Chữ TÂM

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Một phút suy tư: Chữ TÂM

 

Trên đây là lời khuyên

Của tác giả vô danh

Luận về chữ Tâm

Tâm là trái tim

Đâu có ǵ phải suy tư

Nhưng tác giả khuyên vậy

Chắc có điều đáng suy nghĩ

Trẻ thơ sinh ra với trái tim đỏ hỏn

Kêu là “xích tử chi tâm”

Là trái tim hồn nhiên lúc sơ sanh

Tuổi thanh niên đầy nhiệt huyết

Tim sôi sụt bầu máu nóng “nhiệt tâm”

Tuổi yêu đương, ḥ hẹn, “tâm t́nh”

Khi người yêu lở bước sang ngang

“Ḷng” đau quặn thắt chớ không phải tim

Vậy là cái tâm đau đớn từ tim xuống bụng

Cho nên mới nói kẻ vô tâm là

“không có ḷng ruột”

Và khi đau đớn th́ than thở

“đau đứt ruột, đứt gan”

Tỉnh trí lại, vận dụng “Tâm trí” suy nghĩ

Tâm từ bụng chuyển lên đầu óc

Vậy Tâm từ đâu ra?

Kinh Phật dạy:

Tâm không ở trong thân

Cũng không ở ngoài thân

Cũng không ở chặn giữa

Vậy th́ tâm ở đâu?

Kinh lại nói tâm lớn tợ hư không

Không ở nơi đâu, mà nơi đâu cũng ở

Nhưng lại có câu “nhứt điểm hư linh”

Tổng kết lại là: Cái tâm khi thu nhỏ

Chỉ bằng hạt cải

Khi nở giăn, lớn tợ hư không

Nhưng thực chất nó là cái ǵ?

Nghĩ hoài mà không ra

May đâu trực nhớ giai thoại

Đối đáp giữa hai cha con

Người Ấn theo đạo Bà La Môn

Họ không gọi Chân Tâm, Tự Tánh

Hay Bản Lai Diện Mục

Họ ởm ờ nói là “Cái Ấy”

Cậu con hỏi cha già “Cái ấy” là ǵ?

Ông già Ấn Độ thản nhiên,

chỉ vào ngực con bảo:

CÁI ẤY CHÍNH LÀ NGƯƠI

con người sống động nơi trần thế

Nhưng đừng tưởng ông già Ấn đó là hay

Trần Cao Vân luận tam tài mới oai phong:

“Chưa sinh, Trời, Đất có Ta trong

Ta cùng Trời, Đất ba Ngôi sánh

Trời đất in ta một chữ Đồng

Đất nứt ta ra, Trời chuyển động

Ta thay trời mở đất mênh mông”

Vậy đó, cái TÂM ẤY chính là TA

Là CON NGƯỜI viết chữ hoa

 

 

Nguyễn Nhơn

---------------------------------------------------

 

Chữ Tâm trong văn học Việt



 

 



1.Tổng quan

 


Trong văn học Việt, chữ Tâm thường có mặt, dù trong ca dao, tục ngữ hay trong các truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai v.v. Trong sự giao tiếp giữa người với người, ta thường chúc nhau thân tâm an lạc. Quả thật, thân và tâm đi liền với nhau, tạo thành một tổng thể. Thân có thể an, nhưng tâm không lạc v́ bị tham sân si chi phối. Chữ Tâm là tiếng Hán-Việt, nếu nói theo chữ Việt thuần túy th́ đó là ḷng người (Cội nguồn cũng ở ḷng người mà ra.. Tẻ, vui bởi tại ḷng này, Thiện căn ở tại ḷng ta v.v.)


Dân gian ta vẫn thường nói đến chữ Tâm kèm theo với vài ba chữ khác nữa, cụ thể như chữ Tâm an”, “Tâm hoà”, “Tâm b́nh”, “Tâm ngay thẳng”, Tâm trong sáng”, “Trực tâm” - ngược lại là những chữ “Ác tâm”, “Hắc tâm”, “Tà tâm”, “Tâm đen tối” v.v


Tâm ở trước các chữ như tâm thần, tâm lí, tâm cảm, tâm cảnh, tâm thức, tâm t́nh v.v.


Tâm ở sau các chữ như thiện tâm, vọng tâm, nội tâm, chân tâm, thành tâm, ác tâm v.v.


Trong kinh Bát Nhă, ta thường đọc có các chữ sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc chính là thân tức sự kết hợp của bốn chất gọi chung là tứ đại gồm đất, nước, gió, lửa và tâm nghĩa là các nhận thức, suy tưởng, tri giác, tinh cảm vui, buồn, thương, ghét v.v. th́ Phật học gom chúng ra 4 loại, gọi là thọ (feeling), tưởng (cognition),hành ( mental formation), thức (consciousness)


Trong máy điện toán ngày nay, người ta phân biệt các bộ phận như bàn phím, con chuột, màn h́nh, bộ nhớ v.v. gọi chung là phần cứng c̣n các chương tŕnh cài đặt trong bộ nhớ gọi là phần mềm. Con người có Thân cũng tương tự như phần cứng và Tâm tương tự như phần mềm.


Tâm có một nội hàm rộng lớn v́ bao gồm tâm thức (lĩnh vực nhận thức, có ư thức), tâm cảnh (dùng các ư về cảnh để tả t́nh cảm), tâm niệm, tâm tư, tâm tính, tâm sự, tâm pháp (mọi phương pháp tác động lên tâm lư, từ tác động lên ư thức như giáo dục và công tác tư tưởng đến tác động lên vô thức như tâm lư liệu pháp), tâm cảm, tâm trạng, tâm hồn, tâm linh, tâm xúc, tâm bệnh v.v.. Bấy nhiêu đủ thấy tâm phức tạp, mà phức tạp cũng đúng v́ tâm do hàng trăm ngàn neuron trên năo bộ tác động lên nhau, v.v. và ngày nay, một môn học về thần kinh, về năo bộ (neurosciences) ra đời, giúp cho khoa học nhận thức (cognitive sciences) tiến bộ hơn với máy chụp năo bộ mạnh hơn, chính xác hơn


Chữ Tâm có ngay trong trang đầu của Kinh Pháp Cú:

Tâm vi pháp bổn

Tâm tôn, tâm sử


mà Trần Trọng San dịch là:

Tâm là gốc mọi pháp đời

Tâm cao quí nhất, tâm sai khiến làm


Trong những kinh khác cũng nói về Tâm:

“Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn” (Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa Pháp” (Kinh Lăng Già).


“Tâm địa là bản nguyên của vạn pháp» (Kinh Lăng Nghiêm).


Trong kinh Viên Giác có bài kệ:

Tội từ tâm khởi đem tâm Sám

Tâm được tịnh rồi tội liền tiêu

Tội tiêu tâm tịnh, thảy đều Không

Ấy mới thật là Chân Sám Hối.


Sám Hối ở đây là “Tâm Sám”, tức là chuyển Ư nghiệp từ những tư tưởng xấu ác thành những tư tưởng lành thiện. Rồi tới Thân nghiệp là thực hiện những việc lành thiện đó. Nghiệp sẽ là nhân chi phối ḍng đời, nghiệp thiện th́ hưởng quả thiện, nghiệp ác th́ lănh quả báo ác, như bóng đi theo h́nh. Nếu biết tỉnh ngộ để chuyển nghiệp, từ xấu chuyển qua tốt, rồi từ tốt chuyển qua thanh tịnh, th́ sẽ tiêu dung được nghiệp, ra khỏi ḍng sinh tử triền miên.


2. Chữ Tâm trong ca dao Con c̣ mà đi ăn đêm


Trong thi ca Việt, con c̣ tượng trưng cho công việc lam lũ v́ con c̣ thường đi kiếm ăn vất vả dọc bờ sông. Nhà thơ Tú Xương có nhắc đến công ơn của bà vợ với hai câu:

Lặn lội thân khi quăng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông


Ca dao ta cũng có nhắc đến thân phận con c̣, trong đó đă vẽ lên h́nh tượng một người vợ, người mẹ giàu đức hy sinh cho chồng, cho con qua ca dao sau:

Cái lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con

Cho anh đi trẩy nước non Cao Bằng


Riêng trong bài ca dao sau đây:

Con c̣ mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi ông vớt tôi nao

Tôi có ḷng nào, ông hăy xáo măng

Có xáo th́ xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau ḷng c̣ con


Bài này mượn chuyện con c̣ mà ngụ ư luân lư rất cao. Con c̣ sa xuống nước, người ta bắt được sắp đem làm thịt, mà nó vẫn xin nấu bằng nước trong, để cho chết cũng được trong sạch


Con c̣ mẹ chết mà vẫn thương đàn con như lời đức Phật dậy trong Kinh Từ Bi: “Như mẹ hiền thương yêu con một, Dám hy sinh bảo vệ cho con, Với muôn loài ân cần không khác, Ḷng ái từ như bể như non”.


Con c̣ mẹ sắp chết mà vẫn nghĩ về con nó. Nhưng dẫu cho “c̣” có chấp nhận cái chết nhưng không hề chấp nhận để cho ḿnh chết trong nhục nhă. C̣ mẹ chết nhưng không muốn làm “đau ḷng c̣ con”, không muốn phải để lại những vết nhơ cho con cái nó mà chỉ muốn giữ tiếng thơm cho con cháu đời sau. Đức hy sinh của “con c̣” đă được thể hiện một cách mạnh mẽ. Con c̣ mẹ sắp chết mà nói với người đi săn: Tôi có ḷng nào, ông hăy xáo măng. Nhưng vẫn căn dặn là có xáo th́ xáo nước trong để cho chết cũng được trong sạch v́ xáo nước đục th́ c̣ con đau ḷng: nước trong là nước không ô nhiễm; nước đục là nước ô nhiễm. Ô nhiễm đây là ô nhiễm của tâm hồn với nước đục là vọng tâm, c̣n nước trong là chân tâm.



- chân tâm là tâm thanh tịnh, không sinh diệt, không dao động, thường vắng lặng, là tính cac vị đă giác ngộ. Chân tâm là nêu lên cách ứng xửđói cho sạch, rách cho thơm” cũng như đề cao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” hay “thà chết trong c̣n hơn sống đục.


- vọng tâm là tâm bị ngủ uẩn làm cho mê mờ với tham ái, dục lạc, vọng tưởng. Các loại h́nh của vọng tâm là ác tâm, tâm đố kị, tâm ngạo mạn, tâm hẹp ḥi.


3. Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài


Trong truyện Kiều có đoạn thơ:

Đă mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại ḷng ta,

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài


Thiện căn tức khi ta làm được 3 nghiệp lành như thân nghiệp, khẩu nghiệp, ư nghiệp là ta đă gieo được một thiện căn tốt.


Chữ Tâm ở đây có nghĩa là thái độ sống; ngày nay, các kỷ năng mềm (soft skill) như sự hài hoà, ôn tồn, hoà đồng trong giao tiếp là những kỷ năng quan trọng trong cuộc sống. Khi phỏng vấn xin việc, họ thường để ư cách ăn nói, cách tŕnh bày, diễn tả mục đích xem ḿnh có thể làm chung với các bạn đồng nghiệp không. Họ ít hỏi về học ở đâu, bằng ǵ.. v́ những chi tiết đó có ghi trong tiểu sử và nếu cần họ chỉ gọi điện thoại tới trường học để biết. Càng ngày, c ác dự án đ̣i hỏi cộng tác của chuyên viên nhiều ngành học khác nhau nên cần phối hợp nhịp nhàng, cần đối thoại trong sự tương kính, cần thiện chí hợp tác, tóm tắt là cần cái Tâm. Không vọng ngữ, không vọng ngôn, không tranh chấp, nghĩa là có thiện căn, thiện tâm để dễ hoà đồng th́ công việc mới tiến triển. Một xí nghiệp, một ngân hàng muốn thành công th́ nhân viên phải có cả Tài lẫn Tâm. Có Tài mà không hoà đồng, hay cau có, hay nổi giận..th́ không thể thành đạt. Cụ Nguyễn Du cũng nói:

Có tài mà cậy chi tàí

Chữ Tài liền với chữ tai một vần


4. Chữ Tâm trong Quan Âm Thị Kính


Truyện Quan Âm Thị Kính cốt tả đức tính nhẫn nhục và ḷng từ bi của bà Thị Kính (nhân vật chính). Thị Kính lấy chồng c̣n đi học, tên là Thiện Sĩ. Một đêm chồng học quá khuya, ngủ thiếp đi, vợ ngồi khâu bên cạnh, thấy một sợi râu mọc ngược, sẵn có dao cầm tay nên toan cắt đi. Chồng giật ḿnh tỉnh dậy, tưởng vợ muốn hại ḿnh, liền hô hoán lên. Cha mẹ chồng chạy tới, gán cho Thị Kính tội mưu sát chồng. Nàng bị đuổi về nhà cha mẹ đẻ, v́ quá buồn tủi, Thị Kính bèn giả trai đến tu ở chùa Vân (Vân Tự), được đặt pháp danh là Kính Tâm.

Trong vùng có Thị Mầu, con gái phú ông, vốn tính lẳng lơ đa t́nh. Cô này lên chùa thấy chú tiểu Kính Tâm liền đem ḷng say đắm. Bị Thị Mầu nhiều lần trêu ghẹo, nhưng trước sau Kính Tâm vẫn thờ ơ. Không nén được ḷng ham muốn, Thị Mầu có mang với người đầy tớ. Bị hào lư trong làng tra hỏi, Thị Mầu đổ tội cho Kính Tâm. V́ thế Kính Tâm bị sư cụ phạt bắt ra ở ngoài cổng chùa.


Ít lâu sau, Thị Mầu sinh một con trai, bèn đem tới cổng chùa giao phó cho Kính Tâm nuôi dưỡng. Được ba năm đứa bé đă khôn lớn, th́ Kính Tâm mắc bệnh nặng rồi mất. Trước khi qua đời, Kính Tâm có viết một bức thư để lại cho cha mẹ.Xem thư tuyệt mệnh của tiểu Kính Tâm, người nhà mới biết tội mưu giết chồng là oan ức. Khi liệm thi hài, các sư, văi trong chùa mới rơ Kính Tâm là phụ nữ!. Kinh Tâm như vậy cuối cùng mới được giải oan, dù trong lúc sinh thời đă chịu bao lời đàm tiếu của thiên hạ.


Ḷng đại từ, đại bi, đại nhẫn của Thị Kính đă được tôn vinh lên hàng Quan Âm nên đời sau, ta quen gọi là Quan Âm Thị Kính. Và trong tinh thần ấy, trong bản trường ca Mẹ Việt Nam, nhạc sĩ Phạm Duy có nhắc đến sự tích này với các ca từ:

Mẹ là Tiểu Kính Tâm

Lên chùa giải oan

Ôi xót thương trẻ khóc trong vườn, trẻ con hoang


Ôi! Mẹ từ bi

Giọt máu rơi này. Mẹ nhận là con, mẹ Việt Nam...


như nhắc nhở từ tâm rộng lớn của Mẹ Việt Nam, ‘mẹ Việt Nam không son, không phấn, mẹ Viet Nam chân lấm tay bùn’.


5. Cội nguồn cũng ở ḷng người mà ra.


Truyện Kiều có đoạn thơ như sau:

 

Cội nguồn cũng ở ḷng người mà ra.

Có trời mà cũng tại ta,

Tu là cơi phúc, t́nh là dây oan.

Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,

Vô duyên là phận hồng nhan đă đành


Tu là cơi phúc là v́ nếu thiếu vắng sự an lạc nội tâm th́ con người vẫn không thể có sự b́nh an và hạnh phúc lâu dài. Tiền bạc không mang lại sự an b́nh trong nội tâm.


Đạt Lai Lạt Ma cũng từng nói rằng: “Dù cho dân số năm tỷ người hiện đang sống trên trái đất này trở thành triệu phú hết, nhưng thiếu vắng sự an lạc nội tâm th́ con người vẫn không thể có sự b́nh an và hạnh phúc lâu dài” (Live In A Better Way). “Nếu tiền bạc, của cải, quyền lực mang đến sự an vui th́ có lẽ những vị vua chúa hay các vị lănh đạo đất nước đều đă được an vui rồi.” (Ethics For The New Millennium.)


Con người cảm thấy khổ v́ không có an lạc nội tâm (inner peace). Thực vậy:


- nội tâm có thể là ḷng tham đối với tiền tài và của cải.


-nội tâm có thể là tâm đố kị, tâm ngạo mạn, tâm hẹp ḥi, bắt tư tưởng và quan điểm người khác phải giống ḿnh.


Các loại tâm như vậy là ác tâm, nếu ta có thể vứt bỏ các loại ác tâm ấy, ta sẽ bớt khổ v́ có thanh thản nội tâm. Mà muốn vậy th́ phải sống với thái độ lạc quan, ḥa ái để thay thế ḷng tham, tính đố kỵ và ích kỷ, nhờ thế nội tâm sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và b́nh an hơn. Như nàng Kiều khi ở thảo am với sư Giác Duyên, nhờ không tham ái, không chấp ngă, không vọng niệm nên sống an nhiên tự tại:

Một nhà chung chạ sớm trưa

Gió trăng mát mặt, muối dưa chay ḷng

Bốn bề bát ngát mênh mông

Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau

(câu 2733-2736)


Trong kinh điển nhà Phật, ta thường nghe chánh báoy báo. Thế nào là chánh báo và y báo? Thân thể của chúng ta là y báo, hoàn cảnh cư trú là y báo, tướng mạo cũng là y báo. C̣n chánh báo là ư niệm, là tâm của chúng ta. Tâm địa của ta tốt th́ tướng mạo cũng tốt, với nụ cười, với thân thể, mọi thứ tự nhiên liền chuyển đổi. C̣n tâm không tốt, ngày ngày chỉ chuyên nghỉ chuyện lường gạt, xảo trá th́ phản ánh lên tướng mạo bên ngoài. Người ta khi xem phong thủy, thường nói ‘đức năng thắng số’ nghĩa là chính ḿnh phải tu phước, hướng thiện và Phật nói với chúng ta “y báo tuỳ theo chánh báo chuyển” là vậy. Kinh Bát Nhă nói: “Khi Bồ tát Quán-tự-tại thực hành trí tuệ Bát Nhă thâm sâu, soi thấy (tất cả) là Không, Ngài liền vượt mọi khổ nạn”. Tất cả là Không, tức là không c̣n phân biệt cái ǵ hơn cái ǵ th́ tâm được an tịnh.


6. Tẻ, vui bởi tại ḷng này hay Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

 


Cả hai câu thơ trên trích trong truyện Kiều nói lên ảnh hưởng của nội tâm trên cư xử và hành động. Đối với khoa học thần kinh, cảm xúc vô cùng quan trọng v́ là động cơ thúc đẩy hành động, và gây ảnh hưởng không nhỏ lên thông minh cảm xúc (intelligence émotionnelle).


Tiếng đàn của Thúy Kiều khi vui khi buồn cũng là tùy theo tâm trạng


Khi nàng Kiều vui th́ tiếng đàn:

Trong như tiếng hạc bay qua

Đục như nước suối mới sa nửa vời

Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa


Khi buồn th́:

Ngọn đèn khi tỏ khi mờ

Khiến người ngồi đó mà ngơ ngẩn sầu

Khi tựa gối, khi cúi đầu

Khi ṿ chin khúc, khi chau đôi mày


Khi đoàn viên lại với Kim Trọng:

Chàng rằng: Phổ ấy tay nào?

Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?

Tẻ, vui bởi tại ḷng này,

Hay là khổ tận đến ngày cam lai?



Một thế giới dựa vào các giá trị như Từ, Bi, Bác Ái, như vậy th́ mọi người, mọi sinh vật sống an lạc. Quan niệm Phật giáo với tâm từ bi với mọi sinh vật ‘nhất thiết chúng sinh giai cộng thành Phật đạo’ là quan niệm viên dung. Chúng sinh đồng một thể, ḿnh và người không khác, lợi người là lợi ḿnh, giết hại kẻ khác là giết ḿnh


Khi tâm an và biết hướng thiện th́ chẳng những ḿnh được hạnh phúc mà c̣n hoà đồng được với cái tâm đại ngă của vũ trụ. Như Lăo Tử nói: Người ta sinh ra th́ mềm yếu mà khi chết th́ cứng lại. Thảo mộc sinh ra th́ mềm dịu mà khi chết đi th́ lại khô cứng. Cho nên cứng rắn, cáu giận là biểu hiện của chết, mềm yếu, khiêm nhường là dấu hiệu của sống.


7. Chữ Tâm trong truyện thơ nôm Nhị Độ Mai (hoa mai nở hai lần)


Truyện Nhị Độ Mai cũng là một truyện Nôm khá phổ thông như truyện Kiều và truyện Lục Vân Tiên. Đây là một truyện thơ phỏng theo một chuyện bên Tàu, đời nhà Đường với nhiều nhân vật thuộc nhiều tầng lớp: vua chúa, văn thần, vơ tướng, kẻ sĩ tài danh, công tử ỷ quyền cậy thế, sư săi, nhà chài, đặc biệt có h́nh tượng nhà Nho nghĩa khí và người phụ nữ tài sắc, đức hạnh.


Nhị độ mai là một cuốn luân lư tiểu thuyết chủ ư khuyên người ta nên theo luân thường, nên giữ trọn những điều trung, hiếu, tiết, nghĩa. Trong truyện, bày ra một bên là những vai trung chính, dù gặp hoạn nạn cũng không đổi ḷng, sau được vẻ vang sung sướng; một bên là nhũng vai gian ác, tuy được đắc chí một thời, sau cũng phải bị tội vạ, khổ sở, để tỏ cho người đời nhận biết cái lẽ báo ứng của trời. Đặc biệt có nhân vật trong truyện đă toan quyên sinh nhung được nhà chùa cứu vớt:

 

Sư rằng: Cửa bụt thênh thênh

Ṭng quyền hăy tạm gửi ḿnh ở đây

Nhà chùa công việc cũng đầy

Dẫu rằng lau án, tưới cây cũng là

Vả trong ra dáng con nhà,

Sẵn nghiên bút viết một vài tờ xem


8. Stress hay là 4 thành tố của Stress (SUNT)


Những ǵ gây căng thẳng (stress)? Để ư các chữ sau:


Sense of control: ta có cảm tưởng như ḿnh không kiểm soát được t́nh h́nh. Ví dụ: xe cộ ồn ào, cướp bóc, mất ngủ thường xuyên, bụi khói mù đường, lũ lụt, cháy nhà


Unpredictability:
chuyện bất thường xảy ra không tiên đoán, không dự trù được. Ví dụ: tai nạn, mất việc, người thân chết v.v.


Novelty: cái mới quá chưa bao giờ gặp nên phải quá sức ra làm, đâm ra mệt mỏi. Áp lực công việc cao với các mục tiêu khó đạt được


Threat to the ego: mất tự tin thường hay dẫn đến tự ti và cảm giác bất hạnh càng lúc càng ăn sâu vào tâm trí khiến căng thẳng lo âu càng nhiều. Chấp ngă khi ta chỉ muốn giữ lại mối tương giao nào mà cái huyễn ngă của chúng ta được ái mộ, chiều chuộng, vuốt ve, những hành động của ta được tung hô vạn tuế. Bằng ngược lại, ta hờn, ta dỗi, ta hận đời đen bạc, than rằng sao người ta không hiểu ḿnh, rằng sao mà ḿnh cô đơn quá, v.v... Chấp ngă nên tâm không an lạc được

Căng thẳng (stress) ảnh hưởng đến thân thể như cao huyết áp, hơi thở gấp gáp, mất ngủ, và cũng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần như suy giảm trí nhớ, mất tự tin..Ngày nay căng thẳng trong đời sống là nguyên nhân chính của các bệnh do đó hiện nay, trên thế giới có nhiều nơi tổ chức các khoá tu thiền, với đi thiền, ngồi thiền hơi thở tập trung để giữ cho thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh, ư thanh tịnh, giúp làm thay đổi cái cảm thọ của chính ta.Thân khẩu ư thanh tịnh nghĩa là tâm không chướng ngại, mà tâm không chướng ngại th́ không điên đảo, đạt niết bàn (Kinh Bát Nhă). Thân (Body) và Tâm (Mind) tác động và có ảnh hưởng qua lại: thân bệnh mà tâm không bệnh cũng giúp cơ thể mau lành hơn: những lời nguyện cầu giúp cơ thể tạo ra nhiều kháng thể hơn nên dễ chống chọi với bệnh tật hơn.


Theo Đức Dalai Lama, sự b́nh yên không có nghĩa là một nơi không có tiếng ồn ào. B́nh yên có nghĩa ngay chính khi ta đang trong phong ba băo táp ta vẫn cảm thấy sự yên tĩnh trong trái tim. Đó mới chính là ư nghĩa thật sự của sự b́nh yên.



9. Kết luận


Như vậy, không phải chỉ trong các kinh Phật giáo mà chữ Tâm cũng bàng bạc khắp trong văn học Việt, từ các truyện Lục Vân Tiên, Cung Oán, Chinh phụ Ngâm cho đến Truyện Kiều v.v.. Tâm con người có thể vui, buồn, thương, nhớ, ghét, ghen, hờn giận.., thay đổi liên miên nên trong kinh kệ nhà Phật thường chúc nhau:

 

Tâm bồ đề kiên cố, Xa bể khổ nguồn mê, Chóng quay về bờ giác...


Xa bể khổ nguồn mê là để đi t́m hạnh phúc mà:


- hạnh phúc là ở đôi môi mỉm cười để vơi đi nỗi khắc khoải, ở những lời yêu thương tốt đẹp, không phỉ báng ai, không chê trách ai. Là con Phật, nếu không nói được những ǵ Phật nói, hăy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những ǵ Phật làm, hăy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động, đừng vọng ngữ làm những điều thương tổn đến tha nhân. Đừng thốt ra từ miệng những lời ác độc, cho dù người ta có xấu ác với ḿnh bao nhiêu. Càng nguyền rủa người khác, tâm ta càng bị nhiễm ô. Bộ năo độc đáo của chúng ta có khả năng chứa nhiều điều tốt đẹp: ḷng Từ bi, Khoan dung, Tha thứ, và T́nh yêu, nhưng đồng thời tâm trí chúng ta cũng là một nguồn cội của sự giận dữ, hận thù và sợ hăi. Thách thức lớn nhất trong ta là phải đối mặt với những vấn nạn do chính ta tạo ra. Một nghịch lý của thời nay là: càng hiện đại, con người càng vô cảm, vật chất càng giầu có bao nhiêu, thì con tim lại càng nghèo đi bấy nhiêu.


- hạnh phúc khi ta đừng đ̣i hỏi điều ǵ khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều ḿnh muốn không được đáp lại rất dễ đẩy ta vào hố sâu của thất vọng. Khi đang vui, ta nên nghĩ rằng niềm vui này không vĩnh hằng. Khi đau khổ, ta hăy nghĩ rằng nỗi đau này cũng không trường tồn.


- hạnh phúc nằm ở sự tha thứ. Chẳng có ai ôm trong ḷng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Cuộc đời vô thường, cuộc đời ngắn quá, không nên phí vào hận thù mà tha thứ cũng là cách tự cho chính ḿnh món quà an nhiên. Bao dung giúp thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn và an toàn hơn. Khi nào ta thật sự buông xả th́ lúc ấy ta sẽ hết phiền năo.


- hạnh phúc nằm ở chữ Nhẫn v́ nhẫn giúp con người hóa giải ân oán, hận thù để từ đó thay đổi vận mệnh.

 

 

Thái Công Tụng

Nguồn: _https://sites.google.com/

Posted by haingoaiphiemdam.com

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính