Biên giới Việt – Trung, hai mươi năm sau thay v́ sáng tỏ lại trở nên mơ hồ!

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Biên giới Việt - Trung: Thời điểm kư kết bất lợi hay không và hệ lụy?

 

Hai mươi năm sau khi Việt Nam và Trung Quốc kư kết hiệp ước về phân định Biên giới trên đất liền Việt - Trung, một số nhà quan sát thời sự Việt Nam từ trong nước và hải ngoại cùng nh́n lại và b́nh luận về tính thời điểm mà Việt Nam đă lựa chọn khi đàm phán.

 

Ông Trần Công Trục (nguyên Trưởng Ban Biên giới Chính phủ Việt Nam): Theo tôi, thời điểm, cách thức đàm phán và quá tŕnh kư kết Hiệp ước là không có ǵ bất lợi cả.

 

Ông Trương Nhân Tuấn: Thời điểm kư kết hai hiệp ước ta thấy ngay là Hiệp ước biên giới trên đất liền kư ngày 30 tháng 12 năm 1999 là ngày cuối cùng của năm. Hiệp ước về Vịnh Bắc Việt kư ngày 25 tháng 12 năm 2000, cũng nhằm ngày cuối năm, ngày lễ Giáng sinh.

 

Công cuộc phân giới và cắm mốc tính chẵn là 10 năm, từ cuối năm 1999 đến tháng 11 năm 2009. Ở các điểm mà hiệp ước biên giới ghi là "đường biên giới theo đường đỏ" là những địa điểm hay vùng có tranh chấp.

 

Kết quả sau khi so sánh bộ bản đồ mới theo Nghị định thư tháng 11 năm 2010 với bộ bản đồ do Pháp phát hành trước kia, Việt Nam thiệt hại mọi nơi trên đường biên giới. Tuy không nhiều, trung b́nh một hai cây số vuông cho mỗi nơi.

 

Sẵn dịp này tôi muốn trở lại để soi sáng những điểm mờ c̣n tồn đọng, đặc biệt những nơi lănh đạo Việt Nam nhiều lần giải thích nhưng không thuyết phục. Đó là hai địa danh Nam quan và Bản giốc.

 

Theo biên bản phân giới Pháp-Thanh th́ ở Nam Quan cột mốc biên giới mang số 18, có tên là Trấn Nam quan ngoại, nằm bên lề con đường từ Nam quan vê Đồng đăng, cách cổng Nam quan 100 mét về phía nam.

 

Vật đổi sao dời, từ năm 1885 bắt đầu phân giới đến Thế chiến thứ II, cổng Nam quan đă bị giật sập hai lần do chiến tranh Trung Pháp và Trung Nhật.

 

Cổng được xây lại sau này không nằm trên nền cũ mà dời về phía nam. Nếu xét bản đồ cũng như xét lại các nền dấu cũ, ước lượng cổng dời khoảng từ 500 mét đến 1 cây số lấn về phía Việt Nam. Trong khi con đường cũ từ Nam quan về Đồng đăng cũng không c̣n. Con đường này xưa gọi là "quan lộ" dành cho sứ thần Việt Nam đi qua Trung Quốc. Con đường không c̣n dấu vết và được thay thế bằng quốc lộ 1 và quốc lộ 1 A. Cột mốc số 18 cũng không thấy dấu vết. Cột mốc hiện tại trùng hợp với vị trí cây số zero của quốc lộ 1, cách cổng Nam quan khoảng 300 mét.

 

Tức là, nếu chiếu theo các biên bản thời Pháp-Thanh, cột mốc ở Nam Quan có thể dời về phía Việt Nam khoảng 1 cây số.

 

C̣n ở thác Bản giốc, theo biên bản phân giới Pháp Thanh, cột mốc ở đây mang số 53, cũng nằm bên lề một con đường, ở cuối khu rừng nhỏ. Từ mốc số 53 đến mốc 52 biên giới là trung tuyến sông Quây sơn. Theo các viên chức Việt Nam về phân giới, cột mốc cắm ở giữa sông, trên cồn P̣ thong. Điều này hiển nhiên không đúng. Việc di dời cột mốc hiển nhiên làm cho Việt Nam bị thiệt hại và Trung Quốc đặt tên cho thác này là "Đức thi

 

Quốc Phương BBC News Tiếng Việt

 

Ngay sau khi kết thúc việc đo đạc, cấm móc vào năm 2009, công luận đă xác nhận sự thật là như vầy:

 

Hiệp định phân định biên giới Trung – Việt

Kết quả Hiệp định biên giới năm 1999 của Việt Nam và Trung Quốc

 

Theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, đến 31/12/2008, hai bên đă phân giới khoảng 1.400 km biên giới, cắm 1.971 cột mốc,trong đó có 1.549 cột mốc chính và 422 cột mốc phụ. Toàn bộ 38 chốt quân sự trên đường biên giới đều đă được dỡ bỏ. Tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan, Việt Nam và Trung Quốc đă tiến hành cắm mốc 1117 trùng với vị trí mốc 19 cũ, đường biên giới đi qua Km số 0, mốc 19 cũ đến điểm cách điểm nối ray hiện tại 148m.Một nhượng bộ lớn của Việt Nam là khoảng cách 300 m cuối tuyến đường sắt từ Đồng Đăng đến đường biên giới cũ đă phải cắt cho Trung Quốc.

 

Khu vực cửa sông Bắc Luân năm 1888. Công ước năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh lấy cửa sông này làm đường biên giới

 

Tại khu vực thác Bản Giốc, theo quy định của Hiệp ước 1999, hai nước điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn P̣ Thoong, qua dấu tích trạm thủy văn xây dựng những năm 1960, quy thuộc 1/4 cồn, 1/2 thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam.

 

Tại cửa sông Bắc Luân, biên giới quy thuộc 3/4 băi Tục Lăm và 1/3 băi Dậu Gót cho Việt Nam, 1/4 băi Tục Lăm và 2/3 băi Dậu Gót cho Trung Quốc, và thiết lập khu giao thông đường thuỷ tự do cho nhân dân địa phương sử dụng luồng hai bên băi Tục Lăm và Dậu Gót. Tại khu vực Hoành Mô, đường biên giới đi giữa ngầm như từ trước đến nay chứ không theo trung tuyến ḍng chảy qua cống mới do Trung Quốc xây dựng những năm 1960. Khu vực mồ mả ở mốc 53 – 54 cũ (Cao Bằng) được giữ lại cho người dân Việt Nam mặc dù hai bên có nhận thức khác nhau về quy định của Hiệp ước 1999 về biên giới khu vực này đi theo chân núi. Khu vực rừng hồi người dân Trung Quốc trồng gần biên giới Quảng Ninh được bảo lưu cho phía Trung Quốc.

 

Theo Hiệp ước 1999, đường biên giới cắt ngang qua bản Ma Lỳ Sán (gồm 05 hộ, 35 khẩu thuộc tỉnh Hà Giang) và khu 13 nóc nhà của người dân Trung Quốc gần Lạng Sơn, hai bên hoán đổi cho nhau trên cơ sở cân bằng diện tích, không xáo trộn đời sống dân cư…

(https://vi.wikipedia.org/…/Vấn_)

 

Tóm tắt, công luận đă có lư khi cho rằng:

 

Bằng hiệp định kể trên, ngụy quyền “hán ngụy” đă dâng cho chủ chệt:

 

1/ Một giải đất biên giới 900Km2, bằng diện tích tỉnh Thái B́nh

2/ Trọn Ải Nam Quan, di tích lịch sử dân tộc

3/ Một nửa thác Bản Giốc, giang sơn gấm vóc của tổ tiên

4/ Một phần băi Tục Lăm của dân Việt

 

Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ

 

Sau 27 năm đàm phán, hiệp định Vịnh Bắc Bộ được Việt Nam và Trung Quốc kư kết ngày 25/12/2000. Việt Nam được 53.23% và Trung Quốc được 46.77% diện tích Vịnh.

 

Hiệp định này đă gây ra nhiều tranh căi giữa người Việt.

 

Ở một thái cực là quan điểm cho rằng công ước Pháp-Thanh năm 1887 đă phân định toàn bộ Vịnh Bắc Bộ bằng kinh tuyến 108°3’ (đó cũng là quan điểm ban đầu của Việt Nam trong đàm phán), phân định lại là sai và thiệt hại cho Việt Nam. Ở thái cực kia là quan điểm cho rằng hiệp định Vịnh Bắc Bộ năm 2000 là công bằng.

(http://www.bbc.com/…/110122_bacbo_agreement_10y)

 

Đặt ra một bên về các chi tiết kỷ thuật phức tạp, phần đông công luận đều cho rằng “hán ngụy” việt cọng đă nhượng cho chệt cọng gần phân nửa Vịnh Bắc Bộ với tiềm năng khai thác dầu hỏa lớn lao và mất một phần lớn ngư trường truyền thống của ngư dân Việt.

 

Ngày đó, công việc c̣n nóng hổi xem ra công luận c̣n gần với sự thật hơn bây giờ.

 

Diều đáng buồn hơn là:

 

Ngày nay, nếu như hàng thức giả trong nước cứ ngu ngơ như trong cuộc phỏng vấn kể trên, b́nh chân như vại th́ họa mât nước, diệt tộc là không tránh khỏi!

 

Ngày nay, nạn chệt xâm thực không phải chỉ trên Biên giới và Biển Đông.

 

Ngày nay, chệt xâm thực khắp mọi nơi:

 

- Từ cao điểm biên giới dưới dạng khai thác rừng đầu nguồn

- Trên “Nóc Nhà Tây Nguyên” dưới dạng khai thác quặng bauxite

- Các làng tàu mọc lên như nấm, ngày càng nhiều, tiêu biểu như Đông Đô Đại Phố B́nh Dương

 

Nguy nan hơn hết là họa “Đầu độc Toàn dân bằng đủ thứ thưc phẩm và hóa chất độc hại.

 

Nếu như tất cả mắt lắp, tai ngơ thỉ chỉ trong vài mươi năm nữa, Đất Mẹ Việt Nam sẽ biến thành như Tây Tạng – Tân Cương!

 

Tất cả hăy mau tỉnh thức kẻo không c̣n kịp nữa!

 

 

Con dân Việt lưu vong hải ngoại

thành tâm kêu gọi

Nguyễn Nhơn

30/8/2020

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính