|
Ai là "Việt
Kiều"?
Nguyên Giao

“Khúc
ruột ở xa ngàn dặm”
Trên truyền thông Việt ngữ, càng ngày hai chữ “Việt kiều” càng thấy xuất
hiện nhiều hơn. Chúng ta nên hiểu và sử dụng danh xưng này như thế nào để
được chỉnh về chính trị (politically correct)?
“Kiều” có nghĩa là ở hải ngoại, được dùng làm tĩnh tự cho các danh tự,
như: “Kiều dân” là người dân sống ở bên ngoài ranh giới quốc gia mà người
ấy được sinh ra (native land); “Kiều hối” là tiền bạc ở ngoại quốc; “Kiều
vận” là vận động dân ḿnh ở ngoại quốc.
Chữ “kiều” đă được dùng trong các chữ “Pháp kiều”, “Hoa kiều”, “Mỹ kiều”,
và “Việt kiều yêu nước”. Dười thời Đệ Nhất Cộng Hoà, người Hoa sinh sống ở
nam Việt Nam được chính thức gọi là Hoa kiều. Suốt trong cuộc chiến
Bắc-Nam Việt Nam (1954-1975), nhà cầm quyền Hà Nội gọi các thành phần
người Việt ở hải ngoại có những sinh hoạt phản chiến, hỗ trợ, hay có lợi
cho cộng sản Việt Nam là “Việt kiều yêu nước”.
Tương tự, người Thái sinh sống ở ngoài Thái Lan là Thái kiều, và người Phi
không ở nước Phi là Phi kiều. Trong hoàn cảnh chính trị quốc gia b́nh
thường, liên hệ giữa chính phủ một nước với kiều dân của họ tốt đẹp, và
không có vấn đề ǵ làm hai bên phải bận tâm: Khi những viên chức của chính
phủ một quốc gia xuất ngoại công cán ở nơi xa có kiều dân của họ sinh
sống, các viên chức cao cấp thuờng được kiều dân tiếp đón tưng bừng như
các h́nh ảnh thấy trên các bản tin thời sự. Ngược lại, khi các kiều dân có
dịp về thăm nơi “chôn rau, cắt rốn” của ḿnh, họ thường được đối xử b́nh
thường – có khi c̣n được biệt đăi – bởi các viên chức chính phủ, nhất là ở
các cơ quan liên hệ đến hải quan, du lịch, hay thông hành.
Chữ “kiều” sẽ trở nên khúc mắc hơn khi một quốc gia bị các biến cố chính
trị đưa đến các cuộc di dân có khi là ngoài ư muốn tự nguyện của một số
các công dân ra khỏi biên giới quốc gia, hay khi quốc gia bị chia thành
các chế độ chính trị đối nghịch. Thí dụ: Hiện có hai nước Hàn quốc: Bắc
Hàn, và Nam Hàn, cùng là hội viên của Liên Hiệp Quốc. Như vậy, nếu xét đến
liên hệ giữa các Hàn kiều, và hai chính phủ đối nghịch chính trị, cũng như
khác biệt về luật lệ quốc tịch, và di dân của Nam và Bắc Hàn, cần phải
phân biệt có hai loại Hàn kiều: Nam Hàn kiều, và Bắc Hàn kiều.
Cũng tương tự như Hàn kiều, trường hợp các Hoa kiều của Trung Cộng, và Đài
Loan cũng cần phải được phân biệt cho rơ ràng, để có thể tránh được những
hiểu nhầm vô t́nh, hay “vơ đũa cả nắm”, có thể đưa đến những hậu quả chết
người: Một Nam Hàn kiều trên đất Mỹ vi phạm những điều kiện của luật lệ di
trú nếu bị trục xuất về Bắc Hàn th́ khác ǵ như bị án tử h́nh?
So với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam là một trường hợp khúc mắc
liên hệ đến hai chữ “Việt kiều”. Lư do là v́ Việt Nam là quốc gia độc nhất
trên thế giới có tỉ lệ dân Việt ở hải ngoại tương đối cao (khoảng 3 triệu,
so với 84 triệu trong nước), mà hầu hết thành phần này lại là nạn nhân của
chính phủ đang cầm quyền ở Việt Nam, hậu quả của biến cố 1975. Vốn là tị
nạn chính trị chế độ cộng sản, người Việt ở hải ngoại luôn luôn t́m mọi
cách để biểu lộ cho người dân trong nước, dân bản xứ, cũng như cộng đồng
thế giới biết họ không chấp nhận những ngưới cầm quyền ở Hà Nội là đại
diện chính thức, và hợp pháp cho quốc gia Việt Nam. Các viên chức của Hà
Nội khi đi công cán ở hải ngoại thường bị các kiều dân “dàn chào”, biểu
t́nh phản đối, làm cho bĩ mặt trước truyền thông quốc tế. Ngược lại, khi
về thăm Việt Nam, người Việt ở hải ngoại thường bị các viên chức có thẩm
quyền ở hải quan, liên hệ đến thông hành, và du lịch cố ư ấn định giá vé,
lệ phí cao hơn gấp hai, gấp ba so với cho người trong nước, làm khó khăn
để ḅn tiền trà nước, để ư bằng con mắt nghi ngờ, cùng các biện pháp kỳ
thị khác.
Trong thời chiến, trước khi chiếm được miền Nam, cộng sản Hà Nội đă dùng
một số “Việt kiều yêu nước” để tuyên truyền cho chiêu bài “Chống Mỹ, cứu
nước” của họ. Thật ra, “Việt kiều yêu nước” chỉ là “người Việt thân cộng ở
hải ngoại”.
Ngày nay, Hà Nội lại muốn tiếp tục “mập mờ đánh lận con đen” muốn lợi dụng
nguồn tài nguyên (như ngoại tệ, và kiến thức kỹ thuật) càng ngày càng gia
tăng của người Việt ở hải ngoại để duy tŕ chế độ. Họ dùng chữ “Việt kiều”
để gọi chung tất cả 3 triệu người Việt ở hải ngoại, với tà ư “xập xí, xập
ngầu” với đồng bào ở trong nước, cũng như cộng đồng thế giới rằng 3 triệu
người Việt ở hải ngoại vẫn là “Khúc ruột ở xa ngàn dặm”, ám chỉ họ được sự
công nhận, và hỗ trợ của 3 triệu “Việt kiều”. Những ai c̣n nghi ngờ ư đồ
của Hà Nội xin hăy t́m đọc kỹ nội dung bộ luật hiện hành về quốc tịch của
Hà Nội để thấy rằng: Cộng sản Hà Nội không nhượng bộ một ly nào đối với
người Việt trong cũng như ngoài nước. Bộ luật quốc tịch Việt Nam cộng sản
vẫn khăng khăng qui định: Người Việt nào chưa được giấy phép của Chủ tịch
Nước từ bỏ quốc tịch Việt Nam vẫn là công dân Việt Nam, dù đă vào quốc
tịch bất cứ nước nào. Hà Nội không chấp nhận song tịch, mà xác quyết người
Việt có quốc tịch nước ngoài vẫn là người c̣n quốc tịch Việt Nam, nên vẫn
bị luật lệ Việt Nam chi phối. Hà Nội c̣n triệt để hơn nữa khi áp dụng luật
này cho các con cháu thế hệ thứ hai sanh tại ngoại quốc của người Việt ở
hải ngoại: Những thiếu niên Việt sanh tại Mỹ, Pháp, Úc, v.v., con cái của
cha mẹ có quốc tịch của các nước ấy, vẫn bị nhận vơ là “con dân” của cộng
sản Hà Nội! Trên thế giới thử hỏi có chính phủ nào vừa vô lư, vừa trâng
tráo, và nham hiểm như vậy không?
Trong khi đó, mỗi khi người Việt ở hải ngoại có vấn đề với các cơ quan
thẩm quyền sở tại – thí dụ như về giấy tờ cư trú, di dân, hay mỗi khi bị
dân bản xứ kỳ thị ở các quốc gia Đông Âu – các viên chức ở sứ quán của Hà
Nội lại hoặc bất lực, hoặc cố ư quay mặt làm lơ, không hành xử nhiệm vụ
thuộc phạm vi công vụ của ḿnh.
Để tránh sự lợi dụng của nhà cầm quyền Hà Nội, cũng như những thành phần
thân cộng ở hải ngoại, chúng ta, nhất là những người Việt đă có quốc tịch
của nước sở tại (như Pháp, Đức, Anh, Úc, Mỹ), nên minh xác rơ ràng rằng
chúng ta là “người Pháp (hay Đức, hoặc Anh, hay Úc, hoặc Mỹ) gốc Việt, cựu
tị nạn cộng sản (nếu thích hợp)”, chứ không phải là “Việt kiều” ǵ hết!
Con em của chúng ta được sinh ra ở hải ngoại là “người Pháp (hay Đức, hoặc
Anh, hay Úc, hoặc Mỹ) gốc Việt”, tự động có quốc tịch, và là công dân của
nước mà chúng đă được sanh ra. Không kể một thiểu số thân cộng, hầu hết
người Việt ở hải ngoại không những không là “Việt kiều”, mà c̣n công khai
cương quyết chống lại các kế hoạch kiều vận của bạo quyền Hà Nội, đồng
thời tiếp tay hỗ trợ cho các chiến sĩ tranh đấu cho tự do, nhân quyền, và
dân chủ ở trong nước.
Cũng đừng quên rằng, v́ có quốc tịch của nước mà chúng ta sinh sống, đổi
lại những quyền lợi đáng kể mà tất cả các công dân của nước đó đều được
hưởng hàng ngày, chúng ta có bổn phận thực thi những nghĩa vụ công dân như
đóng thuế, đi bầu, tôn trọng hiến pháp cũng như luật lệ, và phục vụ quyền
lợi dân tộc và quốc gia sở tại.
Tóm lại, vô t́nh chấp nhận không đúng nghiă những từ ngữ Hà Nội láu cá sử
dụng – như hai chữ
“Việt kiều”
– chẳng khác ǵ như để ḿnh rơi vào bẫy xập tuyên truyền của bạo quyền CS
gian manh.
Nguyên Giao
|