Đường Thi Cảm Dịch

 

Nguyễn Minh Thanh

 

 

 

1 - MẠNH HẠO NHIÊN  ( 689-740 )

 

Trừ D Hữu Hoài

 

Ngũ canh chung lậu dục tương thôi,

Tứ khí thôi thiên văng phục hồi.

Trướng lư tàn đăng tài khứ diệm,

Lô trung hương khí tận thành hôi.

Tiệm khan xuân bức Phù Dung chẩm,

Đốn giác hàn tiêu Trúc Diệp bôi.

Thủ tuế gia gia ưng vị ngoạ,

Tương tư na đắc mộng hồn lai?

 

MẠNH HẠO NHIÊN

 

 

Nỗi Nhớ Đêm Giao Thừa

 

Đồng hồ chuông đổ giục năm canh

Thời tiết âm thầm luân chuyển nhanh

Hương hết lò im tro ướp lạnh

Lửa tàn đèn tắt gió khua mành

Phù Dung gối tựa Xuân đầm ấm

Trúc Diệp ly nâng rượu nhạt tanh

Nắm níu năm qua nhà chẳng ngủ

Nhớ nhau hồn mộng... cũng thôi đành...!

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

2 - VƯƠNG XƯƠNG LINH (khoảng 698-756)

 

Vạn Tuế Lâu

 

Giang thượng nguy nguy Vạn Tuế lâu,

Bất tri kinh lịch kỷ thiên thu.

Niên niên hỉ kiến sơn trường tại,

Nhật nhật bi khan thuỷ độc lưu.

Viên dứu hà tằng ly mộ lĩnh,

Lô tư không tự phiếm hàn châu.

Thuỳ kham đăng vọng vân yên lư,

ớng văn mang mang phát lữ sầu.

 

VƯƠNG XƯƠNG LINH

 

 

Lầu Vạn Tuế

 

Dãi dầu sương gió biết bao lâu

Sừng sững bên sông Vạn Tuế lầu

Năm lụn vui nhìn non đứng đó

Tháng tàn buồn ngắm nước về đâu...?!

Họp đàn vượn sóc leo đồi vắng

Nhập bọn vạc cò lội bãi sâu

Mây khói lên cao trông vợi vợi...

Dương tà bóng ngã... khách ươm sầu...!!

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

3 - VƯƠNG DUY ( 699-759 )

 

Vơng Xuyên Biệt Nghiệp

 

Bất đáo Đông sơn hướng nhất niên,

Quy lai tài cập chủng Xuân điền.

Vũ trung thảo sắc lục kham nhiễm,

Thuỷ thượng đào hoa hồng dục nhiên.

Ưu lậu tỳ khưu kinh luân học,

Ủ lũ trượng nhân hương lư hiền.

Phi y đảo tỷ thả tương kiến,

Tương hoan ngữ tiếu hành môn tiền.

 

VƯƠNG DUY

 

 

Nhà Riêng Ở Võng Xuyên

 

Tròn năm chẳng dịp viếng non Đông

Về trúng vụ Xuân đang vỡ đồng

Màu cỏ ươm mưa xanh biếc biếc

Sắc đào bóng nước đỏ hồng hồng

Học hành giới luật sư ông thạo

Hiếu hạnh gương làng cụ lão thông

Khoác áo mang giầy đi gặp bạn

Cười vui... trước cổng thỏa thuê lòng

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

4 - THÔI HIỆU ( 704? – 754 )

 

Hoàng Hạc Lâu

 

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Th địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương th

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà x th

Yên ba giang thượng s nhân sầu!

 

THÔI - HIỆU

 

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Cưỡi hạc người xưa bóng m mịt / mịt mờ (đúng vận Đường Thi)

Để lầu Hoàng Hạc đứng trơ vơ

Hạc vàng một thoáng mù tăm tích

Mây trng ngàn năm măi lng lơ

Sông biếc Hán Dương cây lộng bóng

Băi xanh Anh Vũ cỏ ươm mơ

Chiều rồi quê cũ phương nào nhỉ?

Khói sóng ơ h... ai ngẩn ngơ...!!

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

 

5 - LÝ BẠCH ( 701 - 762 )

 

Đăng Kim ng Phượng Hoàng Đài

 

Phượng Hoàng đài thượng, Phượng Hoàng du

Phượng khứ, đài không, giang tự lưu

Ngô cung hoa thảo mai u kính

Tấn đại y quan thành cổ khâu

Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại

Nhị thủy trung phân Bạch Lộ châu

Tổng vị phù vân năng tế nhật

Trường An bất kiến sử nhân sầu..!!

 

LƯ BẠCH

 

 

Lên Chơi Đài Phượng Hoàng Kim Lăng

 

Phượng đài cao vợi Phượng về chơi

Phượng vắng đài trơ nước vẫn trôi

Ngô điện cỏ hoa che kín lối

Tấn triều áo măo hóa hoang đồi

Thanh sơn ba ngọn trời chia nửa

Bạch lộ một cồn nước rẽ đôi

Mây phủ vầng dương mờ ánh sáng

Trường An khuất dạng khách bồi hồi...!!

 

Nguyễn Minh Thanh  cảm dịch

 

 

 

6 - ĐỔ PHỦ (712-770)

 

Đăng Cao

 

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,

Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,

Bất tận trường giang cổn cổn lai.

Vạn lư bi thu thường tác khách,

Bách niên đa bệnh độc đăng đài.

Gian nan khổ hận phồn sương mấn,

Lạo đảo tân đ́nh trọc tửu bôi.

 

ĐỖ PHỦ

 

 

Lên Đài Cao

 

Vượn hú trời cao gió dập dồn

Bờ trong cát trắng lũ chim muông

Trùng trùng nước biếc ào ào chảy

Điệp điệp lá vàng tất tả tuôn

Thu uá dạ sầu muôn dặm nhớ

Đài cao sức yếu một thân buồn

Gian nan dầy dạn sương pha tóc

Lắm bịnh hoành hành rượu phải buông...!!

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

 

7 - ĐỖ MỤC (803 – 852)

 

Giang Thượng Phùng Hữu Nhân

 

Cố quốc quy nhân tửu nhất bôi,

Tạm đ́nh lan trạo cộng bồi hồi.

Thôn liên Tam Giáp mộ vân khởi,

Triều tống Cửu Giang hàn vũ lai.

Dĩ tác Tương Như đầu phú kế,

Hoàn bằng Ân Hạo kư thư hồi.

Đáo thời nhược kiến đông ly cúc,

Vi vấn kinh sương kỷ độ khai.

 

ĐỖ MỤC

 

 

Trên Sông Gặp Lại Bạn

 

Nước cũ bạn về chuốc chén vui

Mái chèo tạm gác dạ bùi ngùi

Xóm chiều Tam Giáp mây liên khởi

Mưa lạnh Cửu Giang sóng cuộn trôi

Phú viết Tương Như nên học lấy

Thơ hồi Ân Hạo hãy theo thôi

Khi nào hoa cúc bờ đông nở

Ướm hỏi sương ươm mấy độ rồi...?

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

 

8 - TÀO ĐƯỜNG ( ? - ? )

 

Lưu Thần, Nguyễn Triệu Du Thiên Thai

 

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,

Vân hoà thảo tĩnh quưnh vô trần.

Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,

Thuỷ mộc không ngh́ mộng hậu thân.

Văng văng kê minh nham hạ nguyệt,

Thời thời khuyển phệ động trung xuân.

Bất tri thử địa quy hà xứ,

Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân.

 

TÀO ĐƯỜNG

 

 

Lưu Thần, Nguyễn Triệu Nhập Thiên Thai

 

Lối đá Thiên Thai mới trắng ngần

Cỏ lan sạch mát áp tường vân

Khói chan ráng đỏ quên tiền sự

Cây lộng dòng xanh tưởng hậu thân

Thánh thót sườn non gà gáy nguyệt

Vang vang cửa động chó nghinh xuân

Chẳng hay diễm điạ là đâu nhỉ

Lần đến Đào Nguyên diện chủ nhân

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

9 - LÝ THƯƠNG ẨN ( 813 - 858 )

 

Cẩm Sắt

 

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền,

Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên.

Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp,

Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên.

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ,

Lam Điền nhật noăn ngọc sinh yên.

Thử t́nh khả đăi thành truy ức,

Chỉ thị đương thời dĩ vơng nhiên.

 

LÝ THƯƠNG ẨN

 

 

Đàn Cẩm Sắt

 

Năm chục dây Cẩm Sắt hợp duyên

Mỗi dây mỗi trục hệ hoa niên

Trang Sinh hồn mộng mơ hồ điệp

Thục Đế lòng xuân gởi đổ quyên

Thương Hải trăng thanh châu nhỏ lệ

Lam Điền nắng ấm ngọc sanh yên

Tình này ví đã thành giai niệm

Xin giữ trong tim chút nỗi niềm...

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

10 - VĂN THIÊN TƯỜNG (1236 - 1282)

 

Quá Linh Đinh Dương

 

Tân khổ tao phùng khởi nhất kinh,

Can qua liêu lạc tứ chu tinh.

Sơn hà phá toái phong phiêu nhứ,

Thân thế phù trầm vũ đả b́nh.

Hoàng Khủng than đầu thuyết hoàng khủng,

Linh Đinh dương lư thán linh đinh.

Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,

Lưu thủ đan tâm chiếu hăn thanh.

 

 

VĂN THIÊN TƯỜNG

 

 

Qua Biển Linh Đinh

 

Cay đắng kinh qua lm cảnh t́nh

Bốn năm xiêu lạc lụy đao binh

Tả tơi mành gió đau hồn nước

Tan tác bèo mưa xót phận ḿnh

Thác Hoàng Khủng trập trùng khủng khiếp

Biển Linh Đinh lai láng linh đinh

Xưa nay ai sống mà không chết

Để tấm lòng son rạng sử xanh...

 

Nguyễn Minh Thanh cảm dịch

 

 

GA, Hạ đỏ August - 8 - 2017.

Nguyễn Minh Thanh cẩn bút

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính