh ra ở Bắc nhưng là Bắc c̣n nằm trong tay Viêm tộc, nên Âu Cơ vẫn là biểu tượng nền Minh triết của Văn Lang. Chỉ tự đời Hoàng Đế th́ danh từ Bắc mới chỉ văn minh Du mục đầy óc hung hăng chiếm đoạt và Việt tộc mới hiện thức quẻ Lữ, và trở thành mũi dùi cho cuộc Nam tiến mang theo nền văn hoá Nông nghiệp đi cùng như sẽ đọc thấy trong truyện Hùng Vương.


Chỉ cần nói trước rằng tuy Việt tộc có tinh thần chống cự bất khuất nhưng đất đai có hạn: Nam tiến măi rồi cũng ngày đất hết phải gặp biến và lúc ấy chỉ c̣n phép như An Dương Vương “quay lại giết Mỵ Châu rồi cầm sừng văn tê bảy tấc, theo Kim Quy rẽ nước đi vào biển”.


Thế là hết nước Việt Nam như một Văn Lang, v́ chưng tội Tổ hon đă phạm rồi: không phải ăn một trái cấm như E Và mà trong lát gươm của An Dương Vương giáng xuống đầu Mỵ Châu: Thế là văn minh Tây Bắc đă giết chết nền văn hoá Nông nghiệp để rồi trở về với văn minh Tây Bắc. Tây tượng trưng bằng cái sừng văn tê bảy tấc, do An Dương Vương cầm để theo Kim Quy dẫn vào biển. Biển là nước, nước (Thủy) chỉ phương Bắc. C̣n số bảy chỉ phương Tây (theo Lạc Thư) và từ đấy “Nam thất (7) thắng Nữ Cửu (9). Óc Hán tộc đă bủa vây màng lưới trên cương vực Văn Lang, Bắc giáp Động Đ́nh Hồ. . .

 

Và v́ thế ngày nay không c̣n ai thấy được nước Văn Lang đâu nữa. Không trông thấy được v́ Việt Nho đă ngă quỵ dưới lát gươm oan nghiệt của Hán Nho.

Bạn sẽ hỏi về cái số kiếp của cái vuốt rùa của Trọng Thuỷ đă ăn cắp đưa về Bắc ra sao, có làm ích chi cho Hán tộc chăng? Thưa rằng: Không, nó cũng mất luôn với chủ nó:

Huyền sử chép rằng: Trọng Thủy hối hận về ác quả nên đă đâm đầu xuống giếng Mỵ Châu mà chết, v́ độc Dương bất sinh.

 

Sách Nhĩ Nhă chép về một Hoàng Đế kia có con chim Loan mà nhà vua rất quư mến, và chỉ ước ao được nghe tiếng nói của nó, nhưng không bao giờ được măn nguyện. Hoàng hậu mới bàn rằng: Tôi thường nghe nói chim sẽ hót khi thấy một con chim khác cùng giống. Tại sao bệ hạ không để nó đứng trước một tấm gương?

 

Nhà vua nghe lời bàn ấy, nhưng khi con chim loan thấy h́nh của nó liền hót lên những tiếng thật bi ai, đoạn đập cánh mà chết.Tại sao Loan chết v́ không có con đực là Phụng mà chỉ thấy h́nh hon của Loan. H́nh hon là biểu tượng là ư niệm làm sao có đối cực để làm nên biến dịch, mà thiếu biến dịch là chết cho nên Loan chết. Trọng Thủy thiếu Mỵ Châu là Dương thiếu Âm nên bất thành cũng lại chết. Loan phải đi với Phụng mới có khả năng “Loan Phụng ḥa minh”, c̣n nay “Loan phiêu Phượng bạt” th́ làm sao sống nổi mà chả chết.

 

Và đây là tội Tổ hon của Viễn Đông:

Cũng y như bên trời Tây, Trọng Thuỷ đă đem óc tính toán của Bắc phương đến làm nghẹt thở tinh thần phương Nam, khác nhau vài nét đặc biệt: Trước hết là Chồng đánh lừa vợ chứ như không bên Tây, vợ lừa chồng.

 

V́ đàn bà biểu thị Minh triết mà lại thủ vai đánh lừa th́ tội nặng hơn nhiều. Thứ đến văn hoá mẹ bên Viễn Đông đă chống chọi trải qua nhiều giai đoạn, cuối cùng mới bị thua và trước khi gục ngă c̣n cố gắng cứu văn t́nh h́nh như được ghi trong việc Âu Cơ trở về thăm Bắc phương mà bị Hoàng Đế ngăn chặn, hoặc trong trận Sơn Tinh Thủy Tinh tranh đua nhau.

 

Ở trận này tuy loại thủy tộc (phương Bắc) bị thua nhưng sơn tộc cũng bị hại.V́ thế cuối cùng đuối sức dần để gục ngă, nhưng chết mà vẫn c̣n lưu lại một cái giếng làm kỷ niệm.

 

Và việc trước hết của giếng là nó đă đón nhận Trọng thủy nhảy xuống đó tự tử. Vậy là Trọng Thủy chết, nhưng c̣n giữ được một điều là sống chết có nhau. Đúng hơn sống có nhau được một dạo c̣n chết th́ ở với nhau hoài trong một mồ gọi là Việt tĩnh, để làm như dấu vết, như con chấm đă đóng vào Kinh Dịch. Chính v́ Trọng Thủy và Mỵ Châu đă chết nên nước Văn Lang không c̣n và v́ thế mà hôm nay khi nghe nói đến con dấu Việt Nho đă đóng lên Kinh Dịch th́ như nghe một truyện tiểu thuyết.

 

Nghe như truyện tiểu thuyết v́ chúng ta đă đi hẳn vào nhị nguyên chỉ thấy có một một chiều, như vậy là không c̣n biết nh́n sự vật trong hai chiều, nói như Heidegger, chúng ta đă mất ư thức về nét Gấp Đôi, nên chỉ c̣n đi t́m những cái ǵ độc khối kiểu Duy Sử nên không hiểu nổi nét Gấp Đôi của Kinh Dịch nằm trong những trang Huyền sử của nước.

 

V́ thế chúng ta hăy cố gắng t́m trở lại những nét Gấp Đôi mà tôi gọi là con chấm của tiên Tổ đóng trên Kinh Dịch. Nét Gấp Đôi lớn lao hơn hết nằm trong Hà Đồ và Lạc Thư. Hà Đồ có thể gọi là con chấm của Bách Việt nằm từ vùng sông Hoàng Hà trở xuống. C̣n Lạc Thư là con dấu của Việt tộc, một ngành có tính chất đại diện hơn hết của Bắc Việt, cũng như Bắc Việt là đại diện nổi nhất của Viêm tộc.

 

Hà Đồ có 55 điểm tṛn, Lạc Thư có 45, cộng lại là 100 cái ṿng tṛn, gọi là 100 trứng, nhưng cùng nằm trong một bào thai do mẹ Âu Cơ đẻ ra. Mẹ Âu Cơ biểu thị quẻ Khôn chỉ bụng: “Khôn vi phúc” (Thuyết quái) hay nói cách khác Âu Cơ chỉ nền Minh triết của Dịch lư. Nền Minh triết này xây trên hai trụ Âm Dương là Trời và Đất: cũng gọi là ngang dọc hay thập tự nhai được bồng trong tay Nữ Oa, nay thay bằng Âu Cơ. Khi trị nước theo tinh thần đó th́ gọi là “Văn Lang” hay là “B́nh Văn”. Bao giờ cũng nên nhớ Văn là hai nét Trời Đất giao hội. V́ thế vua gọi là Hùng Vương và truyền 18 đời.

 

V́ có Hùng có Dũng lắm mới ở chỗ chí thiện là ngang dọc giao thoa, nét dọc là Càn 1, Khôn 8, cộng lại là 9, nét ngang là Ly 3 Khảm 6, cọng lại cũng là 9: hai lần 9 vi chi là 18. Đó là cương vị tiên thiên (nguyên lư) đến khi áp dụng th́ dùng hậu thiên, lúc ấy sẽ là: Ly 3, Khảm 6 là 9. Chấn 4 Đoài 2 là 6, cộng 9 với 6 là 15. V́ thế mà nước Văn Lang phải chia ra 15 bộ th́ mới hợp với sách của dân Lạc gọi là Lạc Thư gồm 9 lô mà cộng chiều nào cũng thành 15, nên gọi là Ma phương.

 

Khi đọc đến những tên Châu Diên (thuộc chim) Việt Thường (vươn tới chỗ Thường hằng), B́nh Văn (cai trị bằng Văn). . . th́ chớ nên t́m ở Sơn Tây, Quảng Trị. . ., đó là đợt sau mượn tên xưa để đặt cho đất mới, để làm kỷ niệm, chứ nước Văn Lang không ở đó, đúng hơn: Không chỉ có ở miền Bắc Việt, mà nó c̣n vươn lên đến bên kia bờ Dương Tử Giang, cũng như chữ Bạch Hạc th́ trước hết phải hiểu là “Tây Nam đắc bằng của quẻ Khôn”. Tây sắc trắng (bạch) Nam: Lông vũ là Hạc cũng như khi nói Lạc Việt th́ phải vươn trí khôn lên tận bờ sông Lạc vùng Lạc Dương th́ mới đạt tầm thước cân xứng với nội dung của Huyền sử.

 

V́ Huyền sử nước ta đă trải qua nhiều giai đoạn được ghi theo chu kỳ tiên thiên của kinh Dịch là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh được tŕnh bày theo 4 mùa như sau:

Xuân: Nguyên

Hạ: Hanh

Thu: Lợi

Đông: Trinh

 

NGUYÊN:
Nguyên là thời manh nha nó hợp với mùa Xuân. Đời nhà Tiền Lư (544 – 604) nước ta gọi là Vạn Xuân, có lẽ là để kỷ niệm thời nguyên sơ này. Đây là thời của Hồng Bàng Thị với vật tổ chim là vật tổ chính của Việt Nam, v́ trong Nguyệt Lệnh th́ phương Nam mục trùng là Vũ chỉ các loài chim


Loại quẻ Khôn chỉ Văn, “Khôn vi Văn” (thuyết quái). V́ thế khi nói tới Văn Lang hay Hồng bang th́ ta thường chỉ thị bằng Chim, bằng Tiên nữ, bao gồm cả Mẹ lẫn Chim. Câu nói “nhất điểu, nh́ xà, tam ngư, tứ tượng” thường được giải nghĩa theo lượng, tức là vật to lớn nhất là Chim, nh́ là Rắn. . . , nhưng đó là điều không thấy xẩy ra, dầu là giống cổ điểu Epiornis nay đă biến mất và người ta t́m được dấu vết ở Madagascar, trứng to hơn trứng gà 150 lần. Vậy nếu căn cú vào đó mà nói to hơn con gà 150 lần, th́ cũng nặng từ 1 tấn trở lại, c̣n lâu lắm mới bằng con cá voi nặng cả từng chục tấn. Cho nên câu nói trên của người Việt Nam nên hiểu theo nghĩa hon chỉ bốn giai đoạn nước Việt Nam cổ đại đă trải qua là Điểu, Long, Ngư, Tượng. Giai đoạn Nhất là Điểu cũng là văn minh Mẹ, nên ta thấy những cử chỉ gán cho Mẹ th́ cũng gán cho Chim, nếu Mẹ Nữ Oa đội đá vá trời th́ Chim cũng đội đá vá trời, Chim cũng ngậm ḥn lấp bể. . .và nếu sâu quá lấp không xuể như sông Ngân Hà th́ bắc cầu “Ô Thước”.
Vậy Chim là giai đoạn hoàn toàn Mẹ, giai đoạn của Điểu đi trước giai đoạn Rồng thuộc vật tổ thú, nên nói nhất Điểu nh́ Xà. Xà là Long, Long là giai đoạn hai, hay nói theo kinh Dịch là Hanh sau Nguyên.

 

HANH
Hanh thuộc mùa Hạ khi mặt trời phương Nam trút xuống những tia nắng chói, nên nước đặt tên là Nhật Nam, là Xích Quỷ. Hanh là hanh thông tức thời mà Sơn Tinh và Thủy Tinh c̣n kết nghĩa và Ngư Tinh chưa thành Ngư Tinh ăn thịt người nên Bắc Nam giao thông không ǵ ngảng trở. Huyền sử chỉ bằng Đế Minh (Bắc) lấy Vụ Tiên (Nam), Lạc Long Quân (Nam) lấy Âu Cơ (Bắc). Lúc ấy chưa xẩy ra truyện Âu Cơ về thăm quê Tổ bị Hoàng Đế ngảng đường.
Hoàng Đế đại biểu phương Bắc là thuộc hành Thủy. Thủy là nơi sinh sống của Cá, nên khi nói Ngư Tinh hay Thủy tộc th́ đều chỉ văn minh Du mục phương Bắc. Như vậy nói giai đoạn Ngư là nói đến sự ngự trị của tinh thần Du mục phương Bắc, chủ Lợi, thuộc giai đoạn Lợi đến sau Nguyên và Hanh.

 

LỢI
Lợi trong chu kỳ tiên thiên kêu là Mỹ Lợi (quẻ Kiền), nhưng nói đến lợi là rất dễ đâm hon lợi. V́ tư lợi nên Hoàng Đế ngăn không cho Âu Cơ về Bắc, v́ tư lợi Trọng Thủy đánh tráo vuốt rùa. V́ thế nền văn minh phương Nam c̣n cầm cự được là phải có đức Dũng cùng cực gọi là Hùng Vương, th́ có nghĩa là cần phải có một tinh thần can đảm phi thường, v́ thế nên tiền nhân ta nói về ngày 9 tháng 9 (trùng cửu) bằng câu nói “trùng cửu đăng cao”, th́ nghĩa đen chỉ lúc cao nhất trong mùa Thu, c̣n ư sâu xa là chỉ tinh thần bất khuất của Lạc Long Quân đă dám cầm khối sắt nung đỏ (tinh thần quẻ Ly phương Nam) ném vào miệng Ngư Tinh: chống văn minh Du mục, để duy tŕ văn hoá phương Nam. Nhờ đó mà văn hoá phương Nam vẫn c̣n sống được và nội dung là sự ḥa hợp Thủy, Hỏa, Mộc, Kim được giở vào một số truyện huyền sử như việc thi gia chánh của Hùng Vương với giải thưởng dành cho đôi bánh Dầy, bánh Chưng; cũng như trong truyện Chử Đồng Tử thôn dân kết hôn với công chúa Tiên Dung. . . đều nói lên tính chất Dân Chủ chứ không phân giai cấp của Việt tộc, nhưng tất cả đều ḥa hợp trong một phẩm trật đẹp đẽ như chuyện Trầu Cau: Kim, Mộc và Hỏa làm nên màu đỏ của nước Xích Quỷ.

 

Tuy nhiên sức người có hạn, bé tí hon chống khổng lồ măi cũng có ngày thua và phải đành bước vào giai đoạn “Tam Ngư”, tức là giai đoạn đen tối mà nhà huyền sử Tây phương nói đến là thời Cá (Poisson) xảy ra vào quảng vài ba thế kỷ trước công nguyên.


Cũng như giai đoạn sắp tới thuộc cung Verseau (xem chẳng hạn La nouvelle culture de l’ère du Verseau par M. Constantinov. Courier du livre. Paris) .
Vậy giai đoạn Ngư này đối với nước ta là lúc Triệu Đà khai quốc và dọn đường cho sự ngự trị Hán học, là cái học nhiễm óc chuyên chế . . . của văn minh Du mục Bắc phương. Hán học nối tiếp sang cả giai đoạn bốn là Tượng.

 

TRINH
Là giai đoạn nước ta lấy lại được nền độc lập chính trị để tiến vào các miền theo văn minh Tượng như Chân Lạp, Chiêm Thành (Chàm) là những miền lắm voi. Đây là giai đoạn mở mang nước vế phía cùng cực Nam và được tương đối độc lập về chính trị. Nhưng về van hoá th́ c̣n nằm hầu trọn vẹn trong tinh thần Ngư Tinh củ Hán Nho, nên đă mất ư thức về nền văn hoá của Dân tộc, đến nỗi ngày nay không c̣n aoi đọc được tờ “Bằng Khoán Cơ Nghiệp” Tổ tiên giối lại, bởi v́ chỉ c̣n biết chữ Hán, mà không biết chữ Nho.

 

Hán Nho th́ chuyên môn chỉ giải từng chữ nên không thấy “vi ngôn đại nghĩa”, nên cũng như cái nỏ giả của Trọng Thủy không cứu được nước.

 

Chỉ có cái học theo Việt Nho nh́n toàn diện mời đọc ra được Đại Đạo. Tuy nhiên cái Đại Đạo vẫn c̣n hon ẩn trong tiềm thức Dân tộc nên đă nhiều lần cứu được nước, đến nỗi ta có thể nói không một nước nào trong cơi Viễn Đông lại mang đậm màu sắc Kinh Dịch cho bằng Việt Nam!

 

Hăy nói từ Quốc Hiệu trở đi: Xích Quỷ, Văn Lang, Giao Chỉ (Đă bàn trong lễ Vấn Danh trong Việt Lư). Ở đây chỉ xin nhắc lại danh hiệu Giao Chỉ là hai nét lớn “Chỉ” Âm Dương giao hội: quẻ Ngoại giao với quẻ Nội. Kinh Dịch có 64 quẻ là có 64 chữ Giao Chỉ khác nhau, tức cũng 64 con dấu của Việt tộc đóng vào.

 

V́ đó Việt Nam đáng kêu là Văn Hiến chi bang. Văn đây phải hiểu là nét Gấp Đôi uyên nguyên, tức là Trời Đất giao hội, và nền văn hoá lên cao nhất là khi ở đâu không đánh mất nét Gấp Đôi (Pli en Deux).


Con người ngày nay vong thân là tại đă đánh mất ư thức về nét Gấp Đôi và sa đoạ vào cơi người ta chỉ thấy một chiều đồng nhất. Chiều duy nhất đó “là vụ lợi, là thành công, là lấy công”. Đấy là sa đọa không phải là văn hiến. Văn hiến cũng đi cấy, v́ thuộc nông nghiệp, nhưng văn hiến nói rằng:

“Người ta đi cấy lấy công

“Tôi đây đi cấy c̣n trông nhiều bề . . .”

 

Tôi đi cấy cũng lấy công, nhưng công mới chỉ là một, c̣n ba bề nữa là Trời, Đất, Người, mà để đạt được phải có Tâm, nên mới nói:

“Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”

 

Với chữ Tài, chữ Lợi, chữ Lấy Công th́ chỉ cần Lư Trí. C̣n thành Nhân th́ phải kiêm cả đạo Trời đạo Đất như hai hạn từ ṇng cốt làm nên con Người viên măn như thập tự nhai là thứ cũng tỏa ra nhiều bề: Cả Đông,Tây, Nam, Bắc, nghĩa là thần, v́ thần vô phương, nên không đâu không ở, rất linh nghiệm, nên người nào cảm nghiệm được th́ hy hiến toàn thân cho Văn đó, nên gọi là Văn hiến. Và nước có nhiều văn hiến th́ gọi là “văn hiến chi bang”.

 

Ở thời xa xưa dưới những triều đại của hùng Vương có bóng dịu hiền của mẹ Âu Cơ th́ Việt Nam đă có nhiều văn hiến, nen cũng đáng tên là “ văn hiến chi bang “. Đến nay những nhà Duy Sử đang cố phủ định nước Văn Lang, bởi chưng : “ người ta đi học lấy công. Chúng ta nay đi học cũng trông kiếm tiền “.

V́ đă hết rồi cái học “ Trông Trời trông Đất trông mây “. Cái học biến – thông của Lạc Thư, sách gối đầu giường của tiên Tổ Lạc Việt, nhưng đến nay hỏi c̣n được mấy ai biết ư nghĩa ra sao nữa?

 

Huyền sử nói: “V́ giếng bị bỏ hoang bẩn thỉu” (Xem truyện Việt tĩnh). Truyện kể về Thôi Vũ được Ma Cô Tiên đền ơn đă chuộc tội, nên Tiên cho hạt ngọc Long Toại, nói đó là ngọc châu từ thuở Trời Đất mới khai tịch đă có một cặp Trống Mái, từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân, truyền làm thế bảo. Trong trận đánh Trâu Sơn, Ân Vương bị Phù Đổng Thiên Vương giết nên đeo nó mà chết, ngọc châu cũng hon trong đất mà tia sáng chiếu thẳng lên trời . Đời nhà Tần binh hoả liên miên những vật trân bảo đều bị đốt cháy, các nhà vọng khí đều biết ḥn ngọc c̣n ở phương Nam. Người Tàu đem vàng bạc gấm vóc châu báu trị giá trăm vạn để t́m mua. Thôi Vĩ nhân đây đại phú. Sau Ma Cô Tiên rước vợ chồng Thôi Vĩ đi, không biết đi đâu. Nay giếng bỏ hoang bẩn thỉu, hang th́ c̣n ở núi Trâu Sơn. Người Việt gọi là Việt Tỉnh Cương” (Lĩnh Nam).

 

Đọc truyện trên chúng ta được chứng kiến một trang huyền sử tuyệt đẹp: Thôi là lớn lao nhưng tự dang gợi nên cái ǵ tế vi, nên Thôi Vỹ có nghĩa là người biết đặt quan trọng vào cái tế vi, cái “ vi ngôn đại nghĩa “, mà vi ngôn đại nghĩa lớn nhất là Âm Dương ḥa kết thành Thái cực viên đồ đă xuất hiện từ khi Trời Đất khai tịch, đă có một cặp Trống Mái gọi là Long Toại.

 

Chữ Toại có nghĩa là khoan cây lấy lửa, nhắc lại thời Toại Nhân , phát minh ra lửa. C̣n Long là thuộc về Lạc Long Quân, vua Viêm tộc. Nhưng đến lúc Hoàng Đế vào xâm lăng th́ chiếm luôn cả Kinh Dịch truyền cho đến đới Ân. Nhà Ân nửa trước kêu là nhà Thương là một nhà thấm nhuần văn hoá nông nghiệp cao độ nhất, nên huyền sử nói về vua Thành Thang có bệnh tê hết nửa ḿnh “ Thang bán thể khô “ (Dances 55).

 

Trong danh từ huyền sử th́ câu đó có nghĩa là đă “ thể nghiệm được đạo Âm Dương Dịch lư “, nên có Lưỡng Nghi tính vừa thích nghi với ṿng ngoài thế sự, vừa thích nghi với ṿng trong Đại Ngă Tâm Linh, nên nói hon là bán thân bất toại, mà thực nghĩa là nhà Thương Ân đă trở nên cùng ḍng với nền văn hoá Viêm tộc (xem Việt Điện trang 57)

 

Nhà Thương bị nhà Chu diệt, th́ ngọc Long Toại cũng bị hon vùi nhưng hon vùi bên phương Nam, mà nước tiêu biểu nhất là Việt Nam. C̣n bên kia th́ mất, về sau có người tên là Khổng Tử ḍng tộc nhà Thương Ân nước Tống cứu vớt được một phần đạo lư ghi lại trong Kinh Điển. V́ thế tuy sống bở Bắc nhưng ḷng Khổng Tử vẫn hướng về phương Nam, lấy làm nơi an trụ: “ Nam phương chi cường dă quân tử cư chi “ (T.D). “ Nam phương chi cường “ cũng gọi là Hùng Vương. Và vua nhà Ân đă chết hon ở đất Việt cũng như ngọc Long Toại cũng nằm trên đất vua Hùng thứ ba.. Nghĩa là trọn vẹn đạo Dịch gồm Tam Tài và Ngũ Hành: 3 lần 5 là 15 thuộc nước Văn Lang.

 

Người Tàu cũng phải công nhận y như Khổng Tử. Khổng Tử nói kiểu Minh Triết, c̣n huyền sử nói kiểu u linh rằng: “Các nhà vọng khí đều biết ḥn ngọc Long Toại ở phương Nam. Thế là “vật bất ly chủ”. Chủ nó là Phục Hy, Thần Nông, Nữ Oa, rồi bị Hoàng Đế chiếm lấy trao cho đến Ân Vương, v́ Ân Vương cảm hoá được nên dẫn thân sang hon táng ở bên đất Việt, y như Trọng Thủy lại trở về phương Nam ôm xác Mỵ Châu và nhảy xuống Việt Tỉnh, cũng một trường hợp như chim Loan của Hoàng Đế đập cánh mà chết. Tất cả đều nói lên câu nói của khổng Tử: “Nam phương chi cường dă, quân tử cư chi”. Thế có nghĩa là chủ sách Kinh Dịch là Việt Nam.

 

Cái phiền duy nhất là “ giếng bỏ hoang thành bẩn thỉu “.

 

Trong khi đọc chuyện Việt Tỉnh có một điều lạ là trong truyện không nói đến giếng mà đến cuối truyện lại thêm một câu “nay giếng bỏ hoang “. Giếng nào?

Không t́m ra trong truyện Việt Tỉnh cương (Truyện XII), nhưng khi đọc xuống truyện Kim Quy th́ mới nhận ra câu trả lời là “ xác Mỵ Châu hoá thành giếng ngọc “. Việt Tỉnh cương với giếng ngọc là một. Và nó là chi khác hơn là khung của Lạc thư. V́ Lạc Thư thành h́nh quanh chữ Tỉnh cho nên nói Việt Tỉnh chỉ là nói lối khác của “ Lạc Thư là sách của Lạc Việt đă được gợi hứng trên bờ sông Lạc, nên gọi là Lạc Thư “ .

 

Nhiều người không dám nhận ra Lạc Thư là của Lạc Việt, v́ chữ Lạc viết với bộ Trăi, hoặc Mă, hoặc Chuy. (, , ) Chữ Lạc có 3 cách viết: : : .Mà không với bộ thủy : .

 

Nghĩ như vậy là không suy tư theo ḍng biến chuyển (génétique) tức là ḍng Nam tiến liên tục, v́ có cuộc Nam tiến nên tiếng Việt từ bộ Mễ chuyển sang bộ Tẩu ( ) th́ Lạc Thư từ bộ thủy phương Bắc đổi sang bộ mă phương Nam (quẻ Khôn là tẫn Mă , thay được bằng bộ Trăi) hay bộ Trĩ (quẻ Ly phương Nam chim Trĩ) là truyện thường trong lối viết chữ Nho.

 

Thí dụ như chữ Trâu chỉ miền Khổng Tử có 4 lối viết (xem Legge I. 59) cũng có thể nghĩ rằng lúc ấy phương Bắc đă hoàn toàn rơi vào tinh thần Du mục, ngư đă đốc ra Ngư Tinh nên Lạc Long Quân phải giết, th́ cũng là lúc bỏ chữ lạc – thủy đổi ra lạc chim, từ biến sang .

 

Cái lối đổi bộ trong chữ viết là truyện đă xẩy ra nhiều lần mỗi khi sửa đổi văn tự nhất là đời nhà Tần là đời hon tang chữ viết của Việt Nam. Đấy cũng là một lối làm cho việc đọc huyền sử khó thêm lên một độ. Tuy nhiên khi biết qua tiểu tiết mà đọc cả kinh điển lẫn huyền sử th́ câu nói chủ quyền của Việt Nam đối với Kinh Dịch có nhiều bằng cớ và chứng tích . Điều quan trọng nhất là nếu nhận làm chủ th́ phải biết cách đọc theo chính chủ. Đó là điểm chúng ta sẽ bàn trong chương sau (hai lối đọc Dịch).

 

Cần thêm mấy nhận xét cuối cùng về tên sách Dịch. Hiện nay Hán Nho quen gọi là Chu Dịch để chỉ Dịch của nhà Chu, v́ trước đó đă có hai tên khác là Liên Sơn của nhà hạ (2205 – 1776) v́ bắt đầu với quẻ Cấn là núi và Quy Tàng của nhà Thương Ân (1776 – 1150) bắt đầu với quẻ Khôn.

 

Nhà Hạ thỉ rơ ràng thuộc văn hoá Việt tộc (xem Việt lư) nên nói Dịch Liên Sơn của nhà Hạ cũng là nói của Việt tộc. C̣n nhà Thương Ân th́ đă cảm hoá theo Việt Nho hầu trọn vẹn nên huyền sử nói Ân Vương bị chết hon cùng với ngọc Long Toại bên đất Việt, có lẽ v́ bị hon như thế nên gọi Dịch nhà Thương là Quy Tàng.

 

Xét về huyền sử nước ta được chia ra ba giai đoạn là Thái Sơn, Ngũ lĩnh và Phong Châu. Thái Sơn thuộc thời Tam Hoàng trong đó ông Tổ Việt tộc là Thần Nông cũng có hiệu là Liệt Sơn cùng với Thái Sơn là một.

 

Thái Sơn ở tỉnh Sơn Đông giáp với tỉnh An Huy, nơi khởi xuất của núi Ngũ Lĩnh, nên từ Thái Sơn sang Ngũ Lĩnh liền nhau nên có thể v́ đó mà gọi là Liên Sơn, v́ đó là dăy núi rất dài khởi từ An Huy mà chạy qua tỉnh Chiết Giang, Giang Tây Phúc Kiến, Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Quư Châu. Rồi đến giai đoạn Phong Châu tận cùng bằng câu truyện Việt tỉnh nơi tang ẩn xác Trọng Thủy với Mỵ Châu, nên gọi là Quy Tàng.

 

Hoặc v́ Phong Châu là miền Nam nhất trên con đường Nam tiến của Việt tộc mà phương Nam là quẻ Khôn, mà tại quẻ Khôn là tang trữ nên gọi là Quy Tàng. Đàng nào cũng hợp lư và đều nói lên chủ của kinh Dịch là Viêm Việt, c̣n Hán tộc chỉ là mượn lại mà thôi, và v́ không phải là chủ nên đọc Dịch không đúng cách.”

 

(Nếu muốn đọc Dịch theo Việt Nho, xin xem tiếp chương “Hai lối đọc Dịch” tiếp theo trong Dịch Kinh Linh Thể)

 

(Nhân Hậu trích dẫn sách Kim Định)

 

 

LỜI NGƯỜI SƯU TẬP

 

Thế hệ học giả Kim Định đă dày công nghiên cứu nhằm đánh đổ thành kiến rằng văn hóa Việt chỉ mô phỏng theo văn hóa Tàu.

 

Công cuộc khảo cứu chứng minh bản sắc, nguồn gốc văn minh – văn hóa Việt có chút thành tựu căn bản th́ lâm họa mất nước vào tay bọn giặc cờ đỏ họ giả hồ.

Ngày nay bọn “hồ tinh chín đuôi” đang mưu toan xóa nḥa Lịch sử Việt, dọn đường cho bọn Tàu bành trướng thu nhập, đồng hóa dân tộc Việt Nam.

 

Ngày nay, công cuộc tranh đấu đánh đổ chế dộ toàn trị việt cọng không chỉ đơn thuần là về thể chế chánh trị mà trên hết và trước hết là đánh đuổi bọn việt gian phản quốc để cứu dân, cứu nước khỏi lâm họa mất nước – diệt tộc.

 

 

Nguyễn Nhơn  

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính