Cổ thi,

Những bài thơ liên hệ với Mùa Xuân

 

Nguyễn Minh Thanh sưu tầm & dịch



Từ cổ chí kim, bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông; có lẽ Xuân và Thu là hai mùa gieo nhiều cảm hứng nhứt cho thi nhân. Theo trình tự thời gian, chúng ta lần lượt điểm qua 8 thi nhân Trung quốc và 9 thi nhân Việt Nam (kể từ Sư Măn Giác...):

 

   - Trần Đào, Thôi Hộ, Vương Xương Linh, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Trịnh Cốc, Đỗ Mục (Tàu)


   -  Sư Măn giác, Trần Quang Khải, Sư Huyền Quang, Trần Nhân Tôn, Chu Văn An, Lê Cảnh Tuân, Nguyễn Trăi, Hải Thượng Lăn Ông, Nguyễn Du.


1 - TRẦN ĐÀO, không rơ năm sanh, tử. Ông sống vào đời Hậu hán, với bài Lũng Tây Hành, cực kỳ xót xa cho con người thời chiến tranh. Người xông trận mạc điêu tàn, mà người chốn khuê pḥng cũng vô vàn đau khổ.


Chảy nước mắt xót thương cho quí quả phụ VN!!

 

     LŨNG TÂY HÀNH

Thệ tử Hung Nô bất cố thân

Ngủ thiên điêu cẩm* táng Hồ trần

Khả liên Vô Định** hà biên cốt

Do thị Xuân khuê mộng lư nhân

     TRẦN ĐÀO

 

* Áo mặc bằng da điêu thử (loại chuột to) cho ấm.

**Điạ danh, tên con sông hay thay đổi ḍng (vô định), cũng là chiến trường xưa.

   HÀNH QUÂN VÀO LŨNG TÂY

Ra đi quyết diệt lũ Hung Nô

Điêu cẩm năm ngàn chôn đất Hồ

Vô Định xót thương xương cốt rụi

Xuân pḥng thiếu phụ vẫn hoài mơ...!!

         NGUYỄN MINH THANH dịch


   HÀNH QUÂN VÀO LŨNG TÂY

Ra đi quyết diệt Hung Nô

Năm ngàn chiến sĩ đất Hồ mạng vong

Đống xương Vô Định mênh mông

Khuê pḥng thiếu phụ còn trông người về...!!

         NGUYỄN MINH THANH cảm dịch


2 - THÔI HỘ, vào đời Đường, không rơ năm sanh, tử; tên chữ Ân Công, làm chức Lĩnh Nam Tiết Độ sứ. Ông có bài thơ rất nỗi tiếng là bài ĐềTích Sở Kiến Xứ. Chuyện xưa chép:


Thôi Hộ, một hôm du Xuân, ngang qua trang viện, thấy bên trong rào thấp thoáng bóng giai nhân lẫn với hoa đào đang rộ nở; Ông vờ xin nước uống. Người đẹp đem cho, từ gĩa. Năm sau, cũng đúng ngày gặp giai nhân, Ông lại du xuân. Khi ngang qua nhà người đẹp năm xưa, nh́n măi không thấy bóng hồng, chỉ có hoa đào phơ phất y như mùa xuân trước.


Buồn t́nh, Ông viết bài thơ rồi cài lên cổng rào. Người đẹp từ quê ngoại trở về đọc bài thơ, thất t́nh, sinh bịnh, chết... !!!. Ngay đang khi liệm xác người ngọc, Thôi Hộ đến, tỏ rơ nguồn cơn. Ông xin phép gia chủ cho ông khấn nguyện đôi lời.. !! Lạ thay sau khi Ông khấn xong, người đẹp tỉnh dậy. Nghĩ rằng thiên duyên tiền định, gia đ́nh cho phép hai người kết hợp phu thê! Tuyệt diệu…!!


Trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du, lúc Kim Trọng thọ tang chú, từ Liêu Dương trở về t́m lại nhà cũ thămThúy Kiều có câu:

                          Trước sau nào thấy bóng người

                          Hoa đào năm ngoái c̣n cười gió đông

 

          Chính là điển tích này. Ngoài ra các sách chưa thấy bài thơ nào khác của ông. Và sau đây là bài:


   ĐỀ TÍCH SỞ KIẾN XỨ

Khứ niên kim nhật thử môn trung

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng

Nhân diện bất tri hà xứ khứ

Đào hoa y cựu tiếu đông phong

          THÔI HỘ


 ĐỀ CHỖ THẤY NĂM TRƯỚC

Cửa này năm ngoái hôm nay

Hoa đào chen với má ai ửng hồng

Bây giờ nơi cửa vắng không

Hoa đào vẫn vẫy gió đông mỉm cười

          NGUYỄN MINH THANH cảm dịch


3 - VƯƠNG XƯƠNG LINH (694 - 756), tự là Thiếu Bá, đời Thịnh Đường, thơ ông rất trao chuốt, hàm xúc, ít từ nhiều ư, như bài KHUÊ OÁN, chứa nỗi buồn mênh mang của thiếu phụ bên thúy lâu chợt nhớ chồng.


                 KHUÊ OÁN

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu

      VƯƠNG XƯƠNG LINH

 


     NỖI BUỒN CHỐN KHUÊ PH̉NG

Pḥng the thiếu phụ biết chi sầu

Trang điểm ngày xuân lên thúy lâu

Chợt thấy đầu đường dương liễu sắc

Tiếc để chồng đi kiếm tước hầu...!!

       NGUYỄN MINH THANH dịch


4 - LƯ BẠCH (701 - 762), tự Lư Thái Bạch, hiệu Thanh Liên cư sĩ, mẹ ông người Hồ, nên ông cũng rất thông chữ Hồ. Mười hai tuổi đă biết làm thơ... Càng lớn lên càng lừng lẫy tiếng tâm về thi tài.


Chuyện chép, một đêm Ông nằm mơ thấy ng̣i bút(bút lông) của ông đang viết tự dưng nở hoa. Kể từ ấy thơ Ông càng trác tuyệt; đặc biệt là càng uống rượu thơ càng hay…!! Sau có người tiến cử, vua Huyền Tông tức Đường Minh Hoàng và Dương Quí Phi trọng dụng, được ba năm th́ ông từ quan và ngao du sơn thủy. Nhà vua rất qúi ông, nên trước khi gĩa biệt cho phép ông uống rượu miễn phí, bất cứ quán xá nào cũng đều được qui vào công khố... Rồi lại làm quân sư cho phản vương, nhờ có người cứu cho khỏi tội chết, bị đi đày.


Sau cùng ở nhờ nhà người anh họ ở Đang Đồ và qua đời v́ bịnh. Có người cho rằng ông say rượu rồi nhảy xuống sông Thái Bạch ôm trăng mà chết.. !! Thơ của ông th́ nhiều, nhiều lắm, ở đây xin đan cử vài bài:

 

    XUÂN TỨ

Yên thảo như bích ti

Tần tang đê lục chi

Đương quân hoài qui nhật

Thị tiếp đoạn trường th́

Xuân phong bất tương thức

Hà sự nhập la vi?

        LƯ BẠCH

 


    Ư XUÂN

Cỏ Yên biếc màu tơ

Dâu Tần xanh mịt mờ

Khi chàng mong trở lại

Thiếp sầu nhớ ngẩn ngơ

Gió Xuân nào quen biết

Cớ sao vào trướng thơ?

  NGUYỄN MINH THANH dịch


     

XUÂN NHẬT TÚY KHỞI NGÔN CHÍ

Xử thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh

Sở dĩ chung nhật túy

Đồi nhiên ngọa tiền doanh

Giác la miên đ́nh tiền

Nhất điểu hoa gian minh

Tá vấn thử hà nhật?

Xuân phong ngữ lưu oanh

Cảm chi dục thán tức

Đối chi hoàn tự khuynh

Hạo ca đăi minh nguyệt

Khúc tận dĩ vong t́nh.

     LƯ BẠCH

 


NGÀY XUÂN SAY RƯỢU TỈNH DẬY NÓI CHÍ M̀NH

Sự đời giấc mộng lớn

Cớ sao lại nhọc nhằn

Nên suốt ngày say khướt

Trước hiên ngủ nằm lăn

Tỉnh dậy ngó ra sân

Trong hoa con chim hót

 Bữa nay ngày mấy nhỉ? (mà)

Chim ca ḥa gió Xuân

Tự dưng ta buồn khan

Rồi nghiêng bầu uống nữa

Hát vang chờ trăng sáng

Dứt hát cơn buồn tan.

      NGUYỄN MINH THANH dịch


5 - ĐỖ PHỦ (712 - 770), đời Đường, c̣n có tên Đỗ Thập Di, Đỗ Thiếu Lăng... ông nỗi tiếng thông minh ngay từ thuở nhỏ. nhưng cuộc đời ông rất lận đận và rất nghèo. Ông để lại gần hai ngàn bài thơ cho đời. Sau đây là vài bài thơ Xuân của Đỗ Phủ:

 

     XUÂN VỌNG (1)

Giang bích điểu du bạch

Sơn thanh hoa dục nhiên

Kim Xuân khan hựu quá

Hà nhật phục qui niên

        ĐỖ PHỦ


      XUÂN NHỚ

Sông biếc chim trắng phau

Núi xanh hoa rực rỡ

Mùa xuân đang qua mau

Ngày về biết năm nào?!

 NGUYỄN MINH THANH dịch


   XUÂN VỌNG (2)

Quốc phá sơn hà tại

Thành xuân thảo mộc thâm

Cảm thời hoa tiễn lệ

Hận biệt điểu kinh tâm

Phong hỏa liên tam nguyệt

Gia thư để vạn câm (kim)

Bạch đầu tao cánh đoản

Hồn dục bất thắng trâm.

        ĐỖ PHỦ


   TRÔNG XUÂN


Núi sông c̣n, nước phá

Xuân về cỏ hoang dă

Cám cảnh hoa rơi lệ

Hận biệt chim biến ca

Ba tháng trời khói lửa

Vạn đồng cánh thư nhà

Đầu bạc tóc thêm ngắn

Trâm cài lại rớt ra…!!

    NGUYỄN MINH THANH dịch


6 -  BẠCH CƯ DỊ (772 - 846), hiệu Hương Sơn cư sĩ, người Thiểm Tây, thuở nhỏ nhà nghèo, đỗ Tiến sĩ làm quan cao đời Đường, sau bị đày làm Tư Mă Giang Châu... Rồi được trở về kinh đô làm Thái Tử Thiếu Phó (thầy dạy thái tử), và trí sĩ với chức H́nh Bộ Thượng Thư.


Ông chủ trương thơ văn nên giản dị, dể hiểu, gắn liền với đời sống hiện thực và phục vụ nhân sinh, cho nên mỗi khi làm xong bài thơ, Ông đọc cho người nhà (người ở) nghe, rồi hỏi có hiểu không, chỗ nào chưa rơ, Ông sửa chữa lại. Đọc thơ Ông ḷng chúng ta cảm thán khôn cùng.. !! Như: Tần Trung Ngâm, Ông cảm thông nỗi thống khổ của dân nghèo.. !! Ông để cho đời hàng ngàn bài thơ, tiêu biểu TRƯỜNG HẬN CA, TỲ BÀ HÀNH... và thơ Xuân là:


     THƯƠNG XUÂN KHÚC

Thâm thiển thiềm hoa thiên vạn chi

Bích la song ngoại chuyển hoàng ly

Tàn trang hà lệ phá liêm tọa

Tận nhật thương Xuân Xuân bất tri

                    BẠCH CƯ DỊ

 


    BÀI CA TIẾC XUÂN

Trước thềm mờ tỏ nở đầy hoa

Mành lụa ngoài song hoàng yến ca

Phấn nhạt bên rèm ngồi ứa lệ

Thương Xuân, Xuân hỡi biết chăng là.. !!

     NGUYỄN MINH THANH dịch



     XUÂN ĐỀ HỒ THƯỢNG

Hồ thượng Xuân lai tự hoạ đồ

Loạn phong vi nhiễu thủy b́nh phô

Tùng bày sơn diện thiên trùng thúy

Nguyệt điểm ba tâm nhất khỏa châu

Bích thảm tuyết đầu trừu tảo đạo

Thanh la quần đái triển tân bồ

Vị năng phao đắc Hàng Châu khứ

Nhất bán câu lưu thị thử hồ

        BẠCH CƯ DỊ

 


    ĐỀ THƠ TRÊN HỒ XUÂN

Xuân đến hồ xuân tranh mượt màu

Lặng im phăng phắc núi vờn bao

Đồi nghiêng lớp lớp tùng lam ngọc

Nước chiếu lung linh nguyệt thúy châu

Thảm biếc trổ bông nương lúa mới

Lụa xanh trải lá đám bồ cao

Hàng Châu lưu luyến chưa từ giă

Phân nửa hồ thương nỗi dạt dào.. !!

  NGUYỄN MINH THANH dịch

 


7 - TRỊNH CỐC, không rơ năm sinh, thi nhân đời Đường, với bài thơ tiễn bạn trên bến sông:


     HOÀI THỦY BIỆT HỮU

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân

Dương hoa sầu sát độ giang nhân

Sổ thanh phong địch ly đ́nh văn

Quân hướng Tiêu tương ngă hướng Tần

          TRỊNH CỐC

 


TIỄN BẠN Ở BẾN SÔNG HOÀI

Dương Tử đầu sông dương liễu xuân

Dương hoa da diết khách sang sông

Ly đ́nh sáo muộn buồn theo gió

Anh hướng Tiêu Tương, tôi hướng Tần.

            NGUYỄN MINH THANH dịch



TIỄN BẠN Ở BẾN SÔNG HOÀI

Đầu sông Dương Tử liễu xuân

Dương hoa tha thiết lòng người sang sông

Gió đưa sáo muộn năo nùng

Tiêu tương bạn hướng tôi trông đường Tần

            NGUYỄN MINH THANH cảm dịch

 


8 - ĐỖ MỤC (803 - 852), tự MỤC CHI, hiệu Phàn Xuyên, người Thiểm Tây, thuộc quí tộc, người thanh tú, tính t́nh phóng túng, c̣n nhỏ ông đă nổi tiếng văn tài. Thơ ông rất ưu thời mẫn thế, nặng ḷng với quốc dân. Cũng có những vần thơ lăng mạn, nhưng không suy đồi mà mơ mộng hay thơ mộng và buồn buồn.


Có bài Tiếc Xuân:

                           
      TÍẾC XUÂN

Hoa khai hựu hoa lạc

Thời tiết ám trung thiên

Vô kế diên xuân nhật

Hà năng trú thiếu niên

Tiểu tùng sơ tán điệp

Cao liễu  tức văn thiền

Phồn diễm qui hà xứ?

Măn sơn đề đỗ quyên

     ĐỖ MỤC

 


      TIẾC XUÂN

Hoa nở rồi tàn hoa

Thời tiết thầm đi qua

Vô kế giữ xuân lại

Không thể kềm tuổi xanh

Tùng nhỏ bướm bay biệt

Liễu cao ve ru cành

Nét xuân ôi về đâu?

Đỗ quyên núi vang sầu...!

     NGUYỄN MINH THANH dịch

 


     * Thi Nhân Việt Nam:

9 - Sư MĂN GIÁC (1052 - 1096), vào đời nhà LƯ (VN), Ông là Thiền sư, trụ tŕ chùa Giáo Nguyên, thế danh là Nguyễn Trường hay Lư Trường. Trước khi viên tịch ông để lại bài thơ có tính Thiền Tông là:

 

 CÁO TẬT THỊ CHÚNG

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trực nhăn tiền quá

Lăo ṭng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai

         Sư MĂN GIÁC

 


CÓ BỆNH BẢO MỌI NGƯỜI

Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến nở trăm hoa

Sự việc bày trước mắt

Tóc bạc báo tuổi già,

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai

     NGUYỄN MINH THANH dịch


10 - TRẦN QUANG KHẢI (1241 - 1294), là con thứ 3 của Trần Thái Tôn, em ruột của vua Trần Thánh Tôn, ông học rông, biết nói nhiều thứ tiếng. Ông được phong tước Chiêu Minh Đại vương và nắm chức Thái Sư, ông để lại một ít bài thơ; thơ ông chứa hào khí ngất trời của trang dũng tướng như bài Ṭng Gía Hoàn Kinh, Xuân Nhật Hữu Cảm ...


Sau đây là 2 bài Xuân Nhật Hữu Cảm:

 

 XUÂN NHẬT HỮU CẢM (!)

Vũ bạch phi mai tế nhược ty

Bế môn ngột ngột toạ thư si

Nhị phần xuân sắc nhàn sai quá

Ngũ thập suy ông dĩ tự tri

Cố quốc tâm hoàn phi điểu quyện

Ân ba hải khoát túng lân tŕ

Sinh b́nh đởm khí luân huân tại

Giải đảo đông phong phú nhất thi

TRẦN QUANG KHẢI


  NGÀY XUÂN CẢM XÚC

Giăng tơ mưa bụi hoa mai

Thư pḥng nghĩ ngợi những ngày đă qua

Sắc xuân phí nửa phần ǵa

Tới năm mươi tuổi hiểu ra suy rồi

Nước non mỏi cánh chim trời

Nguồn xưa sông chảy cá bơi ngược ḍng

B́nh sinh hào khí c̣n phong

Ngâm thơ át ngọn gió đông ào ào...

    NGUYỄN MINH THANH cảm dịch

 


XUÂN NHẬT HỮU CẢM (2)

 

Nguyệt sắc vi vi dạ hướng lan

Đông phong đặc địa khởi xuân hàn

Phiên không liễu nhứ niêm cao các

Giác mộng Tương quân bốc họa lan

Bị vật nhuận ṭng thiên ngoại vũ

Kinh tâm hồng thoái tích th́ nhan

Khử sầu lại hữu tam bôi tửu

Phủ kiếm du du ức cố san

TRẦN QUANG KHẢI

 


NGÀY XUÂN CẢM XÚC (2)

Trăng mơ mờ bóng đêm tan

Đông phong lành lạnh xuân đang trải dài

Gió d́u bông liễu cao bay

Lay cành trúc biếc hiên ngoài âm ba

Chuyển dần thời tiết mưa qua

Ngẫm ra xót dạ tuổi già hư hao

Giải sầu chuốc chén nghêu ngao

Vỗ gươm nhớ thuở ra vào quan san / tử sinh...

    NGUYỄN MINH THANH cảm dịch  


11 - Sư HUYỀN QUANG (1251 - 1334), là vị Tổ thứ Ba, ḍng Trúc Lâm Yên Tử đời Trần có bài thơ mô tả thiếu nữ mười sáu tuổi xuân vừa thêu gấm vừa ngắm xuân:

 

    MỘ XUÂN TỨC SỰ

Nhị bát* giai nhân thích tú tŕ

Tử kinh* hoa hạ chuyển hoàng ly

Khả liên vô hạn thương xuân ư

Tận tại đ́nh châm bất ngữ tŕ

           Sư HUYỀN QUANG

    * 16 tuổi. Tên loài hoa


   TỨC CẢNH CUỐI XUÂN

Kiều nữ lơi tay dải gấm thêu

Dưới hoa thánh thót tiếng oanh kêu

Nỗi thương xuân lắm ḥa xuân ư

Là lúc ngưng thêu chẳng mở lời.

    NGUYỄN MINH THANH cảm dịch


12 - TRẦN NHÂN TÔN, vua thứ 3 Nhà Trần, tên húy là Khâm (1258 - 1308), vị minh quân cùng với ông Trần Quốc Tuấn nhiều lần đánh bại quân Mông Cổ xâm lăng nước ta.

 

Ông với 3 vai tṛ: làm vua, làm chiến sĩ, làm thiền sư, cả 3 vai đều xuất sắc. Nên trong thơ Ông hàm chứa chuyện chiến chinh với sĩ binh hùng tráng, đồng thời cũng có ư vị thiền tông :

 

          XUÂN CẢNH

Dương liễu hoa xuân điểu ngữ tŕ

Hoa đường thiềm ảnh mộ vân phi

Khách lai bất vấn nhân gian sự

Cộng ỷ lan can khán thúy vi

    Vua TRẦN NHÂN TÔN


         CẢNH XUÂN

Cành liễu hoa xuân chim hót lơi

Mây chiều nghiêng bóng trước thềm khơi

Sự đời khách đến không bàn bạc

Cùng dựa lan can ngắm cảnh trời.

  NGUYỄN MINH THANH dịch

 


XUÂN NHẬT YẾT CHIÊU LĂNG

T́ hổ thiên môn túc

Y quan thất phẩm thông

Bạch đầu quân sĩ tại

Văng văng thuyết Nguyên Phong

Vua TRẦN NHÂN TÔN

 


NGÀY XUÂN VIẾNG CHIÊU - LĂNG*

Quân hùm khắp cửa đủ

Văn quan bẩy phẩm đông

Bạc đầu người lính cũ

Chuyện kể thời Nguyên Phong**

    NGUYỄN MINH THANH dịch

*Chiêu Lăng: lăng của vua Trần Thái Tôn

**Nguyên Phong: niên hiệu của vua Trần Thái Tôn

 


13 - CHU VĂN AN (? -- 1370), tự là Tiều Ẩn, đậu Thái Học Sinh, nhưng không ra làm quan, mà ở ẩn và dạy học. Học tṛ Ông khá đông và có nhiều người làm nên danh phận. Đến đời vua Trần Minh Tông ông mới nhận chức Quốc Tử giám Tư nghiệp, dạy học cho Thái Tử. Đời vua Trần Dụ Tông, Ông dâng Thất Trảm Sớ xin giết 7 tên nịnh thần, nhà vua không nghe, Ông từ chức về ở ẩn tại Chí Linh, Hải Dương (?).

 

Ông Chu Văn An có để lại khá nhiều tác phẩm, song, thất lạc gần hết. Người đời sau chỉ mới sưu tập được một số ít thơ của Ông qua Toàn Việt Thi Lục. Sau đây là bài thơ Xuân Đán:

 

          XUÂN ĐÁN

Tịch mịch sơn gia trấn nhật nhàn

Trúc phi tà ủng hộ khinh hàn

Bích mê vân sắc thiên như túy

Hồng thấp hoa sao lộ vị can

Thân dữ cô vân trường luyến tụ

Tâm đồng cổ tỉnh bất sinh lan

Bách huân bán lănh trà yên yết

Khê điểu nhất thanh Xuân mộng tàn.

                   CHU VĂN AN


        SÁNG MÙA XUÂN

Cảnh nhàn núi thẳm với gian nhà

Mành trúc nghiêng che rét thoảng da

Mây biếc trời cao say giấc điệp

Ánh hồng sương sớm đượm cành hoa

Thân như mây lẻ non vương vấn

Tâm tựa giếng xưa sóng nhạt nḥa

Mùi khói thông tan trà đă nguội

Suối bên chim hót tiễn Xuân qua.

  NGUYỄN MINH THANH dịch


14 - LÊ CẢNH TUÂN (? - 1416), người Thanh Hoá, đỗ Thái Học Sinh dưới triều Hồ. Nhà Hồ bị Quân Minh xâm lăng và dứt ngôi; Ông mưu đồ chống quân Minh cứu nước. Bị bại lộ, ông trốn thoát. Nhưng sau đó ông cải trang làm người ra kinh đô chơi, rồi ở lại dạy học để thăm ḍ t́nh h́nh. Bọn quân Minh phát giác, bắt ông giải về Yên Kinh, và chết trong ngục thất.. !!

 

Thơ ông không nhiều, tính trầm buồn tâm trạng của người mất nước, có mấy bài về Xuân:

 

    NGUYÊN NHẬT

Lữ quán khách nhưng tại

Khứ niên Xuân phục lai

Qui kỳ hà nhật thị ?

Lăo tận cố hương mai  

   LÊ CẢNH TUÂN

 


   NGÀY ĐẦU NĂM

Quán trọ khách nằm dài

Năm qua Xuân trở lại

Ngày về biết khi nao?

Cội mai nhà thêm lăo.. !

           N M T dịch

 


NGUYÊN NHẬT GIANG DỊCH

Hảo cảnh phùng nguyên nhật

Vô gia mẫn thử thân

Khách sầu hồn giảm khứ

Lăo măn khán thanh Xuân

          LÊ CẢNH TUÂN


NGÀY ĐẦU NĂM Ở TRẠM TRÊN SÔNG

Cảnh đẹp ngày đầu xuân

Xa nhà xót cho thân

Nỗi buồn vơi nhè nhẹ

Khi ngắm trời đang xuân

           N M T dịch


GIANG TRUNG PHÙNG LẬP LẬP XUÂN

Hành sắc thương mang tuế chính lan

Tiêu tiêu phong tuyết biệt ly tan

Sơn trùng thủy phục khách tŕnh viễn

Đông tận xuân sinh thiên đạo hoàn

Vạn sự vô tâm tùy tiết biến

Thử sinh nhậm vận cánh thùy ban

Phượng thành nhị nguyệt hoa như hải

Chuẩn nghĩ thiều quang nhất phá nhan

                  LÊ CẢNH TUÂN

 


TRÊN SÔNG NGÀY LẬP XUÂN

Dặm xa mờ mịt năm dần tàn

Gió tuyết ào ào cảnh hợp tan

Sông núi gập ghềnh ngăn khách bộ

Đông xuân lặng lẽ bước thời gian

Sự đời biến chuyển theo giai tiết

Vận số nên hư bởi vũ hoàn

Thành Phượng tháng hai hoa rạng rỡ

Chúa xuân tô thắm đẹp dung nhan.

NGUYỄN MINH THANH dịch


15 - NGUYỄN TRĂI (1380 - 1442), hiệu Ức -Trai là khai quốc công thần đời Hậu Lê, con ông Nguyễn Ứng Long (Phi Khanh), người Hải Dương. Ông là người văn vơ song toàn, đă mưu lược giúp vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) nên công đại định là giải phóng non sông Đại Việt thoát khỏi sự đô hộ tàn bạo của giặc Minh.


Về thơ văn đă để lại nhiều tác phẩm rất hay: B́nh Ngô Đại Cáo, Ức Trai thi tập, Gia Huấn ca, Điạ Dư chí...


Xót thương đời Ông bị oan nghiệt trong vụ án Lệ Chi Viên”Tru Di Tam Tộc!!!”, thơ Ông rất nhiều, và vài bài thơ Xuân là:


          MỘ XUÂN TỨC SỰ

Nhàn trung tận nhật bế thư trai

Môn ngoại toàn vô tục khách lai

Đỗ Vũ thanh trung xuân hướng lăo

Nhất đ́nh sơn vũ luyện hoa khai

             NGUYỄN TRĂI


    TỨC CẢNH CUỐI XUÂN

Suốt ngày nhàn nhă bế thư pḥng

Bè bạn cửa ngoài măi vắng không

Nghe tiếng quốc kêu xuân đă muộn

Trước sân mưa bụi phủ đầy bông

     NGUYỄN MINH THANH cảm dịch

 


     TRẠI ĐẦU XUÂN ĐỘ

Độ đầu xuân thảo lục như yên

Xuân vũ thiêm lai thủy phách thiên

Dă kính hoang lương hành khách thiểu

Cô châu trấn nhật các sa miên

           NGUYỄN TRĂI

 


  BẾN Đ̉ XUÂN TRẠI ĐẦU

Bến Xuân cỏ biếc ươm màu khói

Phơi phới mưa Xuân nước nối trời

Vắng khách đường quê buồn quạnh quẽ

Suốt ngày gối băi chiếc đ̣ ngơi.

     NGUYỄN MINH THANH cảm dịch


16 - HẢI THƯỢNG LĂN ÔNG LÊ HỮU TRÁC (1721 - 1791) đời Lê Trung Hưng, người Hải Dương, sau dời về Hà Tỉnh, con ông Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng.


Ông là một danh y, từng được chúa Trịnh chiếu chỉ ra kinh đô Hà Nội trị bịnh cho Thế Tử. Sách thuốc Ô. để lại Y Tông Tâm Lĩnh rất qúi trong ngành Đông Y của nước nhà. Về văn có Thượng Kinh Kư Sự, với những bài thơ xen kẽ khi hứng khởi. Ngoài ra nghe nói Ô. c̣n có HƯƠNG SƠN THI TẬP (chưa thấy). Trong Thượng Kinh Kư Sự có bài thơ tả cảnh chùa (tưởng tượng) trên núi không đề tựa, căn cứ vào nội dung, người dịch mạo muội xin tạm đặt tựa là Ỷ Sơn Tự như sau:

 

   Ỷ SƠN TỰ

Y sơn cương tác tự

Bạng thạch giá sơn chung

Tế vũ miêu Xuân thảo

Minh hà lạc vân tùng

Nhân ngâm tàn chiêu lư

Điểu ngữ loạn lâm trung

Phụng chiếu xu hành dịch

Cần lao tiếu Lăn Ông

     HẢI THƯỢNG LĂN ÔNG


CHÙA TỰA SƯỜN NÚI

Sườn non chùa cheo leo

Chuông chùa mỏm đá treo

Mưa râm cỏ Xuân mướt

Ráng đỏ rọi thông chiều

Người ca ngùi bóng xế

Vang rừng chim tiếng kêu

Lệnh vua đành bước rảo

Lăn Ông cười lao đao...!!

     NGUYỄN MINH THANH cảm dịch


17 - NGUYỄN DU (1765 - 1820), tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn Hiệp Lộ, người Hà Tỉnh, con cụ Nguyễn Nghiễm. Ông Nguyễn Du làm quan dưới đời Lê Trung Hưng. Nhà Lê Trung Hưng mất ngôi, Ông ở ẩn. Vua Gia Long biết ông có tài, phong quan. Có lần đi sứ sang Trung Hoa, ngang qua aỉ Nam Quan (1813) Ông đă làm bài thơ “Trấn Nam Quan” bằng chữ Nho tả cảnh: “Lưỡng quốc b́nh phân cô lũy diện, Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm”. Trong Truyện Kiều mô tả lúc Từ Hải trước khi ra hàng, có câu:

 

“Bó thân về với triều đ́nh

Hàng thần lơ láo phận ḿnh ra đâu”  

 

     Phải chăng đây chính là tâm sự của chính Ông “Hàng thần lơ láo !!” Ông dùng chữ “lơ láo” thật là tuyệt vời.. !! Ông để lại rất nhiều tác phẩm văn học gía trị. Nổi bật là Truyện Kiều, nay đă được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bài thơ Xuân của Nguyễn Du sau đây nói lên tâm sự của ông ban đêm xa quê:


           XUÂN DẠ

Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm

Tiểu song khai xứ liễu âm âm

Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu

Phong vũ xuân tùy nhất dạ thâm

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

Gia hương thiên lư nguyệt trung tâm

Nam Đài thôn ngoại Long Giang thủy

Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kim)

          NGUYỄN DU



           ĐÊM XUÂN

Đêm đen nào thấy ánh xuân hồng

Rặng liễu mơ màng trước chấn song

Bịnh trải đường dài xao xuyến dạ

Xuân về đêm quạnh xót xa ḷng

Bao năm đất khách bên đèn khóc

Ngh́n dặm quê nhà dưới nguyệt trông

Ngoài xóm Nam Đài Long thủy chảy

Cổ kim sóng lạnh cuốn chung ḍng.. !!

     NGUYỄN MINH THANH cảm dịch


Đến đây, để kết thúc trang cổ thi nhỏ này, cũng để dàn trải tâm sự chung của những anh chị em đồng cảnh và đồng cảm đang lưu lạc xứ người, đang luân lạc xứ người. Xin mượn hai câu của cụ Nguyễn Du trong bài thơ trên:

Ky lữ đa niên đăng hạ lệ

Gia hương thiên lư nguyệt trung tâm.. !!

 

Ngoài ra, nhân mùa Xuân sắp về nơi Cố quốc xa xăm, và đang về trong tâm thức của những con chim Việt ly hương, người viết xin mượn lời chúc của người xưa gởi đến quí đồng cảnh đồng hương:

 

NIÊN TĂNG TUẾ NGUYỆT, NHÂN TĂNG THỌ

XUÂN ĐÁO CÀN KHÔN, PHÚC MĂN ĐƯỜNG.

 


                    Trân trọng.

 Nguyễn Minh Thanh biên soạn, dịch, hiệu đính

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính