Trưng Vương: Trưng Trắc, Trưng Nhị


Nguyễn Lộc Yên

 

 



Hai Bà Trưng là chị em sinh đôi, sinh ngày mồng Một tháng 8 năm Giáp Tuất (năm 14 SCN), quê ở Ba V́, ngọc phả c̣n ghi tại làng Hạ Lôi và Hát Môn. Cha là Lạc tướng huyện Mê Linh, mất sớm. Mẹ là bà Man Thiện (Trần Thị Đoan) chăm sóc, dạy Hai Bà Trưng văn lẫn vơ, c̣n mời ông Đỗ Năng Tế ở thôn Mỹ Giang, xă Tam Hiệp làm phụ đạo. Do đấy, Hai Bà rất giỏi văn vơ và yêu nước nồng nàn.

 

Trưng Trắc: Bà Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách là con của Lạc tướng ở huyện Chu Diên (nay Vĩnh Phúc). Sau khi nhà Triệu bị thất bại, Giao Chỉ bị Tàu đô hộ. Mỗi quận đứng đầu là một quan Thái thú, tuy nhiên các Lạc hầu, Lạc tướng của nước ta vẫn c̣n tại vị. Thái thú Tích Quan và Nhâm Diên cai trị khôn ngoan, luôn dùng thủ đoạn vuốt ve nên dân chúng có lầm than nhưng không chống đối quyết liệt.

 

Tô Định làm Thái thú ở Giao Châu, tính t́nh tham lam, hung tàn, Thi Sách thấy vậy lo lắng dân chúng bị hại, ông viết thư gửi Tô Định, lời lẽ can gián chính trực.

 

Tô Định không lắng nghe điều phải, nên Thi Sách khởi nghĩa và bị giết vào năm 39 (SCN). Khi bà Trưng Trắc nhận được thiệp tang, ḷng đau đớn nhưng người tài trí như Bà không để tang chồng vào lúc đó, mà Bà cho đánh trống đồng dồn dập, dựng cờ khởi nghĩa để trả thù nhà nợ nước. Theo “Thiên Nam Ngữ Lục” Bà xin phát thệ 4 điều:

 

“Một xin ǵn giữ nước nhà

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hồng

Ba xin báo oán cho chồng

Bốn xin được vẹn sớ công lệnh này”

 

 

Thề xong, bà Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị, hiệu triệu thiên hạ, phất cờ khởi nghĩa, được toàn dân hưởng ứng. Tương truyền: “Hai Bà cỡi voi, mặc áo dài hai tà áo giáp vàng, che lọng vàng”.

 

Khi xung trận, quân Hán tiến lui có trật tự, vũ khí sắc bén; quân của Hai Bà Trưng chưa được huấn luyện thông thạo tác chiến, chưa kinh nghiệm chiến trận và vũ khí thô sơ. Tuy nhiên, với ḷng căm thù ngoại xâm cao độ nên quân ta xông xáo đánh quân Hán tan tác.

 

Sử Hậu Hán Thư của Tàu, Phạm Việp viết: “Ở quận Giao Chỉ có người đàn bà tên Trưng Trắc, cùng em gái là Trưng Nhị, khởi binh đánh lấy quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, dân chúng đều hưởng ứng, chiếm trên 60 thành vùng Lũng Ngoại”(a).


Năm Canh Tư (năm 40), Tô Định thua chạy về Tàu. Ngày 6 tháng Giêng Tân Sửu (năm 41), Bà lên ngôi lấy đế hiệu Trưng Vương, quốc hiệu Hùng Lạc, đóng đô ở Mê Linh, nay tỉnh Phúc Yên. Đến lúc ấy Bà mới làm lễ để tang chồng. Lư do, Bà đă nói lúc xuất quân “Mang tang chế trong lúc cầm quân có thể làm giảm nhuệ khí của binh sĩ.”

 

Trưng Nhị: Bà là một nữ tướng thao lược đă cùng chị là Trưng Trắc khởi nghĩa và lập nhiều chiến công hiển hách. Bà xông pha trận mạc cùng chị, chỉ huy các tướng sĩ tiêu diệt thành Luy Lâu và nhiều huyện thành khác. Sau khi cuộc khởi nghĩa thắng lợi, bà Trưng Trắc xưng vương, đóng đô ở Mê Linh, bà Trưng Nhị cũng được phong vương đóng quân ở thành Dền.

 

Thành Dền do bà Trưng Nhị chỉ huy xây đựng ở trang Cự Triền, cách sông Nguyệt Đức khoảng 5 dặm, cách thành Mê Linh khoảng 9 dặm, ngày nay vẫn c̣n dấu vết. Thành h́nh bán nguyệt, có tường cao hào sâu, bốn bề có tháp canh. Bên trong thành có giếng nước, chỗ ăn ở cho quân sĩ, có chỗ quân sĩ tập vơ nghệ và kho lương thực.

 

Quân Tàu tái xâm lược, Trưng Vương hy sinh: Năm Nhâm Dần (42 SCN) vua Tàu là Hán Quang Vũ sai Phục Ba tướng quân là Mă Viện(b) và Lưu Long làm phó tướng, đem đại quân sang đánh nước ta. Trận đánh lớn ở Lăng Bạc cả vạn người Việt bị tử thương. Trưng Vương lui quân về thành Dền cố thủ. Quân Tàu tấn công thành, đều bị đẩy lui, Mă Viện sai đắp một thành khác cách thành Dền 3 dặm, tên là thành Vượn (nay thuộc xă Tam Đồng, huyện Yên Lăng), để cắt đường tiếp tế và mở các cuộc tấn công liên tục.

 

Quân ít, thế yếu không thể giữ lâu dài; Bà Trưng phải bỏ thành Dền, vừa đánh vừa rút về Cẩm Khê (Vĩnh Yên). Một trận ác liệt nữa, quân ta nhiều người bị hy sinh. Quân Tàu quá đông, khó cầm cự lâu dài. Trưng Vương cho lui quân đến Hát Giang, làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Sơn Tây, Hai Bà Trưng gieo ḿnh xuống sông tuẫn tiết vào ngày 6 tháng 2 năm Quí Mẹo(c) (năm 43 SCN), dân chúng lập đền thờ Hai Bà Trưng ở đấy. Sau này nhiều sử gia cảm phục Hai Bà Trưng là hồng nhan liễu yếu, đă khởi nghĩa giành lại độc lập cho nước nhà.

 

– Sử gia Lê Văn Hưu viết: “Trưng trắc và Trưng Nhị là đàn bà phất cờ khởi nghĩa, đánh lấy 65 thành tŕ, lập quốc xưng vương dễ dàng. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu đến nhà Ngô, hơn một ngh́n năm, người ḿnh cứ cúi đầu bó tay làm tôi cho người Tàu, không bằng chị em Trưng Nữ Vương là liễu yếu hồng nhan”.

 

– Đại Nam Quốc sử diễn ca viết:

 

“Ngàn tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mă xuống gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định giang sơn thái b́nh

Đô kỳ đóng cơi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đ́nh nước ta

Báo thù gánh vác sơn hà

Một là báo phục hai là bá vương”.

 

Đền thờ Bà Trưng ở xă Ngọc Lâm, Bắc Giang có 2 câu đối:

“Đông hải chung anh, thiên vị Trưng triều sinh nữ tướng.

Bắc nhung chi phách, nhân ư ngọc chử ngưỡng thần uy.”

 

Nghĩa Nôm:

Biển Đông hun đúc, sản sinh nữ tướng dựng triều đại Trưng Vương.

Giặc Nhung phương Bắc tan hồn, người bến ngọc ngưỡng thần uy.

 

*- Thiết nghĩ: Hai Bà Trưng sinh vào thời xưa, thường cho là đàn bà “liễu yếu đào thơ”. Thế mà Hai Bà phất cờ khỏi nghĩa, đánh đuổi quân quan nhà Hán tan tác, giành lại độc lập cho nước nhà. Người đàn bà tiếng tăm vang dội như Lă Hậu (Hán Cao Hậu: 241-180 TCN) của nước Tàu cũng chỉ biết tiếm quyền, lũng đoạn triều chính mà thôi. Thế nên Hai Bà Trưng: Trưng Trắc và Trưng Nhị là hai người phụ nữ Việt Nam vĩ đại bậc nhất trong lịch sử nhân loại vậy.

 

Cảm niệm: Trưng Vương

 

Trưng Vương, kiệt nữ đất Mê Linh!

Thi Sách thương dân, lại bỏ ḿnh!

Tang lễ tạm ngưng, thôi thúc trận?!

Sa trường xông xáo, rộn ràng binh

Trưng Vương trừ Hán lo toan nghĩa

Tiếng trống diệt thù lưu luyến t́nh(d)

Đánh đuổi xâm lăng, giành độc lập

Muôn dân yên ổn, nước thanh b́nh!

Muôn dân yên ổn, nước thanh b́nh!

Củng cố thành tŕ, ngừa chiến chinh

Mă Viện mưu mô, quân quỷ quyệt(e)

Cấm Khê ràn rụa, máu trung trinh

Đầu hàng giặc Bắc, luôn luôn nhục

Tuẫn tiết Hát Giang, măi măi vinh(f)

Mùng Sáu tháng Hai, ngời khí tiết

Đồng bào kính cẩn, khắc ghi danh!

_____________

 

(a)- Nguyên văn: “Hựu Giao Chỉ tử nữ Trưng Trắc, cập nữ muội Trưng Nhị, phản công đầu kỳ quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, man di giai ứng chi, khẩu lược Lũng Ngoại lục thập dư thành.”

 

(b)- Tương truyền Mă Viện xâm chiếm nước ta xong, lại âm mưu quỷ quyệt, trồng trụ đồng ở Lĩnh Nam (trên đất của ta) để làm cương giới nhà Hán. Khắc chữ vào trụ đồng rằng: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Trụ đồng găy, Giao Chỉ mất).

 

(c)- Có tài liệu nói rằng bà Trưng Nhị đă tử tiết trên sông Nguyệt Đức, lúc ấy đang có mưa to gió lớn, sóng đang dâng lên cuồn cuộn. Quân ta thừa thế xông vào trận địa, cướp lấy thi thể vị chủ tướng, rồi vượt sóng đưa về an táng trên núi Hy Sơn thuộc đất Phong Châu ngày nay. Tại Phong Châu, nơi thành Dền cũ, có đền thờ của bà Trưng Nhị.

 

(d)- Trống đồng: Nhạc khí đúc bằng đồng, có hoa văn trên mặt. Đánh trống bằng thanh gỗ thường có buộc tua ngũ sắc. Trống dùng vào các ngày lễ hội. Khi xưa dùng nơi chiến trận.

 

(e)- Tục truyền quân của Trưng Vương, nhiều nữ tướng và nữ binh, Mă Viện quỷ quyệt cho lính Tàu cởi truồng ra trận, đàn bà con gái e thẹn ngó mặt đi nơi khác, nhờ vậy giặc thừa cơ thủ thắng.

 

(f)- Hát Giang: Sông Hát bên làng Hát Môn, huyện Phúc Lộc (nay Sơn Tây), chỗ sông Đáy tiếp với sông Hồng (Việt Nam sử lược chú thích). Hiện nay có đền thờ Hai Bà Trưng ở bờ sông Hát, huyện Phúc Lộc.

 

 

Nguyễn Lộc Yên

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính