Tháng Ba nhớ lại...


Nguyễn Diệu Anh Trinh

 


Chưa kịp đến hè, mới giữa tháng ba, lễ Hai Bà Trưng và ngày truyền thống của trường với cái tên mới: Nữ Trung Học Hồng Đức ĐN, được tổ chức ba ngày.


Có hội chợ, cắm trại, có đêm văn nghệ lửa trại thật nhiều kỷ niệm. Niềm vui chưa tṛn, sân trường chưa kịp dọn dẹp dấu vết mấy ngày hội hè đă tràn ngập những đoàn người từ Quảng Trị và Huế lê thê lếch thếch bồng bế nhau chạy tránh bom đạn. Trường đóng cửa để dành pḥng học làm nơi tạm cư cho đồng bào.

Tôi nghe ba má bàn tán sẽ t́m cách di tản gia đ́nh vào Sài G̣n v́ quân đội ḿnh từ Kom tum, Ban Mê Thuộc đang như rắn mất đầu chạy về Nha Trang. T́nh h́nh an ninh đất nước thật hỗn loạn. Tôi vội vàng xuống trường để rút hồ sơ, chẳng c̣n một bóng dáng thầy cô nào ở đây. Pḥng học vụ đă bị dân chúng phá cửa vào, giấy tờ rách nát ngổn ngang, không cách ǵ t́m kiếm được. Ngoài sân trường, những tờ bích báo mới đem dự thi hôm Lễ Truyền Thống nay đă bị đem ra làm vách ngăn cho những hố vệ sinh. H́nh ảnh ngôi trường và những dăy pḥng học thân yêu, khoảng sân rợp lá bạc hà thấp thoáng những tà áo dài trắng đă không c̣n nữa, trái tim tôi như tan nát.


Ngày 26, tin tức trên đài phát thanh loan báo quân đội Bắc Việt đă chiếm thành phố Huế. Ba tôi thất vọng, bỏ ư định di tản v́ theo ông, đă mất Ban Mê Thuộc và thành phố Huế th́ đi đâu cũng vậy thôi. Cả nhà lo âu, mọi người nh́n nhau cùng hoang mang cho một viển ảnh không mấy khả quan.


Tôi đạp xe vào nhà nhỏ bạn cùng lớp là Kim Liên, tôi gọi Liên ơi, Liên hỡi, không có ai trả lời. Gia đ́nh nó đă dọn đi mất tiêu, nhà trống hoang.


Ḍm vào cửa sổ pḥng khách đang c̣n mở, tấm h́nh của ba má Liên được lồng kiếng thường treo trên tường không c̣n nữa. Tôi thẩn thờ nh́n lên cây mận trước sân nhà, ngay trước cửa pḥng của nó, những chùm trái non mơn mởn vẫn đong đưa trên cành, nước mắt tôi ứa ra.


Tôi đi ra đường, từ Trần Cao Vân xuống ngă tư Quân Cụ, rẻ phải qua đường Khải Định. Phố phường đông đúc nhưng điêu tàn, xơ xác, như không c̣n sức sống.

Dân chúng từ các nơi đang chạy về lũ lượt, những ánh mắt hớt hải, những khuôn mặt mang nét hoảng loạn, dọc lề đường hàng đống những bộ quân phục, những cái bi đông của lính, nón sắt… rải rác vương văi, môt vài đám tranh giành hôi của, đang đánh nhau ở ngă tư chợ Cồn. Kho gạo đường Duy Tân bị dân chúng phá cửa vào, người ta chen nhau dành giật, không kể già trẻ lớn bé. Có người vừa vác bao gạo ra tới cửa đă bị kẻ mạnh hơn cướp chạy.


Xuống đến bờ sông Hàn th́ t́nh h́nh càng thê thảm hơn, người ngồi, kẻ nằm dọc theo bờ sông, quang cảnh hổn loạn. Người ta chen nhau t́m đường xuống ghe để ra biển v́ nghe đâu đường bộ đă bị phong tỏa ở Quy Nhơn. Ai cũng hy vọng xuống tàu ra biển vào được Sài G̣n th́ mới yên. Sài G̣n…Ôi! Sài G̣n, niềm hy vọng của người dân cả nước đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng.


Tôi thất thểu trở về, dọc đường lại chứng kiến bao cảnh người di tản nằm la liệt, những cụ già lụm cụm, những em bé ngơ ngác. Người ta đùm túm nhau không biết sẽ đi về đâu. Có nhiều gia đ́nh tài sản mang theo vỏn vẹn cái tượng Đức Mẹ, hoặc Phật Bà Quan Âm. Người ta ôm khư khư như đang bảo vệ mạng sống của ḿnh, dường như tín ngưỡng là nơi bám víu cuối cùng của con người lúc tuyệt vọng. Tôi như kẻ không hồn, ngơ ngác giữa cơn hấp hối của thị xă.


Trong những giờ phút cuối cùng này, ba má tôi lúc nào cũng khư khư cái radio, lắng nghe tin tức từ đài BBC, đài VOA với chút hy vọng mong manh vào những đổi thay ở giờ cuối. Giấy tờ quan trọng được ba tôi sắp đặt lại một nơi an toàn, má tôi th́ thắp nhang khấn vái tứ phía.


Buổi tối thỉnh thoảng có tiếng đạn pháo kích từ xa vọng lại, tuyệt đối không thấy ánh hỏa châu. Thị xă Đà Nẵng dường như bị bỏ ngỏ. Đêm đêm, đài phát thanh BBC đưa tin có rất nhiều người xuống tàu vào nam t́m đường sống. Nhiều người đă bỏ ḿnh giữa biển v́ tàu đắm, nhiều người di tản bằng đường bộ th́ bị trúng ḿn, bị pháo kích, chết nhiều lắm.


Trưa ngày 29, xôn xao tin đồn cọng sản Bắc Việt đă vào đến Nam Ô. Khoảng hai giờ chiều, tôi ra trước sân nhà nh́n ra đường, lần đầu tiên tôi tận mắt nh́n thấy những người lính của phía bên kia. Trên những chiếc xe mang biển số rất lạ là những khuôn mặt c̣n non choẹt. Nón cối, dép cao su đen, quân phục th́ rộng thùng th́nh, nước da người nào người nấy tai tái, h́nh ảnh của họ gieo vào tâm trí tôi nỗi chán chường, thất vọng.


Tôi lặng người nh́n những đoàn xe đi qua, và… không biết đă được chuẩn bị từ bao giờ cũng có nhiều người đứng hai bên lề đường, những cánh tay đeo băng đỏ đưa lên vẫy vẫy, ḥ reo.

 

Buổi chiều hôm đó, một ngày cuối tháng ba trời Đà Nẵng bỗng dưng đổ mưa. Trong cơn giẩy chết của thị xă, cơn mưa không lớn, những hạt mưa chưa đủ làm ướt mặt đất chỉ bốc lên cái mùi hơi đất nồng nồng. Tôi nghe cay ở mắt và ḷng tôi cũng như đang giăy chết.


Một tháng sau, nghe tin Sài G̣n, vùng đất cuối cùng cũng mất. Lính tráng, dân chúng t́m mọi cách thoát thân, một số tướng lănh đă tự t́m đến cái chết để bảo toàn khí tiết. Thế là bao nhiêu hy vọng, mong đợi cuối cùng cũng đă tan vỡ. Và... bao nhiêu mộng ước thời thanh xuân của lứa chúng tôi cũng đă tàn theo vận nước.


Mùa hè đến sớm với những buổi lao động dọn vệ sinh trường lớp rồi cũng qua mau. Ngôi trường Nữ Trung Học thân yêu trở thành nơi ở của cán bộ trước khi trường được đổi thành trường Cao Đẳng Sư Phạm. Thời gian sau, nhiều lần đi ngang trường xưa, nh́n những hành lang trên tầng lầu phơi đầy áo quần tôi không khỏi ngậm ngùi, ngơ ngác, tất cả như chỉ là một giấc mơ.


Một giấc mơ không đẹp, không ươm đầy mộng mị, không óng ả hạnh phúc nhưng lại là một giấc mơ khó quên. Tôi không thể nào quên. Hai năm cuối cùng bậc trung học tôi được xếp vào học ở trường trung học Phan Châu Trinh, ngôi trường lớn nhất thành phố từ trước đến nay.


Hai năm vật lộn với sắn khoai, bo bo và chủ nghĩa xă hội, tôi ra trường và bắt đầu vào đời với nhiều đắng cay của một người có lư lịch phải đứng bên lề của hàng ngũ trí thức. Kể từ ngày trường học đóng cửa và nhà tù mọc lên như nấm khắp nơi từ nam ra bắc.


Tôi sống lây lất, dật dờ như thế đến mười chín năm, mười chín năm quá đủ để tôi thấm hiểu thế nào là cuộc sống của kẻ lâm vào cảnh nước mất, nhà tan.


Cứ mỗi năm khi tháng ba về, đọc báo, nghe tin tức nói về những tiến bộ mới mẻ ở quê nhà, những đổi thay của Đà Nẵng, tôi không khỏi mường tượng đến h́nh ảnh một chiều tháng ba năm xưa, một con bé mới mười bảy tuổi, là tôi, đứng ngơ ngác nh́n cảnh hấp hối của Đà Nẵng, nước mắt nḥe khuôn mặt. Cảm giác đớn đau đó cứ măi ám ảnh tôi. Tôi cứ luôn nghĩ về những oan khiên của đồng bào đă bỏ mạng oan ức v́ bom đạn vốn vô t́nh. Nghĩ đến những nghiệt ngă của ḍng đời kể từ dạo đó khiến biết bao gia đ́nh rơi vào cảnh dở khóc dở cười. Con lạc cha, vợ mất chồng, kẻ vùi thân nơi biển cả, người lưu lạc xứ xa, kẻ trở về tàn phế bịnh hoạn.


Tháng ba của tang tóc và chia ĺa, vậy mà tháng ba năm nào người quê tôi cũng hân hoan chào đón, đốt pháo, treo cờ.


Có phải người ta đă thật sự quên hay tôi đă già cổi khi nhắc nhớ hoài đến chuyện biển dâu ?



Nguyễn Diệu Anh Trinh

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính