Các Kiểu Đi Tù Xă Nghĩa

 

Nguyễn Nhơn

 

 

bùi minh hằng

 

Nh́n tấm h́nh chị Bùi Minh Hằng, nét mặt uất ức, đau buồn, dang đôi tay kêu chào đồng bạn biểu t́nh, ngậm ngùi nhớ lại thân phận ḿnh ngày trước! “Ngày xưa ấy...” không phải “những khi trăng mờ lối đi....” thơ mộng mà là khi ta đi tù “vi xi”, mệnh danh mỹ miều là đi “học tập.” Đừng tưởng rằng đi học tập ở trường “cách mạng” là dễ. Nội chuyện làm “thủ tục” vô học cũng là gian nan lắm!

 

Ngày 2 tháng 5 năm 1975 là ngày đầu tiên đi làm thủ tục. Xe tới hội trường Tỉnh Biên Ḥa, bên cạnh công trường Sông Phố, vừa bước xuống đă thấy anh chị em công chức ào ra, dẫn đầu là gă Ba Soái, nhân viên Ty Nội An, lúc nầy tay đeo băng đỏ, nghênh ngang bước lại hất hàm hô: Chào anh! Tui thấy phát ghét, móc: Xưng hô anh tôi như vậy là hơi sớm, nghe! Cậu cận vệ thấy vậy, chẳng nói chẳng rằng, cúi xuống dở tapis, rút ra khẩu colt. Thằng băng đỏ, mặt tái ngắt, bước giật lùi. Lúc nầy, cậu nhỏ mới mỉm cười chế nhạo, chỉa ṇng súng lên trời, bấm cho băng đạn rớt xuống đất, tay kéo cơ bẩm cho viên đạn trong ṇng súng văng ra, thản nhiên quay bá súng trao cho thằng vc 30/4 mất dạy, hèn nhát và hô: Nạp súng! Tui bắt chước đứa em chơi ngon lành, hất hàm biểu: giao xe. Thằng băng đỏ vừa sợ vừa mắc cở, thót lên xe dong tuốt! Nói cho thật, tôi vẫn mặc bộ đồ chức việc bốn túi, trong lưng c̣n lận khẩu Beretta ngon lành. Hai thầy tṛ phủi đít đi d́a. Hôm sau, rút băng đạn liệng xuống cống, c̣n cây súng vô dụng mới đem nạp, rồi không thèm ngó mặt thằng vc theo đuôi, đi thẳng lại Ty An ninh tŕnh diện vc thứ thiệt cho được việc.

 

 

THỦ TỤC NHẬP HỌC

 

Đây là Ty An Ninh. Ngồi trước mặt là Trưởng ban Điều tra Mười Dũng. Thằng cha nhỏ thó mà tiếng to ong óng. Nó hất hàm hỏi: Đi tŕnh diện hả? Tôi chẳng nói chẳng rằng, lẳng lặng móc bóp, lấy ra hai tấm thẻ. Một là thẻ Hành sự do Bộ Nội Vụ cấp, ghi rơ chức vụ: Phó Tỉnh trưởng Biên Ḥa. Thẻ kia là Chứng chỉ Tại ngũ ghi: Trung Úy Trừ bị Biệt phái Ngoại ngạch. Nó xem rồi, lắc đầu, chê bai, “chế độ mấy anh thật là kỳ dị,Trung úy chỉ huy cấp Tá!” Tui chẳng đặng đừng, cải: Hổng phải, tui biệt phái ngọai ngạch. Nó coi bộ chẳng biết biệt phái ngoại ngạch là giống ǵ nên ậm ừ, mần thinh, kéo học tủ lấy tấm giấy và cây viết, biểu: Anh chép mễu tờ khai. Và tui chép. Xong, nó biểu: Đem về nhà khai cho kỹ, sáng mai đem lại nạp.

 

Cái tờ khai của Ủy ban Quân quản Cách (cái) mạng nầy quả thiệt là không giống ai. Thế thường, tờ khai là khai lư lịch và quá tŕnh hoạt động của đương sự thôi. Đàng nầy, trên là lư lịch và quá tŕnh hoạt động của cha mẹ. Dưới là lư lịch và quá tŕnh hoạt động của vợ, con. Cho nên về sau, anh em ta kháo nhau, “khai báo cả Tam, Tứ đại” là đúng lư.

 

Cái dzụ khai báo nầy dài lắm xin nhảy lớp để khỏi nhắc lại những chi tiết tủi nhục, đau ḷng!

 

 

NHẬP HỌC

 

Thông cáo của Ủy ban Quản huấn Quân khu 7 (Miền Đông Nam phần) ấn định ngày đầu tiên tŕnh diện đi học tập là ngày 25/6/1975. Thời gian hoc tập là một tháng cho sĩ quan cấp Tá và tương đương. Mười lăm ngày cho cấp Úy và tương đương. Nhà tôi bàn, mùa mưa tới rồi, thôi, đi học sớm, về sớm. Trưa ngày 25/6/75, sau khi cơm nước xong, bà xă lấy ra cái túi xách, xếp vô hai bộ đồ, chép miệng biểu: Đi học một tháng, hai bộ đồ để thay đổi cũng đủ rồi. Tui cũng bỏ vô đây một típ Optalidon và chai dầu xanh pḥng khi cảm lạnh, nhức đầu. Thôi ông sửa soạn ra Trường Ngô Quyền tŕnh diện, “Đi sớm, về sớm!” Một bên vai, bó mền chiếu, một bên vai túi quần áo, gă chồng trẻ cất bước ra đi, không ḷng nào ngoái đầu nh́n lại!

 

Lớp học Trường Ngô Quyền rộng, lơ thơ mươi móng “chuẩn học viên” già, mỗi người ngồi một góc ủ rủ, đăm chiêu. Tôi đứng tựa cửa, bập điếu thuốc, nh́n mông lung. Trời về chiều, mây đen giăng mắc, “người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ!”

 

Chặp tối mới có chiếc GMC đến. Mười mấy mạng được lùa lên. Xe vừa lăn bánh, mưa rơi lấm tấm. Chưa mặc xong chiếc áo mưa đă thấy xe quẹo vô … cổng Trại tù Tân Hiệp.

 

Dăy pḥng giam dài tăm tắp, mọi người lặng lẽ trải chiếu nằm. Đêm đầu tiên trong tù thật thê lương! Ngoài trời mưa rơi tí tách, trong ḷng nghe như giọt vắn, giọt dài. Anh em phần đông là người địa phương có ít nhiều danh giá. Chỉ đầu hôm sớm mai, cách mạng, đổi đời xộ khám, nghĩ cũng thảm.

 

 

TRƯỜNG HỌC TẬP CẢI TẠO NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN

 

Thằng chúa ngục tên là Ba Phán, danh xưng là Giám hiệu cái trường ôn dịch ghi trên. Nó vốn là Trung úy Phi công nội tuyến vc, bị cho nằm ấp ở khám Tân Hiệp nầy cũng lâu trước khi được phỏng giái cho ra làm chúa ngục tại chỗ. Bọn nó, vc nằm vùng từ khám, xổ lồng ra. Anh em quân, cán, chính VNCH thua trận vào, kêu là “đổi đời” thời cũng phải. Câu đầu tiên nó nói, “Cách mạng không có bỏ tù ai. Đây là trường học tập, cải tạo. Các anh là “cải tạo viên,” chớ không phải tù. Ai kêu là tù, tôi đưa qua khu tù biệt giam, cùm cho biết.”

 

Chương tŕnh học gồm vỏn vẹn 6 bài học. Bài số một kêu nghe rôm rốp: Đất nước ta giàu đẹp. Dân tộc ta anh hùng. Học viên già lần đọc, chuyện cổ tích Hai Bà Trưng, Bà Triệu dẫn tới bọn súc sinh già hồ, xác ướp chưa chôn. Bốn bài giữa lâu gần 40 năm, quên mất. Bài cuối cùng cái tựa dài nhằng, không dám chắc đúng, hoặc do tui chế ra cũng chưa chừng, rằng: Cách mạng đánh đâu, thắng đó, đánh nhỏ, thắng to. Ta nhất định thắng, địch nhất định thua!

 

Bài học thi đơn sơ vài trang. Bài làm, mỹ danh “Thu hoạch”, thực tế là tờ khai báo tội t́nh suốt quá tŕnh “phản cách mạng”, kẻ ít người nhiều năm, kê ra cả xấp giấy. Anh nào cậy văn hay, chữ tốt, viết cho cố vô, những tưởng rằng đái tội, lập công, chẳng ngờ rằng nó vừa đánh vần vừa đọc, chữ tác thành chữ tộ, nó hỏi lại chi tiết, giải thích hổng trôi, vậy là … cùm, v́ khai báo láo!

 

Nhưng mà rốt rồi, 6,7 trăm mạng làm final exam đều pass. Mản khóa lư thuyết, rồi tới thực hành.

 

 

TRẠI LAO ĐỘNG KHỔ SAI

 

Buổi sáng mùa hè, trời nóng nực, Phó tỉnh B́nh Dương ta cởi trần trùng trục, ngang lưng quấn chiếc khăn rằn, mốt du kích thời kháng chiến chống Tây. Tui với nó, hai thằng dân B́nh Dương, xứ Thủ chánh gốc bà lang trọc. Nhưng mà từ nhỏ chí lớn chỉ biết cầm cây viết. Lần đầu tiên hai chàng thư sinh cầm cuốc, cuốc đất quê nhà xứ Thủ, B́nh Dương cứng như “làng tôi nghèo, đất cày lên sỏi đá.” Thằng Vinh sức vóc, cuốc xuống được vài phân. Thằng Nhơn ṛm, giang cù lừ cuốc xuống...bụi văng mù mịt. Thằng du kích thấy vậy chửi rùm. Nhưng mà cũng c̣n đỡ hơn anh Sáu Thanh, bào đệ tướng Đỗ Cao Trí. Anh đi đánh giặc bị thương, ruột đứt một khúc. Lại thêm trái tim lắt lẻo cheo leo. Anh cuốc một hồi té lăn ra xỉu! Nó không thương mà c̣n chửi, “Đồ làm biếng, ăn mập thây, mới cuốc mấy cuốc nằm lăn ra đó, ăn vạ!?”

 

Thôi, cuốc đất không đặng th́ đi dẫy cỏ. Cỏ nói đây không phải thứ thường mà là thứ dữ: Cỏ băi ḿn căn cứ hỏa lực Nhà Đỏ của Mỹ ngày trước. Mới dẩy được vài cuốc, bỗng anh bạn đứng phía sau la: Anh Nhơn đứng yên, không được nhúc nhích. Biết là có chiện nên đứng như trời trồng. Bạn mới từ tốn bảo: Nh́n xuống gót chưn! Ôi thôi! Ba cái chia ḿn cá nhân PM23 giương lên ngạo nghễ. Gă tù tui cũng hồn bất phụ thể! Bạn mới dặn ḍ: Anh nhắc chân cao lên, bước lùi lại. Vậy là thoát chết.

 

May, trời c̣n thương! Gỡ sạch băi ḿn mà không nổ trái nào. Ba mươi lăm mạng, đội biệt lập Khu B, Nhà Đỏ c̣n nguyên vẹn.

 

Gỡ ḿn giỏi cho nên nó mới xua vô khu rừng chồi, bị B52 thả bom trải thảm, phát quang. Thuở nhỏ, vẫn thường được khen là thằng có linh tánh mà không biết ra sao? Lần nầy là rơ mặt: Vừa giơ dao phát lên, bỗng nghe ớn xương sống, dạ bần dùng. Con dao giữ ở tư thế giương cao, mắt trao tráo ḍ t́m. Trên bụi lùm, trái bom bi nằm vắt vẻo. Ruột bom bi tṛn như trái quưt, nhưng vơ ngụy trang như trái khế cũng màu xanh tiệp với lá cây rừng. Mắt b́nh thường chắc không nh́n thấy. Giờ thấy đây chắc là do linh tính chớ không phải mắt nh́n? Sợ lắm nên chỉ ú ớ kêu: Bom bi! Đây là lần thứ hai hú hồn, hú vía.

 

Hết bom tới ḿn, giờ tới súc. Một bữa, ruột đau quặn thắt nên được cho nghỉ bịnh. Bất đồ được lịnh tập trung đi lấy súc trên rừng Phú Giáo. Thằng du kích vừa bắn carbin M2 răng rắc vừa hô: Thằng nào làm biếng không chịu khiêng cây đâu? Bảy thằng tù bịnh hoảng hốt xáp vô khiêng. Mạnh ai nấy làm không lấy đúng thế, khúc cây vừa to vừa nặng rớt đùng. Bóc một tiếng, anh Lê Văn Xê, Phó Ty Thuế vụ B́nh Dương vỡ sọ qui thiên!

 

Thảm thương nhiều chỉ kể bấy nhiêu!

 

 

TRÊN ĐƯỜNG RA BẮC

 

Là tui nhận lớp những ngày tháng gieo neo trên Z30(?) Gia Ray, dưới chân núi Chứa Chan, Xuân Lộc.

 

Ngày 6 tháng 12 năm 1976, từ khám Thủ Đức, bác già Đại tá Hồ Đắc Trung, Cựu Tỉnh trưởng/ Dân biểu Tây Ninh và tui lần đầu tiên nếm mùi dây xích xă nghĩa. Tay công an từ ngoài Bắc vô Nam lănh tù, hô: Anh nầy, anh nầy, một cặp đưa tay ra. Thay v́ c̣ng số 8 Smith&Vesson th́ đây là dây xích xă nghĩa xù x́. Một già, một trẻ xích tay vô một cặp, xua lên xe camion chở ra Tân Cảng.

 

Chiếc tàu đưa khách viễn du tên là Hồng Hà, thật ra là chiếc Trực Lệ hay Nhật Tảo của Việt Nam Thương Tín cải danh. Nó chở than đá từ ngoài Bắc vô, rồi chở tù Miền Nam ra Bắc. Đừng tưởng rằng Miền Bắc hào hiệp, chi viện than đá cho miền Nam mới phỏng giái. Đây là trao đổi, một đổi lời gấp năm ba: Một tàu than đá đổi mấy cabin bột ngọt, sữa đặc Ông Thọ và ḿ gói Vifon (?).

 

Hai ngàn tù Miền Nam bị nhồi nhét vào hai khoang tàu như bầy súc vật. Ra đi khi trời vừa sáng. Màn đêm buông xuống, tàu ra tới biển. Đèn đuốc lập ḷe, bỗng nh́n thấy phía trước mặt, một vị dáng vẻ khác thường, xung quanh ḿnh dường như phát sáng. Hỏi ra mới biết là đức Giám mục Nguyễn Văn Thuận. Anh em công giáo lần lượt ḅ lại, lặng lẽ sờ tay lên chiếc nhẫn phép Giám mục. Tôi cũng bắt chước, ḅ lại thăm hỏi: Làm sao mà họ bắt Cha đi đày như vầy? Cha hiền từ đáp: Th́ ḿnh hữu thần. Họ vô thần, bắt ḿnh đi đày, đâu có chi lạ! Nh́n lại bàn tay Đức Cha th́ thấy chiếc nhẫn làm bằng thiếc thô sơ, biết là chiếc nhẫn thụ phong, chúng tước đoạt mất rồi!

 

Ba ngày, ba đêm lênh đênh trên biển cả, đói khát, vật vờ. Có anh bị lao, sóng vùi, gió vập một hồi, thổ huyết lai láng. Bạn tù cơng lên, cơng xuống, lắc la, lắc lẻo! Rốt rồi, tàu cũng cặp vô Băi Cháy, Hải Pḥng.

 

 

TRÊN ĐỈNH HOÀNG LIÊN SƠN

 

Tên cúng cơm của nơi đến là: Trung Tâm Cải Tạo Trung Ương Số 1 Lào Cai. Đây là nơi ngày xưa giam nhốt những người làm cách mạng chống Pháp, nổi tiếng là rừng thiêng, nước độc. Bước đến nơi đây lúc nửa đêm về sáng, đèn đuốc lập ḷe. Cảnh trí âm u như địa ngục A Tỳ! Tiết đông hàn, giá buốt căm căm. Sau ba ngày được cho nghỉ ngơi cho lại sức, sáng ngày thứ tư, tù tập họp nghe Giám Thị trưởng, Thiếu tá Đặng Thín Thuần dặn ḍ: Thôi, quên chuyện cực khổ trên tàu Hồng Hà đi để yên tâm lao động! Vậy là đi cuốc đất trồng củ ḿ. Trời rét buốt căm căm, băng đèo, vượt suối, tới ngọn đồi trọc. Cả đội dàn hàng ngang từ dưới cuốc lên. Theo kỷ thuật thâm canh, tăng vụ xă nghĩa, mỗi hóc ḿ vuông vức 4 tấc, sâu 3 tấc. Bỏ cành lá xuống, phủ đất vài ngày cho hoải mới bỏ hom ḿ xuống. Làm như vậy, hom ḿ mới bắt rễ nổi v́ đất cứng như đá chớ chẩng phải kỹ thuật xă nghĩa giống ǵ. Tiêu chuẩn cho mỗi người, một buổi là 90 lỗ. Gă tù tôi cầm cuốc, run lập cập, cuốc măi mà vẫn lẹt đẹt phía sau xa. Cậu cai tù gốc người sắc tộc, xem ra tử tế, lắc đầu biểu: Anh cuốc như vậy tới Tết chưa xong. Thôi, chạy đi gom chà, đốt lửa cho anh em nghỉ giữa buổi sưởi cho đỡ lạnh.

 

Trời càng về chiều càng thêm giá buốt, sương mù giăng mắc, gió thổi ù ù. Cám cảnh sanh t́nh, tự đặt tên ngọn đồi nầy là “Đỉnh Gió Hú.” Đoạn đường về, bước đi thất thểu , âm thầm như oan hồn vất vưởng!

 

Ban đầu trại c̣n một ít dự trữ nên c̣n chút ít cơm độn ngô xay. Về sau chỉ c̣n ngô xay ṛng. Rồi xoay ra bo bo Mông cổ. Hết bo bo rồi tới củ ḿ chặt cục. Xoay tới, xoay lui, đói vẫn hoàn đói. Đúng là đói mờ mắt mà vẫn lao động nhọc nhằn. Nào là vác đất sét nung gạch, nào lên núi vác cây, vác nứa, trồng cuốc đủ nghề. Đói đến nỗi có bận trại cho đào củ chuối kho muối cho tù ăn. Chỉ một năm, đêm 29 Tết 1977, bác già Hồ Đắc Trung đau thắt ruột, cho chở đi bệnh viện Lào Cai cấp cứu. Người tù ra đi biền biệt măi không về!

 

Vậy đó, cuộc đời tù trên đỉnh Hoàng Liên Sơn là như vậy đó!

 

 

DƯỚI CHÂN RẶNG HOÀNG LIÊN

 

Tháng 6 năm 1978 là đủ 3 năm trấn thủ lưu đồn, gọi là “học tập cải tạo”, theo thông cáo 9 điểm của MTDTGPMN trước khi giải tán, là măn hạn. Tù được lịnh tập trung di chuyển, nhưng không phải cho d́a mà là hạ sơn xuống chân rặng Hoàng Liên ở tù tiếp.


Rời đỉnh Hoàng Liên trong đêm hè mưa rơi tầm tă. Trưa ngày hôm sau, băng qua Thị xă Vĩnh Yên. Đến bến Ấm Thượng lúc trời xế bóng. Vượt Sông Hồng, đổ bộ lên Bến Ngọc vào lúc chiều tà. Khói cơm chiều nhà ai lơ lửng trên mái rạ trông thiệt nhớ nhà! Đằng trước mặt, nẻo ṃn lẩn khuất trong tăm tối, mịt mùng. Ḷng người tù khoắc khoải, đêm nay biết về đâu?

 

 

TRẠI TÂN LẬP, VĨNH PHÚ

 

K3 Tân lập là phân trại nhỏ. Lùa vô đây lũ tù tân đáo độ 300. Pḥng giam là những gian nhà lợp lá cói lụp xụp. Giữa pḥng, ngọn đèn đêm le lói, thân xác ră rời, ḷng thê lương. Trại nầy vốn là trại tù h́nh sự địa phương mới được cải danh thành trại trung ương nên lương thực dự trữ không có.

 

DỊCH CHẾT ĐÓI: Sao gọi là dịch chết đói? Bởi v́ chết đói tràn lan như chết dịch! Anh Hóa (hay Quá (lứ) người Việt gốc Hoa, mấy bữa nay có triệu chứng như bị bịnh tả, nghĩa là ăn trên, ra dưới. Cũng có khi vừa ăn vô là thổ ra. Pḥng tôi đối diện pḥng anh. Chiều bữa trước c̣n thấy anh ngồi thở dốc trước cửa pḥng. Sáng hôm sau đă thấy bạn tù bồng anh bỏ vô “sáu tấm” đem đi! Riêng ở K3, nối đuôi theo anh Hóa chừng chục mạng. Các K khác nghe nói nhiều hơn, nhất là K1, K2. Chết đến nỗi thấu tai Bộ Nội Vụ, phải cử phái đoàn y tế xuống điều tra. Kết luận là chết v́ “Suy Dinh Dưỡng”?! Chữ nghĩa y khoa xă nghĩa nghe thiệt là hay.

 

 

NGÀN DẶM THĂM CHỒNG

 

Vác đất sét nung gạch được chừng ba tháng. Thân gầy, đói, từ hầm sâu lặt lè vác nặng bước lên, đường trơn trợt té lên, té xuống như cơm bữa. May, được chuyển qua K5, sung vào đội Rau Xanh, nghĩa là trở lại nghề cuốc đất. Thời gian lững lờ trôi, trôi bằn bặt tính ra được hơn hai năm. Từ ngày ra Bắc đến nay đă bốn năm dư. Ngày ấy, bỗng nhiên được lịnh chuẩn bị ra gặp mặt vợ hiền. Tiểu tựa: Ngàn dặm thăm chồng không phải là ví von mà là c̣n hơn sự thật, bởi nhà từ tỉnh Biên Ḥa, xuống ga B́nh Triệu, chầu chực qua đêm mới lên được tàu hỏa Thống nhất viển du ra Bắc. Từ Saigon ra Hà Nội đường xa 1,772 Km, tức là đă trên ngàn dặm. Từ ga Hàng Cỏ mẹ và đứa con út 12 tuổi dắt díu nhau lên xe lửa Lào Cai, đổ xuống ga Ấm Thượng, gồng gánh đồ đạc xuống đ̣ ngang sang Sông Hồng, măi vào Bến Ngọc. Đổ bộ, vượt Dốc Phục Linh cao ngất nghễu rồi mới vào xóm A Mai, tới trại. Đúng là:

Trèo đèo, vượt suối, sang sông

Gánh gạo nuôi chồng nước mắt rơi rơi

 

Cảnh vợ chồng ngâu gặp mặt nhau sau hơn bốn năm cách biệt mới thật là thảm! Chiếc bàn tiếp tân thiệt dài, ngồi hai bên được hơn mười cặp vợ chồng tù. Chiếc bàn lại rất rộng, chồng ngồi một bên, vợ bên kia, cách gần hai tầm tay với. Cả hai đàng phải vươn hết tầm tay mới lần được tay nhau. Ngồi ngay đầu bàn, trên ghế cao giống như trọng tài đấu tennis là ông “chỉ biết c̣n đảng, c̣n ḿnh” mắt ḍm lom lom theo dơi. Cho nên bao niềm thương nhớ đành nuốt vào gan ruột, không nói nên lời! Chỉ biết lần t́m tay nhau, “mặt nh́n mặt, cầm tay, bâng khuâng không nói một câu...”. Đành phải hỏi nghiêm trang việc con cái học hành, lao động tốt cho đúng nội qui, không thôi buổi viếng thăm bị cúp! Thảm hơn hết là: Ngàn dặm t́m chồng, trèo đèo, vượt suối, sang sông để chỉ được nh́n mặt nhau trong mười lăm phút phù du!

 

 

TÙ XƯA GẪM TÙ NAY

 

Đâu phải đợi đến khi chị Minh Hằng vào “cơ sở giáo dục” Thanh Hà mới biết việc “đi học tập” bằng “quyết định hành chánh”, không bản án. Ngày xưa ấy, dưới chân rặng Hoàn Liên đă thấy biết rồi. Khoảng giữa đường từ Bến Ngọc vào trại tù Tân Lập là “Trường Dạy Nghề Thiếu Nhi” cũng giống như “Cơ sở giáo dục” dành cho người lớn hiện nay. Có điều học viên người lớn chừng như may mắn hơn các cháu nhỏ thiếu nhi ngày ấy, bởi v́ trường của các cháu cũng có một ḷ gạch đồ sộ. Cứ tưởng tượng các cháu nhỏ tuổi mười lăm, mười ba, thân h́nh c̣m cơi, vác khối đất sét nặng như người lớn, lên xuống hầm sâu trơn trợt ngă té ngày ngày th́ mới thấy thật là thương.

 

C̣n việc thăm nuôi thời cũng như vậy. Thời ấy, người tù Miền Nam, mỗi 6 tháng, thường khi dài hơn, mới nhận được một gói quà 5 kí từ gia đ́nh gởi. Không ít anh em thủy chung không nhận được gói quà nào, bèn xưng là “con bà phước.” nghĩa là mồ côi.


Ngày nay, chị Minh Hằng được con gặp mặt, tiếp tế hằng tháng đă là quí hóa rồi. Lại c̣n thấy mặt bạn bè dẩu là từ xa vẫy gọi. Riêng LS. Hà Vũ c̣n được cặp tay hiền nội, thong dong đi lại trong trại tù, lại c̣n thong dong họa h́nh tặng nội nhân nữa mới thật là bay bướm.

 

Chót hết là vấn đề quan trọng tử sinh: Thời hạn ở tù. Ngày xưa, anh em chúng tôi khổ sai trong vô vọng v́ không biết ngày nào mới thóat kiếp đoạn trường! Ngày nay dù 24 tháng hay 7 năm vẫn là hạn kỳ nhất định.

 

V́ vậy, cho nên mới có:

 

ĐÔI LỜI NHẮN GỞI

 

Đâu phải viết bài nầy để tả oán về kiếp tù đày thuở trước bởi v́ chuyện ngày xưa ấy đă trôi qua từ ngót 40 năm, thế kỷ trước rồi. Cũng không phải để suy b́ ǵ về t́nh cảnh tù đày ngày trước, ngày nay.

 

Đây là tâm t́nh để nhắn gởi các bạn trẻ hiện nay đang dấn thân tranh đấu! Các bạn coi đó, ngày xưa, chúng tôi cũng bằng tuổi các bạn ngày nay, chỉ v́ thua trận lâm cảnh tù đày. Gian nan lắm, nhưng bằng ư chí và ḷng kiên nhẫn, rốt rồi cũng vượt qua được. C̣n như ngày nay, các bạn tự nguyện tranh đấu v́ nghĩa lớn dân tộc th́ dẫu có sa cơ, lâm ṿng lao lư th́ vẫn là niềm hănh diện của tuổi trẻ. Huống chi t́nh h́nh đất nước ngày nay tiềm phục biết bao đột biến. Vậy th́ cứ hăng hái tiến lên. Ngày xưa những anh hùng áo vải Quang Trung, Lê Lợi dấy nghĩa làm nên sự nghiệp. Ngày nay, lớp trẻ nối nghiệp cha, ông quyết chí đạp đổ cường quyền, không phải v́ ước mơ công hầu khanh tướng mà chỉ v́ cứu nước, cứu dân mới thật là hào hùng, cương liệt.

 

Ngày nay, tôi chỉ trông cậy vào giới trẻ “chiến đấu” bằng tấm ḷng trong trắng, hào hiệp xứng danh HÀO KIỆT.

 

 

Nguyễn Nhơn

(8/3/2013)

--------------------------------

 

Thế Nào Là Tù Cải Tạo?

 (Bài 1)

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

  

 

 Người tù trại cải tạo

 

    

Để người Việt chúng ta, những ai may mắn không “được” vào các nhà tù của cộng sản Việt Nam, hiểu thêm thế nào là tù “cải tạo” ? Và cũng để biết rơ hơn về chính sách của bạo quyền Hà Nội đối với các vị tù là Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Ḥa, trong đó có các vị chỉ là cựu Sĩ quan, cựu viên chức của thời Đệ Nhất VNCH dù đă được giải ngũ từ lâu, nhưng sau ngày 30-4-1975, các vị đă bị đưa vào các nhà tù ; chắng những vậy, mà Việt cộng c̣n lấy những lời tố cáo của những tên thầy chùa đă vu chụp cho một số vị này là “Cần Lao ác ôn” qua những cái gọi là “Ṭa án nhân dân” do bọn thầy chùa Ấn Quang đă  lập ra, và cũng do chính những tên thầy chùa này đă đọc lên những “bản cáo trạng”, chỉ  v́ các vị đă từng phục vụ dưới thời Đệ Nhất VNCH do Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lănh đạo, trong đó có Thiếu tá Nguyễn Xuân Giáo, cựu Trưởng ty Cảnh sát Quốc gia tỉnh Quảng Nam, ông đă bị hành hạ cho đến nỗi không c̣n là một con người nữa, và ông chết trong nhà biệt giam tối tăm, lạnh lẽo mà tôi đă viết qua trong bài 30-4-1975 : Máu và Nước Mắt.

 

   Thế nhưng, sau khi vượt thoát khỏi bàn tay của bạo quyền Hà Nội, th́ tôi lại đọc được những bản tin và h́nh ảnh “ ở tù” của Nguyễn Đan Quế, không biết đă do một bàn tay nào đó đă chụp, rồi đem phổ biến tại hải ngoại. Và đây là một  Nguyễn Đan Quế:

 

   Bác sĩ Nguyễn Đan Quế , c̣n có tên là Nguyễn Châu. Sinh ngày 13-4-1942 tại Hà Nội, “di cư” vào Nam năm 1954.Tốt nghiệp Bác sĩ năm 1966.

 

   Từ năm 1968 đến 1974, Nguyễn Đan Quế được đi tu nghiệp tại Pháp, Bỉ và Anh. Trong thời gian này, Nguyễn Đan Quế đă nhân danh của tổ chức “Hướng Về Đất Việt” tại Pháp, một tổ chức ra sức ủng hộ “Mặt trận Giải phóng miền Nam” và quyết liệt chống chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa.

 

   Tháng 7-1974, Nguyễn Đan Quế về nước, dạy tại Đại học Y khoa Sài G̣n và hành nghề tại bệnh viện Chợ rẫy. Ngày  30-4-1975, Nguyễn Đan Quế là một trong những tên đă từng mang cờ của Phật giáo và cờ của “ Mặt trận Giải phóng miền Nam” đi đón rước cộng quân vào thủ đô Sài G̣n. Nhưng rồi chẳng biết tại sao, sau đó, tại hải ngoại lại phổ biến những bản tin  và h́nh ảnh của Nguyễn Đan Quế đă bị Việt cộng bắt và đă ”bị tuyên án hai mươi năm tù khổ sai”  và đă “ở tù mười năm”; rồi sau đó lại nói “ở tù gần ba mươi năm, bị biệt giam, tra tấn...”

 

     Ngày 11-5-1990, Nguyễn Đan Quế lập ra tổ chức Cao Trào Nhân  Bản”, và thảo ra “Lời kêu gọi”  rồi phổ biến ra hải ngoại. Người đầu tiên nhận được “Lời Kêu Gọi” này là Vương Văn Đông đang định cư tại Pháp, Vương Văn Đông là cựu Trung tá, thuộc nhóm chủ mưu cuộc đảo chánh ngày 11-11-1960, Vương Văn Đông cũng là một người thân cận của  “ông” Luật sư Hoàng Cơ Thụy là anh ruột của Hoàng Cơ Minh người cầm đầu cuộc đảo chánh ; song Hoàng Cơ  Thụy đă được ngoại  nhân đưa ông ta ra khỏi nước, và Hoàng Cơ Thụy đă đến Pháp.  Sau đó, đă do một người thân tín nhất của Nguyễn Đan Quế viết thành một tập “Tài Liệu Tuyệt mật” trong đó, là một “tài liệu gián điệp” gồm hai bản viết tay hai lần, sau đó được đánh máy, tập tài liệu này chỉ có một số rất ít trong “bộ năo”  của tổ chức này mới được đọc và nghiên cứu, ngoài ra không ai được biết cả. Và tổ chức “Hướng Về Đất Việt” đă phải cải danh thành “Phật Tử Hướng Việt” để đánh lừa thiên hạ, và do một người được sự tín cẩn của Nguyễn Đan Quế cầm đầu, lúc mới ra đời đă  hoạt động công khai một thời gian ngắn, nhưng  sau đó đă rút vào bóng tối để hoạt động bí mật, và đă đứng đằng sau của nhiều tổ chức tại hải ngoại, và cũng do người này  điều khiển cho đến tận hôm nay.

 

   Và nội dung của “Tài Liệu Tuyệt Mật” đó có cả một “chương t́nh từ Gieo hạt - Đơm hoa- Kết trái” của  tổ chức “Cao Trào Nhân Bản”. Mặc dù đă biết, nhưng tôi đă im lặng cho đến hơn mười năm sau, khi thấy băng đảng Hoàng Cơ Minh tức Việt Tân đă đánh trống thổi kèn, để đánh bóng tên tuổi của Nguyễn Đan Quế qua cái gọi là  “Đại Hội Liên Kết Trong Ngoài”, v́ nhận thấy những mưu đồ đen tối của “Cao Trào Nhân Bản” nên tôi đă đề cập đến qua loạt bài : Vạch mặt bọn cộng sản gian manh đanh núp bóng người Quốc gia -Tỵ nạn, đă được đăng trên Hồn Việt.

 

    Mặc dù vậy, tôi cũng chỉ có thể nói đến đó mà thôi, song tôi xin kèm theo bài viết này  là một tấm h́nh của Nguyễn Đan Quế đă được phổ biến rộng răi, và được chú thích là đă chụp lúc Nguyễn Đan Quế đang nhận quà thăm nuôi. Trong h́nh gồm có bốn người, có một người quay lưng, tấm h́nh cũng cho thấy Nguyễn Đan Quế đang ngồi bên cạnh  vợ  là ca sĩ Tâm Vấn, trước mặt là một chiếc bàn đang bày đầy những món quà thăm nuôi, và cả hai đang tươi cười vui vẻ để chụp h́nh. Và tôi đă nh́n thật kỹ tấm h́nh này, v́ thế, tôi đă nhận ra : đây không bao giờ là một cảnh thực của một cuộc gặp mặt giữa gia đ́nh và người tù “cải tạo” ; nghĩa là Nguyễn Đan Quế không phải là người tù, cho dù Quế có trong tay đến cả hàng trăm cái “ Giấy ra trại” th́ cũng đều là giả tạo. Vậy, tôi phải phân tích cho thật rơ ràng như sau :

 

   Thứ nhất, chính tôi đă từng ở trong nhà tù “cải tạo” tám năm, trong thời gian ấy, tôi cũng đă nhiều lần đi đến “ nhà thăm nuôi” để gặp gia đ́nh, tôi xin kể lại để cho quư độc giả, những ai chưa hề biết về nhà tù “cải tạo” sẽ được tường tận hơn :

   Tôi vẫn nhớ như in, với những lần được thăm nuôi, được gặp gia đ́nh, ngoài tôi c̣n rất nhiều các vị tù cũng đều gặp mặt gia đ́nh trong nước mắt . Và đây, là “ diễn biến” của mỗi lần được thăm nuôi :

 

  Hàng ngày tất cả tù “cải tạo” đều phải đi lao động, kể cả khi gia đ́nh đă lên trại, đă chờ ở nhà thăm nuôi rồi, mà người tù vẫn không hề biết, nhất là vào dịp Tết th́ v́ người đi thăm nuôi quá đông, nên người tù phải chờ đợi đến phiên ḿnh sẽ lâu hơn, có khi thịt, cá kho đă bị lên men th́ mới đến tay người tù. Và người tù chỉ biết ḿnh sẽ gặp người thân, khi được “cán bộ phụ trách thăm nuôi” thông báo qua “cán bộ trực trại”, rồi “cán bộ tực trại” lại thông báo qua một “trật tự” của trại, là một người tù được công an trại tin tưởng nhất. Lúc đó, người tù sẽ được nghỉ lao động một ngày để đi thăm nuôi. Nhưng mỗi lần thăm nuôi không như trong tấm h́nh của Nguyễn Đan Quế đă được phổ biến, mà tất cả tù nhân mỗi lần đi đến nhà thăm nuôi đều có một “cán bộ phụ trách thăm nuôi dẫn giải” đi kèm và một “trật tự” cùng với một số người trong mỗi lượt để đi đến nhà thăm nuôi.

 

 

    Một mô h́nh của “nhà thăm nuôi”:

 

    Đó là một căn nhà xây gồm có hai pḥng, một pḥng lớn dành cho thân nhân của các vị tù “cải tạo” nghỉ tạm, có khi hai ba đêm để chờ đến phiên gặp người tù, tôi không biết trong pḥng ra sao, v́ chỉ nh́n bên ngoài, mà sau khi ra tù cũng không hỏi gia đ́nh ; c̣n pḥng thứ hai là một pḥng nhỏ khoảng 6x4m, tường gạch xây kín, không có cửa sổ, chỉ có một cửa lớn ra vào, ở giữa đặt một chiếc bàn dài khoảng 3 mét, phía dưới gầm bàn là một tấm gỗ dày bít kín, mục đích là để tù nhân không thể thông tin với thân nhân qua những “tín hiệu” bằng đôi bàn chân, và hai bên chiếc bàn cũng được đặt hai chiếc ghế dài, để thân nhân ngồi một bên, c̣n tù nhân phải ngồi một bên. Ngoài ra, ở đầu bàn phía trong pḥng được đặt một chiếc ghế vuông, chiếc ghế này dành cho “ cán bộ phụ trách thăm nuôi” tức một tên công an chuyên dắt tù đi thăm nuôi. Tất cả tù nhân đều phải ngồi trước mặt tên công an này, và “nội quy” bắt buộc các tù nhân đều phải ngồi cách nhau cái mặt bàn, khi nói chuyện th́ tất cả đều phải nói thật lớn, để cho tên công an nghe cho rơ ràng ; v́ thế, chẳng ai nói được lời ǵ ngoài mấy câu thăm hỏi sức khỏe, trong khi thân nhân của người tù ai cũng biết sức khỏe của người tù chẳng khác ǵ những bộ xương biết đi. Do đó, mỗi lần gặp nhau tối đa chỉ trong ṿng 15 phút, nên thường là những cuộc gặp ngắn ngủi trong nước mắt, nhưng không được khóc lớn v́ sẽ bị cúp thăm nuôi. Chưa kể đến những lần người tù bị “ cán bộ giáo dục” bắt đọc “35 Điều Nội quy” trước khi ra nhà thăm nuôi, và  đă có người v́ không thuộc “nội quy” nên đă  bị cúp thăm nuôi ; Chính v́ vậy, mà tôi đă thuộc “nội quy” bởi tôi sợ bị cúp thăm nuôi, không được gặp gia đ́nh, th́ thân nhân của ḿnh sẽ đau buồn biết mấy, khi đă vượt suối, băng rừng mới đến trại tù để gặp được tôi,  tôi cũng phải nhắc lại, là mỗi lần thăm nuôi, người tù chỉ được nhận tối đa gồm tất cả là 10 kư mà thôi, và sau khi nhận quà th́ “trật tự” trại sẽ dùng dao cắt hết bánh chưng, bánh tét, bánh ḿ v…v…c̣n những hũ thịt, cá kho th́ “trật tự” lại phải đổ ra một cái thau nhựa, rồi dùng đũa mà đào xới để xem có thư từ ở trong đó hay không.

 

    Thứ hai, khi nh́n ca sĩ Tâm Vấn ngồi bên chồng là Nguyễn Đan Quế, cả hai đều tươi cười như hoa, về “bà” Tâm Vấn cũng không giống một người vợ của tù “cải tạo”. Tôi vẫn nhớ rất rơ các chị là vợ của các vị tù bên trại nam, mỗi lần thăm nuôi đều phải gian nan, băng rừng, lội suối, trèo đèo, lặn lội lên đến trại tù, khi gặp mặt chồng, th́ mặt mày đă xác xơ, buồn thảm, chứ chẳng có ai được như ca sĩ Tâm Vấn đă tươi cười như hoa, lại được ngồi sát bên chồng là Nguyễn Đan Quế cả.

 

   Thứ ba, ai là người đă chụp tấm h́nh với cảnh “thăm nuôi” của Nguyễn Đan Quế và vợ là ca sĩ Tâm Vấn trong lúc Quế đang ở tù,  rồi ai là người đem rữa tấm h́nh này  và đă gửi ra hải ngoại ???

 

   Vậy , nhân đây tôi xin các vị cựu tù nhân “cải tạo” có vị nào đă được chụp h́nh chung với vợ bằng cách nào, th́ xin quư vị cho mọi người được nh́n thấy, đồng thời phải có lời giải thích một cách xác đáng và thuyết phục mọi người, chứ không được ngụy biện.

 

     Một lần nữa tôi kính xin quư vị Quân-Cán-Chính VNCH, đă từng ở trong các nhà tù “cải tạo” hăy nh́n xem vợ chồng của “người tù” Nguyễn Đan Quế mà tôi đă đính kèm theo  đây, mà thiết nghĩ : ngày xưa nếu các vị được ở tù như thế này, th́ đâu có ai phải tự tử, hoặc trốn trại, để rồi phải chịu những cảnh bị đánh đập, bị vào nhà biệt giam và bị cùm hai chân cho đến phải bị què  hay đến chết. Tôi vẫn nhớ măi về những h́nh ảnh của các vị tù, ở trong nhà tù “cải tạo”, các vị đă bị hành hạ, đọa đày đến tận cùng của nỗi đau thương. Tôi vẫn nhớ những ngày cùng với các vị dầm ḿnh dưới śnh lầy tới ngực, tới bụng để cấy, gặt, trong những ngày dưới nắng lữa của mùa hè như thiêu như đốt, hoặc những ngày đông buốt giá đến thấu xương, các vị đă thay trâu ḅ để cày, bừa cho nữ cấy, gặt với “chỉ tiêu” nam cũng như nữ, đều phải “đạt” là 3 người 500 m2 mỗi ngày, tôi vẫn nhớ đến những con đĩa với những cái sọc đỏ, xanh, vàng cứ bám lấy thân người tù, chúng đă đục xuyên qua áo quần người tù để hút máu. Tôi vẫn nhớ những mùa trồng sắn đă leo lên đồi để vừa cuốc đất vừa trồng phải  ”đạt chỉ tiêu” 500  hom (tức gốc sắn) mỗi ngày. Tôi vẫn nhớ mỗi ngày lên rừng để “cắt bổi” là cắt những cành lá nhỏ để cho vào chuồng trâu, chuồng ḅ để làm phân bón ruộng với “chỉ tiêu” tùy theo đồng ruộng từ 150 đến 300 kư  một ngày, phải vừa cắt vừa bó lại và gánh về để cho “ kỷ thuật” cân cho đủ rồi mới cho vào chuồng. Nói tóm lại là bất kể một công việc nào cũng đều phải ”đạt chỉ tiêu” cả.

 

      Nhưng không phải “đạt chỉ tiêu” rồi th́ người tù được nghỉ, mà mỗi chiều về, có khi chưa kịp ăn chén sắn độn cơm, th́ đă phải đi “lao động tranh thủ” có khi làm cỏ lúa ở gần trại, có đêm th́ hái đậu phụng (lạc) ở sân kho, cũng phải ba người đầy một thúng rồi mới được về  pḥng, để đặt lưng xuống sạp gỗ chưa được bao lâu, th́ 6 giờ sáng đă bị “trật tự” trại đi đến từng pḥng la hét, đánh thức mọi người, để bắt đầu một ngày khổ sai kế tiếp.

 

  Tôi vẫn nhớ cảnh Trung tá Không Quân Nguyễn Văn Đức đă bị “cán bộ dẫn giải” đánh, đá anh đến suưt chết trước mặt Giáo sư Đồng Sĩ Ninh và  Mục sư Dương Đ́nh Nguyện (hiện các vị đang có mặt tại Hoa Kỳ) tại Đồng  Cừ, chỉ v́ cái “tội” rửa rau muống không sạch cho “cán bộ” ăn. Tôi vẫn nhớ những lời của Giáo sư Đồng Sĩ Ninh đă nói nhỏ với tôi :

 ” Tuyền ơi ! em đừng khóc nữa, em hăy tránh mặt đi, chứ không, coi chừng lại bị đánh lây, cùng anh Đức v́  “người ta” không cho phép tù  được thương tù nghe em, anh Đức chắc đă hiểu và không bao giờ quên được em đâu”.

 

    Tôi cũng đă chứng kiến Thiếu úy Nguyễn Văn Nồng, anh làm ở tổ thuốc lá, phía sau trại nữ ; trong một lần anh đă để cho tên công an Nguyễn Văn Xướng chồng của nữ “cán bộ” Nguyễn thị Thanh Hương lấy đi một miếng bánh dầu, tức xác đậu phụng được ép lại thành từng miếng  h́nh tṛn có đường kính khoảng 30 cm, dùng để bón cho những cây thuốc lá . Khi Nguyễn Hậu “ quản giáo” tổ thuốc lá và rau xanh thấy mất, tên Hậu đă hỏi, anh Nguyễn Văn Nồng trả lời : “cán bộ Xướng đă lấy rồi”.

Nhưng anh Nồng không ngờ được là tên Nguyễn Hậu liền rút một cây củi lớn bằng nắm tay , rồi lăm lăm bảo:

 

   “Anh Nồng, anh phải nằm xuống sạp trong cḥi cho tui đánh”.

    Và chắc Thiếu úy Nguyễn Văn Nồng cũng không ngờ được, chỉ có một chuyện nhỏ đó mà anh bị đánh, v́ công an lấy bánh dầu chứ anh có lấy để làm ǵ, v́ thế anh trả lời :

 

   “Thưa cán bộ, nếu cán bộ muốn đánh th́ cứ đánh, chứ tôi không thể nằm xuống sạp được, v́ chỉ có cha mẹ của tôi mới có thể bắt tôi phải nằm xuống để đánh mà thôi”.

 

  Nhưng  nhiều người, trong đó có tôi,  không thể ngờ được là tên Nguyễn Hậu đă dùng khúc củi trên tay và đă đánh tới tấp vào người anh Nồng, cho đến khi anh Nồng ngă quỵ xuống đất, hắn mới chịu buông tay, lúc hắn bỏ khúc củi xuống, là lúc chúng tôi đỡ anh Nồng ngồi lên trên mặt đất ; song anh đă ngất xỉu và anh đă bị găy một cánh tay, tôi nhớ là phía trái, nếu là tay phải th́ anh Nồng hiện đang có mặt tại Mỹ hăy cho trang điện báo Hồn Việt biết để sửa lại cho đúng. Sau đó,  bọn công an trại đă đưa anh xuống bệnh viện Tam Kỳ, khi trở lên trại  chẳng những không được nghỉ, mà anh Nồng c̣n phải tiếp tục đi lao động với một tay, c̣n tay kia đă bị băng bột và treo lên cổ, trước sự đau xót của tất cả tù nhân  trong trại .

 

   Và đó, chỉ là một số trường hợp, trong vô số những trường hợp đau thương của các vị tù nhân “cải tạo”.Tôi cũng không hề thấy một vị tù nào mà thân thể không trơ trọi như những bộ xương. Bởi tất cả các vị đều bị hành hạ từ thể xác đến tinh thần, v́ chính họ là những người tù khổ sai thực sự. V́ thế, tuyệt đối không bao giờ có một người tù nào béo tốt, tươi cười rạng rỡ không hề có chút dấu vết ǵ để được gọi là “tù  khổ sai” như Nguyễn Đan Quế khi ngồi bên vợ, mà băng đảng “Cao Trào Nhân Bản” đă tuyên truyền là “ Nguyễn Đan Quế đă bị Việt cộng tuyên án hai mươi năm tù khổ sai và đă ở trong tù mười năm”. Tuy nhiên, dù láo khoét, lừa bịp nhưng “Cao trào Nhân Bản” cũng đă tóm thâu được một số người vào tổ chức, nhưng rồi chính Nguyễn Đan Quế trước đây, cũng đă công khai lên tiếng trên đài RFA để kêu gọi xóa bỏ hận thù và ḥa hợp - ḥa giải với đảng Cộng sản Hà Nội. Song h́nh như nhiều người vẫn chưa sáng mắt, vẫn đui mù nên vẫn cứ đi theo tấm bảng chỉ đường của Cao Trào Nhân Bản” “Phật Tử Hướng Việt” đang nằm trong băng đảng Phật giáo Ấn Quang.

 

   Nên biết, trong nhà tù của VC đều có rất nhiều vị Trí thức như: Linh Mục, Mục sư, Luật sư Chánh án, Giáo sư, Bác sĩ, Sĩ quan cao cấp và cán cán bộ của các chính đảng.

 

 Vậy, băng đảng Cao Trào Nhân Bản đừng có ngụy biện rằng v́ Nguyễn Đan Quế là Bác sĩ, là trí thức nên có “chế độ” khác. Tôi khẳng định là tất cả các tù nhân của trại tù của cộng sản Hà Nội đều phải lao động khổ sai, đều bị hành hạ như nhau. Chỉ có những tên tù trá h́nh, chúng là những tên cán bộ “đặc vụ” đă được Việt cộng bố trí cho vào các nhà tù “cải tạo” chỉ để tŕnh diễn những tṛ ma giáo với các vị ở tù thật, để rồi sau đó, chúng trở thành những “ nhà tranh đấu” mà thôi.

 

Tội ác của Nguyễn Đan Quế : Từ tổ chức “Hướng Về Đất Việt - Phật Tử Hướng Việt” và “Cao Trào Nhân Bản”.

 

   Như tôi đă nói : Tội ác không phải chỉ riêng cho những tên đao phủ, mà kể cả những tên đă đứng đằng sau của những tên đao phủ, và Nguyễn Đan Quế cũng như Vơ Văn Ái, Đoàn Viết Hoạt và nhiều tên nữa, là những tên đă từng đứng đằng sau của những tên đao phủ ấy. Bởi Nguyễn Đan Quế đă được trưởng thành dưới những mái học đường của cả hai nền Đệ Nhất và Đệ Nhị Việt Nam Cộng Ḥa. Nguyễn Đan Quế đă được chính phủ VNCH ưu đăi cho đi tu nghiệp ở ngoại quốc, là để có đủ tŕnh độ Y khoa hầu phục vụ cho mọi người, chứ không phải đi ra nước ngoài để cùng lũ “phản chiến”, thành lập ra cái gọi là “Hướng Về Đất Việt” tại Pháp, và Nguyễn Đan Quế đă công khai ủng hộ cái “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” mà đa số những người có kiến thức, trong đó có Nguyễn Đan Quế đều biết là do cộng sản Hà Nội đă đẻ ra.

 

  

 

   Tấm h́nh này đă được chú thích : Nguyễn Đan Quế đang được vợ: ca sĩ Tâm Vấn “thăm nuôi”.

 

 

      Nhưng chính Nguyễn Đan Quế trong suốt thời gian ở ngoại quốc đă đứng trong cái tổ chức “Hướng Về Đất Việt ” là cái b́nh phong để cho Quế hoạt động cho cộng sản Hà Nội,  ủng hộ “Mặt trận Giải phóng miền Nam” và đă quyết liệt chống Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa,  Nguyễn Đan Quế cũng đă núp dưới những chiêu bài  phản chiến – đ̣i Mỹ rút quân.

 

   Nên nhớ, là Nguyễn Đan Quế đă đi “tu nghiệp” chỉ từ năm 1968 đến năm 1974. Như vậy, Nguyễn Đan Quế đă biết tất cả những cuộc thảm sát tại Việt Nam, kể từ những năm đầu của thập niên 1960, cho đến cuộc thảm sát Tết Mậu thân và cuộc bạo loạn bàn Phật xuống đường tại miền Trung, mùa hè 1966, đă do Phật giáo Án Quang gây ra, và những trận chiến của mùa hè 1972, Nguyễn Đan Quế đều biết về những quả pháo kích của Việt cộng đă nổ chụp vào các khu phố chợ, những nhà thương, trường học trên khắp miền Nam đă làm cho không biết bao nhiêu trẻ thơ và đồng bào vô tội đă chết hoặc đă trở thành người tàn phế. Nhưng, Nguyễn Đan Quế và đồng bọn đă thành lập ra cái tổ chức “Hướng Về Đất Việt” chỉ để ủng hộ cộng sản Hà Nội đồng thời để chống Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa. Nên nhớ, Nguyễn Đan Quế chỉ đi “tu nghiệp” rồi trở về Việt Nam thôi, chứ Quế đâu có phải như những người Việt tỵ nạn VGCS sau 1975 tại hải ngoại, th́ chẳng có căn cớ ǵ để phải “Hướng Về Đất Việt”, mà tổ chức này được thành lập là để liên thủ cùng với lũ phản chiến của Thích Nhất Hạnh để tuyên truyền láo bịp rằng : “trên một con lộ tại một làng nhỏ tại Việt Nam, có một chiếc xe ḅ với người thiếu phụ cùng đứa con thơ và bà mẹ già đă bị mấy người lính Mỹ bắt đưa lên một chiếc trực thăng bay đi mất” hoặc “máy bay của quân đội VNCH đă oanh kích xuống tỉnh Bến Tre đă làm cho 300 000 nhà cửa và đồng bào chết thảm trong cơn khói la”, để khiến cho các chính giới ngoại quốc họ đổ tội cho chính quyền Việt Nam Cộng Ḥa ; đặc biệt là những Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă gây ra chết chóc cho đồng bào chứ không phải là Việt cộng. Nguyễn Đan Quế cũng không hề lên tiếng về sự kiện quân Tầu cộng đă đánh chiếm hải đảo Hoàng Sa ngay chính  trong thời gian năm 1974, là lúc Quế đang ở trong tổ chức “Hướng Về Đất Việt”, mà Nguyễn Đan Quế chỉ lợi dụng trong trong thời gian “tu nghiệp” để đi khắp nơi, để vận động cho phong trào phản chiến, đ̣i Mỹ rút quân và quyết liệt chống đối chính quyền và quân đội của Việt Nam Cộng Ḥa, để cho Miền Nam Tự Do sớm rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt.

 

     Chính v́ vậy, nên Nguyễn Đan Quế và tổ chức “Hướng Về Đất Việt” cũng như chiến dịch “Hoa Sen Trong Biển Lửa” đều là những nhát dao chí mạng mà Nguyễn Đan Quế và tổ chức “Hướng Về Đất Việt” đă đâm xoáy vào sau lưng của những Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa, đang ngày đêm gh́ chặt tay súng trên những vọng gác ở những nơi tiền đồn heo hút gió. Vậy, ta hăy liên tưởng đến h́nh ảnh của những người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đang ngồi trên những vọng gác ấy. Song rồi ta cũng cần phải biết đă có không biết bao nhiêu những Người Chiến Sĩ đă bị cộng quân bắn tỉa, trong lúc các anh đang hướng tầm mắt để quan sát những di chuyển của địch quân, v́ thế, các anh đă trúng đạn của địch, và thân xác của những người Chiến Sĩ  đă nhuộm đầy máu đỏ, đă thấm đẫm chiếc chiến bào và các anh đă rơi từ trên cḥi cao của những vọng gác xuống nền đất lạnh, trên những bụi gai sắc nhọn  giữa rừng khuya, và thân xác của các anh lại bị thêm những vết thương khác, do những nhánh gai rừng đă đâm sâu vào châu thân, và máu của những người Chiến Sĩ đă chan ḥa từ vết đạn của quân thù, và đă ứa ra từ những mũi gai  rừng, trước khi gục chết tức tưởi giữa núi rừng hoang lạnh, chỉ v́ các anh đă chắp tay súng để bảo vệ hậu phương, bảo vệ đồng bào,  bảo vệ miền Nam Tự Do và bảo vệ cho những sinh viên như Nguyễn Đan Quế được an lành đến các trường Đại học, để trở thành những bác sĩ, nhưng không phải để phục vụ cho người dân mà để phục vụ cho đảng cộng sản Hà Nội, và để cho Nguyễn Đan Quế được b́nh yên rời khỏi nước để đến Pháp, đến Bỉ, đến Anh để thành lập ra tổ chức “Hướng Về Đất Việt” và Quế đă nhân danh cái tổ chức này đ hô hào phong trào phản chiến, để ủng hộ “ Mặt trận Giải phóng miền Nam” và quyết liệt chống chính phủ của miền Nam Tự Do và cả những Người Chiến Sĩ  của Việt Nam Cộng Ḥa. Ôi ! những viên đạn đó, là của quân thù, hay là của những tên đang Hướng Về Đất Việt” của Nguyễn Đan Quế đă Hướng thẳng vào phía sau lưng của những Người Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa để giết chết các anh trong lúc các anh đang thi hành Nghĩa Vụ Bảo Quốc An Dân ???!!!

 

    Nhưng giờ đây, sau những tháng năm dài gian manh, lừa gạt niềm tin của nhiều người, th́ chính Nguyễn Đan Quế đă và đang ḥa hợp-ḥa giải với cộng sản Hà Nội. V́ thế, trong suốt thời gian qua, Nguyễn Đan Quế kẻ đứng đầu của một tổ chức  nghe rất đầy t́nh người qua cái tên gọi : “Cao Trào Nhân Bản” song đă không hề lên tiếng qua những biến cố đă xy ra tại quốc nội từ sự kiện Ṭa Khâm Sứ, Thái Hà, Loan Lư v…v… và hiện nay là vụ việc Việt cộng đă đập phá trường Khiết Tâm thuộc Giáo xứ An Hải, Đà Nẵng. Đặc biệt là Nguyễn Đan Quế đă dửng dưng trước hàng vạn tên lính Tầu, trong đoàn quân của “Mă Viện”, dưới lớp áo chuyên gia và công nhân đă và đang dẫm nát quê hương. Nguyễn Đan Quế đă im lặng trước những thảm cảnh đau thương của những đồng bào ruột thịt đă và đang bị những tên lính của bọn Tầu Phù hà hiếp, đánh đập. Ta phải biết tại sao Nguyễn Đan Quế không lấy tư cách là người đứng đầu của Cao Trào Nhân Bản để kêu gọi mọi người phải đánh đổ Bạo quyền Hà Nội, hầu để cứu lấy mảnh giang sơn, mà tiền nhân của chúng ta đă bao phen dày công dựng xây bằng cả  núi xương và sông máu ?!

 

   Và đó, là những nguyên nhân đă khiến tôi phải quyết tâm dứt bỏ tất cả , v́ phải đặt việc chung lên trên hết. Tôi muốn nói : Nguyễn Đan Quế và cả băng đảng “Cao Trào Nhân Bản” chỉ biết đặt Quyền Lợi riêng của phe nhóm ḿnh, chứ không hề thiết tha với Tổ Quốc và Dân Tộc. Như thế, đă quá đủ để cho chúng ta hiểu được rằng hai chữ “Nhân Bản” mà Nguyễn Đan Quế đă đặt sau hai chữ “Cao Trào”, là :  Bản Chất Bất Nhân.

 

       Chính v́ thế, mà dù có mơ màng cho đến tận “kiếp sau” th́ Nguyễn Đan Quế cũng không bao giờ có một ngày sẽ  “Xưng Vương rồi từ Vương lên Đế”. Đừng Ḥng.

 

Xin tái ngộ quư độc giả trong bài kế tiếp.

 

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 

---------------------------------------------------------

 

‘Được đề cử Nobel là vinh dự’

Cập nhật: 12:44 GMT - thứ ba, 22 tháng 4, 2014

 

 

Bác sỹ Nguyễn Đan Quế là một nhà vận động dân chủ nổi tiếng trong nước

 

Bác sỹ Nguyễn Đan Quế, một trong những nhà hoạt động dân chủ ở Việt Nam, nói với BBC rằng ông được đề cử cho giải Nobel Hòa bình 2014 nhưng cũng thận trọng nói rằng để được chọn để trao giải là một việc ‘rất khó khăn’.

 

Ngoài giải Nobel Hòa bình, ông Quế còn được đề cử cho Giải Nhân quyền Gwangju của Nam Hàn – một giải mà nhà vận động dân chủ nổi tiếng của Miến Điện Aung San Suu Kyi từng được trao.

 

Các giải Nobel như y khoa, kinh tế, nhận đề cử từ các tổ chức nghề nghiệp và học thuật. Nhưng giải Nobel Ḥa b́nh nhận đề cử từ bất kỳ ai "đủ tiêu chuẩn" như nghị sĩ, hiệu trưởng đại học, giáo sư khoa học, lịch sử...

 

Năm nay, số lượng đề cử cho Nobel Ḥa b́nh đạt mức kỷ lục, 278 người, gồm các tên tuổi như Giáo hoàng Francis, Tổng thống Nga Vladimir Putin, nhân viên t́nh báo Mỹ đă đào tẩu, Edward Snowden.

 

'Vinh dự'

 

“Đây là một vinh dự cho cá nhân tôi,” ông Quế nói với BBC từ Sài G̣n và cho biết ông được tin này từ tổ chức Tập hợp vì nền Dân chủ ở thủ đô Washington của Mỹ. Đây là một tổ chức vốn do ông Quế thành lập năm 2000.

 

“Tôi nghĩ rằng việc đề cử là sự khích lệ cho những anh em cùng hoạt động với chúng tôi vận động cho nhân quyền và dân chủ cho Việt Nam,” ông nói thêm.

 

Ông Quế cho biết ông được hai dân biểu Mỹ, một thượng nghị sỹ Canada và vị chủ tịch của Tổ chức Sáng kiến Á-Mỹ, một tổ chức phi chính phủ ở Washington, đề cử cho giải Nobel Hòa bình năm nay.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính