Việt Đạo: Đạo thờ cúng Ông Bà

 

Nguyễn Nhơn

 

 

Khổng và Lăo

Chu Mộng Long – Truyện viết nhanh nhân lễ Vu Lan tặng mẹ kính yêu. Những kẻ sùng tín tà đạo đừng đọc rồi la ó, phun nhổ tùy tiện!

Mẹ Cha đă nuôi con bằng mồ hôi nước mắt và dạy con bằng Đạo của đất trời. Và con bây giờ cũng theo cái Đạo ấy để nuôi dạy con cái của ḿnh. Con ḷng thành biết ơn Cha Mẹ vô hạn như trời đất mà không cần ai răn dạy giáo điều!

… Khổng lại vái chào lần nữa:

– Tại hạ là Khổng Khâu đây, Đạo của tại hạ vốn khiêm cung, lăo trượng đă quá lời…

Lăo nh́n bọn phu kiệu lưng ướt đẫm mồ hôi rồi nh́n Khổng khăn áo lượt là mà cười, con trâu cũng cười theo. Lăo nói:

– Đạo của ngươi là ǵ?

Khổng trịnh trọng:

– Tóm gọn trong mấy chữ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

… Vậy mạo muội hỏi, Đạo của lăo trượng là ǵ?

Lăo Tử vẫn khoan thai, tay đưa lên vuốt cḥm râu trắng:

– Ta chỉ có một cái đầu trong muôn vạn cái đầu của thiên hạ. Ba họ nhà ta là ai ta c̣n chưa biết th́ sợ ǵ họa tru di. Ngươi hỏi Đạo của ta ư? Đạo của ta là vô đạo, đường của ta đi là không có con đường. Đó mới là Đại Đạo.

 

***************

 

Khổng nho th́ g̣ bó

Đạo Lăo cao xa khó với

Việt đạo: Đạo làm người

Đầu đội Trời – Chân đạp Đất

Đất nứt ta ra trời chuyển động
Ta thay trời mở đất mênh mông
Trời che đất chở ta thong thả
Trời đất ta đầy đủ hoá công
(*)

 

Nguyễn Nhơn

(*) Trần Cao Vân – Vịnh Tam Tài

 

 

LUNG LINH HUYỀN THOẠI VIỆT ĐẠO

 

Hiện tại bọn phản quốc bán nước cầu vinh việt cọng đang mưu toan xóa nḥa việc học Lịch sử Dân tộc để chúng chuẩn bị thay thế việc học sử Việt sang học sử tàu theo như cam kết trong mật ước Thành Đô và cũng để xóa nḥa Tinh thần Dân tộc v́ chúng lo sợ, một khi tinh thần Dân tộc bất khuất chống tàu xâm lăng trổi dậy, toàn dân Việt sẽ vùng lên quét sạch bọn măi quốc cầu vinh việt cọng ra khỏi cỏi bờ Đất Việt.

Để chống lại âm mưu xóa nḥa Lịch sử Dân tộc của loài quỷ đỏ phản quốc, ta cổ vơ toàn dân đọc Sử Việt.

 

Đặc điểm tín ngưỡng – tôn giáo Việt Nam

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên tương đối phong phú, đa dạng. Thời xa xưa, người Việt sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tự nhiên. V́ vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đă sớm gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là ngă ba đường nơi giao lưu của nhiều tộc người, của nhiều luồng văn minh. Hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn các vị thần mà điều đáng nói là, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt đó là tính hỗn dung tôn giáo. Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa. V́ vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát triển th́ các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai tṛ quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.

Cũng chính v́ tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có nhu cầu tôn giáo, tuy nhiên, phần đông trong số đó không là tín đồ thành kính của riêng một tôn giáo nào. Một người vừa có thể đến chùa, vừa có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại sự thanh thản về tinh thần cho họ, có thể thoả măn điều họ cầu xin. V́ thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt là tính dụng. Tôn giáo là để phục vụ nhu cầu cần thiết, trực tiếp của họ trong cuộc sống.

 

Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên

Do là một đất nước nông nghiệp nên việc sùng bái tự nhiên là điều dễ hiểu. Điều đặc biệt của tín ngưỡng Việt Nam là một tín ngưỡng đa thần và âm tính (trọng t́nh cảm, trọng nữ giới). Có giả thuyết cho rằng đó là do ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ thời xưa tại Việt Nam. Các vị thần ở Việt Nam chủ yếu là nữ giới, do ảnh hưởng của tín ngưỡng phồn thực như đă nói ở trên nên các vị thần đó không phải là các cô gái trẻ đẹp như trong một số tôn giáo, tín ngưỡng khác mà là các bà mẹ, các Mẫu. (Xem thêm Đạo Mẫu ).

 

Tín ngưỡng sùng bái con người

Ngoài phồn thực, tự nhiên, tín ngưỡng Việt Nam rất coi trọng con người.

 

Hồn và vía

Người Việt xưa cho rằng con người gồm phần thể xác và phần linh hồn . Một số dân tộc Đông Nam Á coi linh hồn gồm “hồn” và “vía”. Vía được h́nh dung như phần trung gian giữa thể xác và hồn. Người Việt cho rằng người có ba hồn, nam có bảy vía và nữ có chín vía. Ba hồn gồm: Tinh (sự tinh anh trong nhận thức), Khí (năng lượng làm cho cơ thể hoạt động) và Thần (thần thái của sự sống). Bảy vía ở đàn ông cai quản hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và miệng. Chín vía ở nữ giới cai quản bảy thứ như ở nam giới cộng thêm hai vía nữa. Hai vía này có nhiều cách giải thích. Chúng có thể là núm  có vai tṛ quan trọng trong nuôi con. Tuy nhiên có cách giải thích khác (xem thêm chín vía ). Người Việt thường có câu nói nam có “ba hồn bảy vía” c̣n nữ có “ba hồn chín vía”, cũng là từ các quan niệm trên mà ra.

Hồn và vía dùng thể xác làm nơi trú ngụ, trường hợp hôn mê ở các mức độ khác nhau được giả thích là vía và hồn rời bỏ thể xác ở các mức độ khác nhau. Nếu phần thần của hồn mà rời khỏi thể xác th́ người đó chết. Khi người chết, hồn nhẹ hơn sẽ bay sang kiếp khác c̣n vía nặng hơn sẽ bay là mặt đất rồi tiêu tan. Thế nên mới có những câu ngạn ngữ như: “hồn xiêu phách lạc” (phách tức là vía; ở đây muốn nói trạng thái run sợ, mất chủ động), “sợ đến mức hồn vía lên mây”…
Khi chết là hồn đi từ cơi dương gian đến cơi âm ty , cơi đó cũng được tưởng tượng có nhiều sông nước như ở cơi dương gian nên cần phải đi bằng thuyền nên nhiều nơi chôn người chết trong những chiếc thuyền.

 

Tổ tiên

 

Người Việt là một trong những dân tộc có tục thờ cúng tổ tiên sâu đậm và sớm nhất, nó gần như trở thành một tôn giáo: Đạo ông bà.

Thà đui mà giữ đạo nhà

C̣n hơn sáng mắt cha ông không thờ.

(Nguyễn Đ́nh Chiểu, Lục Vân Tiên)

Người phương tây coi trọng ngày sinh th́ người Việt coi trọng ngày mất. Họ cho rằng người đă mất đi về nơi chín suối . Bàn thờ tổ bao giờ cũng được đặt ở nơi trang trọng nhất. Ngày xưa khi cúng lễ bao giờ cũng có nước (hoặc rượu) cùng với những đồ tế lễ khác như vàng mă . Sau khi cúng xong th́ đem đốt vàng mă rồi đổ rượu hoặc nước lên đống tro tàn—khói bay lên trời, nước ḥa với lửa thấm xuống đất—theo họ như thế tổ tiên mới nhận được. Hành động đó được cho là sự ḥa quyện Nước-Lửa (âm dương) và Trời – Đất – Nước (tam tài) mang tính triết lư sâu sắc.

 

Tổ nghề

Tổ nghề là một hoặc nhiều người có công lớn đối với việc sáng lập và truyền bá một nghề nào đó. Do đó được các thế hệ sau tôn trọng và suy tôn là làm người sáng lập v́ đă có công tạo ra nghề, gọi là Tổ nghề (hoặc thánh sư). Tổ nghề chỉ là những con người b́nh thường, nhưng lại được người đời sau tôn thờ v́ đă có công sáng tạo ra nghề, truyền lại cho các thế hệ sau.

 

Thành hoàng làng

Ở phạm vi gia đ́nh, người Việt thờ tổ tiên và Thổ Công, ở phạm vi làng xă, người Việt thờ Thành hoàng . Giống như Thổ công, Thành hoàng cai quản và quyết định họa phúc của một làng. Không có làng nào ở Việt Nam mà không có Thành hoàng.

Những người được thờ thường là những người có tên tuổi và địa vị, có công lao đối với làng đó. Tuy nhiên một số làng c̣n thờ những người lư lịch không rơ ràng ǵ như trẻ con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp… nhưng họ chết vào “giờ thiêng” (Giờ xấu theo mê tín dị đoan).

 

Vua tổ

Ở phạm vi quốc gia, người Việt thờ Vua tổ, đó là Vua Hùng . Nơi thờ phụng ở Phong Châu, Phú Thọ . Ngày giỗ tổ là ngày 10 tháng 3 âm lịch.

Tứ bất tử

Người Việt c̣n thờ bốn vị thánh bất tử , đó là Tản Viên , Thánh Gióng , Chử Đồng  Tử và Liễu Hạnh .

Tản Viên biểu hiện cho ước vọng chiến thắng thiên tai, lụt lội; Thánh Gióng biểu hiện cho tinh thần chống giặc ngoại xâm; Chử Đồng Tử biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về vật chất; Liễu Hạnh biểu hiện cho cuộc sống phồn vinh về tinh thần của người dân Việt Nam .

 

Danh nhân và Anh hùng

Ngoài ra, tại Việt Nam có rất nhiều đền thờ các vị danh nhân như vua Đinh Tiên HoàngLương Thế VinhTrần Hưng Đạo (Tín ngưỡng Đức Thánh Trần),….

 

Tín ngưỡng sùng bái Thần linh

Thổ Công (c̣n được gọi là Thổ Địa hay Thổ thần), là một vị thần trong tín ngưỡng Châu Á, cai quản một vùng đất nào đó. người ta cho rằng, Thổ công rất thích đùa nghịch với trẻ con và rất thích ăn tỏi.

Thần Tài là một vị thần trong tín ngưỡng Việt Nam và một số nước phương Đông.

Theo truyền thuyết, thần tài chính là Triệu Công Minh, người đời nhà Thương. Ông lánh đời đi tu tại núi Chung Nam. Về sau đắc đạo, ông được phong làm Chính Nhất Huyền Đàn Nguyên Soái, coi việc đuổi trừ ôn dịch, cứu bệnh trừ tà. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông th́ được giúp đỡ. Người buôn bán th́ cúng cầu ông để được phát đạt may mắn. Người ông yêu là  Phù Dung tiên tử.

Người ta thường vẽ ông h́nh một người mặt đen, râu rậm, tay cầm roi, cưỡi cọp đen. Dân gian c̣n gọi ông là Tài Bạch Tinh Quân hay Triệu Công Nguyên Soái. Người đời vẽ ông trên một cái đĩa làm bằng kim loại trên bàn thờ để thờ cúng.

Táo Quân (Trung: 灶君<灶君> (Táo quân)/ Zào jūn); Táo Vương (灶王) hay Ông Táo trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam và Trung Hoa được xem là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà; Táo () có nghĩa là bếp. Việt Nam và Trung Hoa có những truyền thuyết về Táo Quân khác nhau.

Hà Bá (chữ Hán河伯) là một vị thần cai quản sông trong tín ngưỡng Đạo giáo giống như Thổ Địa là một vị thần cai quản đất đai. V́ vậy người Việt mới có câu: “Đất có Thổ Công (Thổ Địa), sông có Hà Bá.” là vậy.

Môn Thần hay c̣n gọi là thần giữ cửa (tiếng Trung Quốc giản thể: 门神phồn thể: 門神bính âmménshén) là một vị thần Trung Quốc thường được đặt ở 2 bên cổng vào một ngôi chùa, nhà ở hay tiệm kinh doanh… được cho là để giữ cho những linh hồn hay ma quỷ không xâm nhập vào được.

Các vị thần này thường đi theo cặp, phải đối mặt với nhau, nếu đặt đấu lưng lại th́ là điềm gỡ chẳng lành. Có nhiều h́nh thức khác nhau của các Môn Thần, phổ biến nhất là 2 vị tướng Tần Thúc Bảo và Uất Tŕ Cung. Các tranh vẽ Ngụy Trưng hoặc Chung Quỳ (鍾馗) được sử dụng ở cửa đơn (một cánh cửa).

Phúc Lộc Thọ hay Phước Lộc Thọ (Giản thể: 福禄寿Phồn thể: 福祿壽bính âm: Fú Lù Sḥu) là thuật ngữ thường được sử dụng trong văn hóa Trung Hoa và những văn hóa chịu ảnh hưởng từ nó, để nói về ba điều cơ bản của một cuộc sống tốt đẹp là: những điều lành (Phúc), sự thịnh vượng (Lộc), và tuổi thọ (Thọ). Mỗi điều tượng trưng cho một vị thần, ba vị này thường gọi chung là ba ông Phúc-Lộc-Thọ hay Tam Đa, và thường không được tách rời.

 

 

Lời người sưu tập

 

Trên đây là trích một phần rất nhỏ của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia mà đọc đă váng đầu, hoa mắt chưa biết hạ thủ vào đâu để xuống xề th́ may đâu hội chủ Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc chờ lâu, sốt ruột hạ thủ một câu chắc nịch: “ Việt đạo tức là đạo thờ ông bà (theo tiếng người b́nh dân)…

 

Phải rồi! Sự việc đơn giản chỉ có vậy thôi, không hơi đâu chạy kiếm mặt trời đứng bóng lúc hai giờ chiều!

 

Cu kêu, ba tiếng cu kêu

Trông mau tới Tết, dựng nêu ăn chè

 

Đó là câu ca cuả trẻ nhỏ làng quê khi gần giáp Tết, trông mau tới Tết để được mặc quần áo mới, chạy rong khắp làng xóm, đốt pháo chuột nỗ t́ tạch.

 

Người lớn th́ lo sửa sang bàn thờ Ông Bà, chùi bóng bộ lư đồng cho sáng loáng.

 

Chiều 30 Tết, cơm canh tươm tất, nhang khói u trầm, ăn mặc chỉnh tề, trang nghiêm làm lễ “ Rước Ông Bà về “ ăn Tết.” Ngoài kia, tiếng pháo nỗ rang chào đón Ông Bà.

 

Suốt 3 ngày Tết, trong nhà, nơi bàn thờ Ông Bà yên lặng trang nghiêm, “ cung kính như tại.”

 

Chiều mồng bốn, lại trang nghiêm, làm lễ tiển đưa Ông Bà.

 

Kể từ ngày giặc cờ đỏ họ giả hồ tràn vô Nam cướp phá tan hoang, bàn thờ Ông Bà nhang tàn, khói lạnh. Thay thế h́nh Ông Bà là h́nh già hồ bác cụ, râu ria lạ hoắc!

 

Ngày nay tuổi gần bát thập, thân lưu lạc xứ người, chỉ mong mau có một ngày, người dân Việt bị áp bức tàn tệ quá lâu, can trường vùng lên quét sạch lũ cáo hồ phản nước, hại dân để con dân Việt hồi xứ, dựng lại “ Bàn thờ Ông Bà” lo việc khói nhang, nối tiếp truyền thống “Đạo Việt Thờ Tổ Tiên.

 

 

Nguyễn Nhơn

------------------------------------------------------ 

 

On Thursday, January 23, 2020, 05:53:18 PM PST, John Tornado <johntornado02@gmail.com> wrote:

 

Xác minh sự thật

 

Đạo của dân tộc Việt-Nam là Đạo Thờ Kính Tổ Tiên, không phải Đạo Phật. Người Việt c̣n lập bàn thờ TRỜi lộ thiên ngay truớc sân nhà, với một  bát hương (nhang); gia chủ thắp nhang mỗi sáng hay tối vái Trời trước khi đi ngủ. Hầu như ở nhà quê nhà nào cũng có.  Đạo  thờ kính Gia Tiên là thờ đấng bậc sinh thành ra ḿnh cho lên tới Thiên Chúa. Trong khi đạo Phật không tin thờ Thiên Chúa, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa... như vậy tôi thấy đạo thờ Gia Tiên của tộc Việt quá tuyệt vời./.

 

JT

 

On Thu, Jan 23, 2020 at 9:39 AM HUNG NGUYEN THANH <hungxuan4953@gmail.com> wrote:


Kính chuyển

 

---------- Forwarded message ---------
Từ: Trung Tin LY <danvanmagazin@gmail.com>
Date: Th 5, 23 thg 1, 2020 vào lúc 13:28
Subject: Vv GIOI THIEU MOT TON GIAO LAU DOI NHAT TAI VN.
To: <diendanQLVNCH@yahoogroups.com>
Cc: <GiongLacHong@yahoogroups.com>

 

1.         Lời Toà Soạn TCDV : Bài nầy đă được đăng trên Tạp Chí Dân Văn khi tác giả nhận lời cộng tác từ số báo đầu tiên qua sự giới thiệu của cố GS Vũ Kư. V́ ông là người miền Trung nên có một số chữ đă viết sai «hỏi ngă», toà soạn đă «hiệu đính» tô màu đỏ.

2.            Theo quan điểm của TCDV, th́ Đạo Ông Bà là một tôn giáo lâu đời nhất tại Việt Nam và đạo Phật Giáo Hoà Hảo là đạo Phật của người Việt do chính người Việt sáng lập.

3.            Theo các tăng sĩ, những người theo đạo Phật từ Án Độ truyền vào VN gồm Nam Tông và Bắc Tông, đă quy y mới được coi là Phật Tử. Có người viết, 80% dân chúng theo đạo Phật là không đúng sự thật, viết như vậy rất khiên cưỡng không có tài liệu chứng minh.

4.           Hầu hết người dân Việt từ Nam chí Bắc theo đạo Ông Bà được mô tả trong bài viết này trước khi các tôn giáo khác du nhập vào Việt Nam.

 

-------------------

 

Đạo Ông Bà

 

Đạo Ông Bà:

- một Tín ngưỡng không Tôn giáo

- một Siêu thuyết của dân tộc Việt Nam.

 

 

Nguyễn Thùy

 

 

Lâu nay, nói đến ‘Đạo Ông Bà’, ta thường nghĩ đấy là việc ‘Thờ cúng Tổ Tiên’ và hàng năm, vào Tết Nguyên Đán thường có ‘Lễ Gia Tiên’ được xem là cách thức thể hiện ‘Đạo Ông Bà’ hầu khắp cả nước trong lúc việc ‘giỗ cúng Ông Bà, Cha Mẹ’ tại mỗi nhà thuộc từng gia đ́nh vào từng thơi gian khác nhau theo ngày tháng qua đời của ông bà, cha mẹ.

 

V́ quan niệm đơn giản là ‘thờ cúng tổ tiên’ nên Đạo Ông Bà thường đồng nghĩa với ‘Đạo Hiếu’ nơi Khổng giáo và cho rằng người VN đă tiếp thu qua Khổng giáo. Thực ra, Đạo Ông Bà đă bao gồm Đạo Hiếu nầy, lại c̣n kết hợp Hiếu với Thảo thành ‘Đạo Hiếu Thảo’. Đạo Hiếu của Khổng giáo hầu như không mấy nói đến Thảo. ‘Thảo’, theo người viết, có nghĩa ‘nhường nhịn, san sẻ, bù đắp cho nhau’ chứ không ganh tỵ, ích kỷ, tranh giành, giữ riêng cho ḿnh. Như thế, ‘thảo’ chỉ cách đối xử, liên hệ giữa con cái, anh chị em luôn yêu thương, ḥa thuận, tương nhượng, giúp đỡ nhau; điều nầy càng nâng chữ Hiếu lên một bậc v́ khiến cha mẹ, ông bà vui ḷng thấy con cháu luôn thuận ḥa, gắn bó, yêu thương, không khí gia đ́nh được vui vẻ, ấm cúng. Có lẽ, do ư nầy nên người Việt Nam ta thường gọi chung là ‘Đạo Hiếu Thảo’ chứ không riêng chỉ có Hiếu (Hán Việt tự điển của Nguyễn Văn Khôn không có từ ‘Thảo’ hiểu theo ư vừa nói).

 

Do hiểu ‘Đạo Ông Bà’ riêng theo nghĩa Đạo Hiếu nên người Tây Phương thường gọi ‘Đạo Ông Bà’ là ‘Le Culte des Ancêtres’ (sự thờ cúng Tổ Tiên). Nếu chỉ ‘thờ cúng Tổ Tiên’ không thôi th́ chưa thể gọi là Đạo và dân tộc nào cũng có tục ‘thờ cúng tổ tiên’ như VN ta dù h́nh thức có khác. Người phương Tây tuy không có bàn thờ ông bà trong nhà, không tổ chức cúng vái, mâm cỗ, nhang đèn, không tụ họp gia đ́nh, không mời bà con thân thích trong ngày giỗ cúng nhưng có ngày ‘Fête des Morts’ (lễ Chư Thánh tức lễ Toussain) và họ thăm viếng nghĩa trang, tu bổ mồ mả; lại có những ‘Fête des Mères, Fête des Pères, Fête des Amoureux (ngày Valentin) ngay lúc Cha mẹ, Vợ chồng c̣n sống và trao nhau tặng vật. Đấy là những tục lệ hay đẹp; riêng về sự tưởng nhớ ông bà trong ngày ‘tưởng niệm người chết’ không lắm tính cách long trọng, thiêng liêng như ở Việt Nam. V́ thế sự ‘tưởng niệm ông bà’ của người phương Tây là một mỹ tục chứ không trở thành một ‘đạo’ như đối với người Việt chúng ta (riêng đối  các anh hùng, chiến binh hy sinh v́ Tổ quốc, lễ tưởng niệm  được xem là ‘quốc lễ’, được tổ chức long trọng, qui mô).

         

Người viết nghĩ rằng ‘Đạo Ông Bà’ của người VN mang nhiều ư nghĩa cao đẹp hơn ngoài việc ‘nhớ ơn và thờ phụng’.

 

1/- Trước tiên, ta gọi là ‘Đạo Ông Bà’. Từ Đạo vừa là Đạo lư vừa là con đường. ‘Đạo lư’ v́ nói lên nguyên lư hướng dẫn tư duy và hành động cùng thái độ cư xử của con người trong cuộc sống cộng đồng (môi trường xă hội). ‘Con đường’ v́ những nguyên lư đó đưa dẫn con người hướng đến, t́m về một thứ ǵ đó tốt đẹp, cao sâu, huyền nhiệm để cuộc sống thường nhật của từng người và của cả cộng đồng mang lấy một ư nghĩa cao quí huớng đến một  cứu cánh nào đó..

 

Từ Đạo nơi Đạo Ông Bà không hẳn giống với từ Đạo nơi các Tôn giáo như Đạo Phật, Đạo Chúa,…Từ Đạo nơi các Tôn giáo, theo người viết, đề cập đến uyên nguyên sinh thành của vạn hữu [thuyết Sáng tạo hay Tạo dựng, người viết gọi cái uyên nguyên đó là Đạo Thể (Être)] đuợc gọi bằng một danh xưng nào đó (Phạm thiên, Đấng Tối linh=Brhaman), Thượng Đế, Thể Chân Như, Vô, Thái cực,..) cùng vận hành của uyên nguyên đó nơi cơi tại thế để đưa tất cả trở về lại với cái uyên nguyên ban đầu, nói theo Đạo học là ‘từ Một trở về với Một’. Sự công nhận có một uyên nguyên sinh thành vũ trụ cùng một nguyên lư phổ quát chi phối, điều hướng vạn hữu trở về với Đạo Thể thoạt tiên có thể xem phát xuất từ một ‘tín ngưỡng’, một Đức Tin hoặc từ một giả định của Lư trí thuần lư, chỉ có thể công nhận hay không công nhận chứ không thể biện giải, lư luận. Để quảng bá tín ngưỡng hay Đức tin đó vào quần chúng, con người tiến đến thiết lập nên Tôn giáo bao gồm việc thờ phụng một Giáo chủ  cùng những tín lư, tín điều được nêu thành qui điều, nguyên tắc, định chế, giáo luật, giới răn, giới cấm, những nghi lễ nhất định phải theo và được khuôn ép vào một hệ thống lư luận cùng sinh hoạt trong một tổ chức (giáo hội) thực hành theo từng tôn giáo. Từ Đạo nơi Đạo Ông Bà không có những tính cách đó. Đạo Ông Bà thoạt tiên chỉ là một tín ngưỡng (niềm tin và sự ngưỡng vọng về niềm tin đó) chứ không là tín lư, tín điều v́ không có những nguyên tắc, giới luật, giới răn, giới cấm, những nghi lễ nhất định, không tuân thủ theo một hệ thống tri thức rao giảng cùng hành động thực hiện nhất loạt thống nhất, không tổ chức thành giáo hội, không có giáo chủ, không có hàng ngũ đóng vai tṛ chỉ đạo, dẫn dắt, không có nơi  thờ phượng nhất định như nhà chùa, nhà thờ, không có kinh kệ, không có truyền giảng cũng chẳng nhằm giáo huấn theo lối trường ốc. Dù có mở rộng sự biết ơn và thờ cúng ông bà đến cả ḍng họ (những từ đường) hay đến các danh nhân, liệt sĩ bỏ ḿnh v́ Tổ quốc hay v́ một lư tưởng cao cả (những đền thờ, đ́nh miêu) th́ cũng không ra ngoài tính cách tín ngưỡng chứ không là tôn giáo. Đạo Ông Bà nặng về t́nh cảm hơn là tín lư, tín điều. Do đó, có thể nói ‘Đạo Ông Bà của dân tộc VN là một tín nguỡng không tôn giáo’ hay nói cách khác Đạo Ông Bà tiêu biểu cho tinh thần tôn giáo của dân tộc VN, một tôn giáo không kinh kệ, khôn giáo luật, giáo quy, không hệ thống, không truyền giảng, không hệ thống tổ chức và cũng không nhất thiết phải cần thiết tuân theo một lễ nghi nhất định nào. Đạo Ông Bà thể hiện nơi tấm ḷng, nơi tâm khảm, nhiều khi không cần thiết một lễ nghi và cũng không nhất thiết phải thật đúng vào ngày qua đời của ông bà, cha mẹ. Một nén huơng, một chén nước, một nhớ tưởng bất kỳ lúc nào trong tâm tưởng dù c̣n trong gia đ́nh hay tha hương nơi kiều địa cũng là một thể hiện Đạo Ông Bà nơi ḿnh. Nhà thơ Phương Triều khi thuật lại cảnh một ông già sống lay lất nơi Xóm Mộ, một nghĩa trang nhỏ bất đắc dĩ vùng quê ông sau cuộc ‘đổi đời’ bi thảm do Cộng sản phủ trùm lên nhân dân Miền Nam từ sau 30/04/75, đă thực hiện Đạo Ông Bà trong hiu hắt, buồn đau năo nùng trong ngày Tết :

 

…Nghĩa địa góc quen chiều chợt Tết

Ông già mở lại gói đời quên  (1)

Bên kia chân mộ c̣n vuông đất

Lót lá làm mâm đón tổ tiên…

 

V́ là ‘Tín ngưỡng không tôn giáo’ nên dân tộc ta dễ dàng dung hợp với bao tôn giáo du nhập: Phật, Khổng, Lăo, Ki-Tô giáo v́ các Tôn giáo nầy cũng luôn khuyên ta thờ cha, kính mẹ, ḥa thuận với anh chị em, bạn bè.

 

2/- Ta gọi Đạo Ông Bà chứ không gọi là Đạo Tổ Tiên. Tổ Tiên hoàn toàn chỉ tiền nhân, lớp người quá cố. Ông Bà, hai từ thuần Việt vừa chỉ nguời đă qua đời mà c̣n chỉ ông bà, cha mẹ hiện c̣n sống với con cháu, rể dâu, chắt chít trước tiên cùng huyết thống, ḍng họ, rồi mở rộng đến những người khác ḍng họ với ḿnh (bên nội, bên ngoại của con cháu, dâu rể,…). Người viết đă từng gặp  nhiều gia đ́nh VN hội đủ cả bốn năm thế hệ nối tiếp, tất cả c̣n tại thế từ ông bà cố đến chắt, chít nội ngoại. Chắc hẳn nhiều gia đ́nh như thế nhất là với những người tuổi thọ đến tám chín mươi hoặc hơn nữa. Một điều cũng nên để ư là Đạo Ông Bà không chỉ nhằm tưởng niệm những người cao tuổi đă qua đời mà c̣n tưởng niệm những người c̣n trẻ, c̣n bé không may qua đời trước ḿnh như cha mẹ tưởng niệm con cháu, vợ chồng giỗ chồng, giỗ vợ, anh chị em tưởng niệm anh chị, các em không may chết trước ḿnh, nói lên ḷng nhớ nhung, thương tiếc. Trong ư nghĩa nầy, Đạo Ông Bà nói lên mối liên tục lịch sử của cuộc sống chung, sợi dây liên đới nối kết bao thế hệ quá khứ với thế hệ hiện tại cùng mối liên hệ giũa những lớp người c̣n sống; mối liên hệ không chỉ v́ t́nh thương huyết thống, ḍng họ mà c̣n cả về công nghiệp, về thành quả dựng xây được lưu truyền và tiếp tục được kế thừa qua lịch sử.  Ca dao VN có câu : «Non cao ai đắp mà cao, Sông sâu ai xới ai đào mà sâu». Non kia, sông nọ, nơi đây trong ư nghĩa gần gũi, chỉ đất nước, non sông do công nghiệp lâu dài, bền bỉ của bao đời tích tụ đến hôm nay, không chỉ về mặt vật chất mà c̣n là cái truyền thống văn hóa đă ǵn giữ cuộc sống chung hài ḥa, tốt đẹp lưu truyền từ quá khứ mà nay ta được thụ hưởng. Tất cả đều là di sản của tiền nhân, của ông bà, bao trùm lên tất cả là cái nguồn gốc xa xưa từ khởi thủy của giống ṇi. Đạo Ông Bà biểu hiện tấm ḷng biết ơn, quí trọng cùng trách nhiệm, bổn phận và ư chí ǵn giữ, kế thừa cùng phát huy cái di sản tốt đẹp đó. Điều nầy không do một quyền lực, một nền pháp chế nào áp đặt mà trước tiên xuất phát từ cái ‘năo bộ đạo tâm’ (sensorum religieux), một ‘nguyên lư nội tại’ (principe interne), một yếu tố hay tính chất bẩm sinh nơi con người (2) ǵn giữ mối liên hệ giữa người chết và người sống, giữa mọi người đang cùng sống với nhau trong gia đ́nh,  ḍng họ, trên quê hương, tổ quốc. Điều nầy có thể xem như một ‘di truyền tâm linh’ giữa các thế hệ theo quan điểm Vật linh (animisme) . Từ một tín ngưỡng, Đạo Ông Bà trở thành một tập quán, một thuần phong, mỹ tục, một truyền thống văn hóa đuợc thực hiện hàng ngày của mỗi người con dân đất nước. Có dâng hương, có vái lạy, có dâng lễ vật cho ông bà, không phải để ông bà được uống, được xơi mà là h́nh thức xem ông bà như ‘như tại’, có nghĩa đang cùng có mặt với ḿnh, đang sống cùng với ḿnh.

(Ghi thêm của Tạp Chí Dân Văn, trích từ bản GIA PHẢ hơn 600 năm của gịng họ LÊ, tại làng Bài Trượng, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông, quư bạn đọc muốn xem bản Gia Phả này, liên lạc Mr. LE, email: danvanmagazin@gmail.com)

“Trong cuộc đời của từng người có những điều “huyền diệu” xảy ra mà người thường  không lư giải  được, đời tôi những điều “kỳ bí” đă “ứng nghiệm” trong câu chuyện vượt biên ngay tại Thủ Đô Saigon, tôi đă thuật chi tiết rơ ràng điều “huyền bí” này trong đoản văn CÂU CHUYỆN VƯỢT BIỂN TỪ THỦ ĐÔ SAIGON, tôi tin tưởng tuyệt đối vào sự linh thiêng của người cô ruột, chết lúc c̣n trẻ, người cô này đă hiển linh, thường về giúp con cháu lúc hoạn nạn, từ lúc tôi có căn nhà đầu tiên, được phép ra ở riêng, tôi đă lập bài vị cô tôi để thờ cúng cùng với tổ tiên, ông bà, nhiều lần cô đă hiển hiện để con cháu biết, trong chuyện vượt biển đem cả gia đ́nh ra đi, nếu không có người cô linh thiêng này th́ 2 lần trở về, tôi đă bị bọn Việt cộng bắt giữ rồi. Đây không phải là chuyện dị đoan, hoang đường mà là sự huyền bí linh diệu của mỗi gịng tộc, khoa học không làm sao giải thích được. Bố tôi là một nhà Nho nhưng Ông không bao giờ tin những chuyện nhảm nhí, bói toán vớ vẩn, luôn luôn bài bác mê tín dị đoan, ông cũng chưa từng đi chuà chiền, thánh thất, trong nhà chỉ thiết lập bàn thờ Tổ Tiên, Ông Bà, từ thuở xa xưa, không có H́nh Chụp mà chỉ có BÀI VỊ viết bằng Hán Tự để trên Ban Thờ mà thôi. Việc cúng giỗ cũng được dạy dỗ cho con cháu truyền từ thế hệ này đến thế hệ  sau, một gịng họ lớn như một cây cổ thụ hàng trăm năm, cành lá xum xuê, mỗi cành là một chi, có bao nhiêu cành là họ đó có bấy nhiêu chi, nhiều đời sau, anh em con cháu không c̣n nhận ra nhau, nên tổ tiên, ông bà mới đặt ra “lệ” có một ngày GIỖ TỔ của gịng họ, như họ Lê nhà tôi, cứ đến ngày Giỗ Tổ, bất kể con cháu đi làm ăn xa cũng phải trở về quê quán dự Lễ Giỗ Tổ, nhờ buổi Giỗ Tổ này mà con cháu anh em gặp mặt nhau, duy tŕ sự gắn bó thiêng liêng người cùng một Họ, biết người chi trên chi dưới kéo dài biết bao nhiêu thế hệ, việc thiết lập “cỗ bàn” là để con cháu c̣n sống tụ tập về đây ăn uống, chứ tổ tiên ông bà đă tịch, th́ người đă chết làm sao ăn uống được, những người không am tường Đạo Ông Bà nên thường có những ư nghĩ mang tính cách “miệt thị”, là mê tín dị đoan, tôi được dạy dỗ, chỉ cần một ly nước tinh khiết đặt trên Ban Thờ, c̣n Cỗ Bàn làm nhiều làm ít tùy theo số con cháu mỗi năm về họp mặt nhân ngày Giỗ hàng năm, trong ngày giỗ này, ai c̣n nhớ được điều ǵ về người quá cố, th́ kể cho con cháu c̣n sống được biết, để cùng nhau tưởng nhớ về người đă khuất. Theo sự suy đoán của tôi, th́ Đạo Ông Bà đă có từ cả ngàn năm trước, bằng chứng là các làng mạc miền Bắc đều có các ngôi đền, rất hiếm hoi họa hoằn mới có làng có ngôi chùa dù rằng sử sách ghi lại có những đời Vua sùng bái Đạo Phật.” 

 

3/- Đạo Ông Bà thể hiện hướng vọng về Nguồn của dân tộc VN. Ta nên để  ư đến hai từ thuần Việt ’Ông’ và ‘Bà’. Hai từ nầy chỉ hai giới tính Nam và Nữ, theo Nho giáo là hai yếu tố Dương và Âm, cặp Lưỡng Nhất đă tác động nhau qua thời gian, sinh thành vạn hữu tức vũ trụ hiện tượng. Vậy, với hai từ Ông Bà, Đạo Ông Bà, theo người viết, đă mặc nhiên nói đến cái Cội Nguồn làm phát sinh vạn hữu, trong đó có con người cùng tâm thức luôn hướng về Cội Nguồn của dân tộc. Hướng vọng về Nguồn tức t́m về với Nguồn Cội. Nguồn Cội (Origine) trong ư nghĩa gần gũi nhất chỉ Ông bà Tiên tổ đă xây dựng nên ḍng họ ḿnh. Xa hơn chút, Nguồn Cội là tổ tiên lâu đời đă sáng dựng nên Dân tộc, Quốc gia, ta thường gọi là Quốc Tổ. Xa hơn nữa và rộng sâu hơn nữa, Nguồn Cội chỉ cái B́nh minh sơ thủy do một yếu tố tiên thiên, nguyên khởi đă sinh thành vũ trụ gồm vạn hữu và con người. Cái yếu tố uyên nguyên được gọi theo nhiều danh xưng, dựa theo Đạo học, người viết gọi là Đạo Thể (Être), cái Hữu Thể nền tảng, cái Một nguyên khởi đă tự tác động ḿnh, tự sắc tướng hóa ḿnh , tự đối tượng hóa ḿnh (nói theo triết học), tự vật chất hóa ḿnh (se matéaraliser, nói theo khoa học) để làm phát sinh vũ trụ hiện tượng rồi chuyển dịch theo diễn tŕnh biến hóa và tiến hóa của cơi hiện tượng để phục hồi lại ḿnh cùng đưa vạn hữu trở về hội nhập với ḿnh. đấy là điều Đạo học đă nói ‘từ Một trở về với Một’. Khoa học ngày nay đang trên đường khám phá cái Nguồn Cội đó qua những giả định một Siêu lực (super force), Siêu Sợi (super Corde), một Năng lượng Chân không (énergie du Vide) qua một số lư thuyết, đặc biệt là thuyết Vật Lư Lượng Tử (physique quantique) cùng t́m ra một Lư thuyết toàn bộ (théorie du Tout) giải thích được hết sự h́nh thành cùng diễn biến của vạn hữu. Sự trở về với  Nguồn Cội, theo thiển ư người viết, đă được nói đến qua lời đức Phật và Chúa Jésus. Phật Thích Ca bảo ‘Hồi đầu thị ngạn, Đáo bỉ ngạn’ ‘Bờ bên nầy, Bờ bên kia’ ; Chúa Jésus nói ‘Ta là alpha và oméga, là đầu và rốt’ (từ Ta trong câu nầy chỉ Đức Chúa Trời tức cái Đạo Thể nguyên sơ). ‘Bờ bên nầy, Bờ bên kia’ ‘anpha, oméga’ trong giáo lư của hai Ngài ám chỉ hành tŕnh dịch chuyển của Đạo Thể từ Khởi thủy đến Chung cục tức từ Một trở về trong Một.  Điều ít được nói đến là Cái Đạo Thể, khi tự tác động ḿnh để tạo nên vạn hữu, không đứng yên một chỗ hay biến mất mà luôn dịch chuyển về tương lai để đón chờ vạn hữu trở lại với ḿnh. M.Heidegger đă viết ‘B́nh minh của quá khứ trong ngày tới của tương lai’ (le jadis de l’aurore dans le futur de l‘avenir) và trong thiên cảo luận ‘Con dường điền dă’ đă viết : ‘Bỡi tiếng gọi từ một nguyên sơ thăm thẳm một miền cố quận được hoàn trả lại cho chúng ta’ (Par l’appel en une lointaine Origine, une terre natale nous est rendue – M.Heidegger : ‘Der Feldweg, bản dịch tiếng Pháp ‘Le Chemin de Campagne’ của  André Préau, xem ‘Questions III, Gall. 1966, trang 15). Rơ hơn, M.Heidegger dùng ẩn dụ ‘Tổ quốc - Kiều địa - Cố hương’ để nói lên điều nầy. (người VN chúng ta tỵ nạn chính trị đă phải  rời bỏ Tổ quốc đến lưu cư nơi xứ lạ (kiều dịa) luôn mong chờ ngày trở lại với cố hương). Cái lộ tŕnh ‘từ Một trở về với Một’ của Đạo Thể được xem là Chương tŕnh của Thượng Đế (đạo thể) định ra ḍng vận hành tiến hóa của vạn hữu, trước tiên là của nhân sinh nơi vũ trụ hiện tượng nầy (3).

 

Người VN ta, từ xưa, qua ca dao, dân ca, cũng như thơ ca ngày nay, luôn nhắc đến từ ‘Quê’ (quê hương, quê cha, quê mẹ, quê nội, quê ngoại, quê cha, quê mẹ, quê anh, quê chị, quê em) thân thương, có thể, theo nguời viêt, phần nào cũng nằm trong ư đó.

 

4/- Cũng do hai từ thuần Việt ‘Ông, Bà’, Đạo Ông Bà c̣n nói lên cách đối xử giữa người với người trong hiện tại và về sau. Trong cuộc sống hằng ngày, gặp ai, nói với ai, viết thư cho ai, ta thường bảo ‘thưa Ông, thưa Bà’ , ngoại trừ trong gia đ́nh và căn cứ trên niên kỷ thấp cao, ta dùng những ‘đại danh xưng’ khác trong lúc xưng hô (cha, mẹ, ông bà nội ngoại, Cụ, Bác, Chú, Cô D́, anh, chị, con, em…) hoặc căn cứ vào chức vụ, cấp bực, địa vị xă hội (Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Giám đốc, Thiếu tướng, Đại úy,…Bác sĩ, Kỹ sư, Giáo sư, Luật sư, Tiến sĩ,..) nhưng dù gọi với bất cứ danh xưng nào th́ cũng là ‘ông’ và ‘bà’ tùy theo đối tượng  thuộc giới tính nào. Do đó, hai từ ‘ông, bà’ nói lên mối tương giao, tương hệ thường ngày giữa mọi người trong xă hội. Giữ mối tương giao đó êm đẹp th́ cuộc sống chung của cộng đồng diễn ra vui vẻ, b́nh an. Nhất là trong gia đ́nh, ḍng họ, giữ được mối tương giao đó ḥa thuận, thân ái, gắn bó trong thương yêu, đùm bọc, tôn trọng nhau th́ tổ tiên, ông bà đang c̣n sống hay đă qua đời sẽ rất vui ḷng, sung sướng. V́ thế, Đạo Ông Bà không chỉ nói đến đạo Hiếu của con cháu mà c̣n nói lên đạo Thảo không riêng của con cái, anh chị em mà c̣n mở rộng đến mọi người trong xă hội. Thường ngày, ta nghĩ Đạo Ông Bà chỉ là tập quán, một mỹ tục chứ ít để ư đến ư nghĩa cao xa tiềm ẩn nơi hai từ ‘Ông, Bà’.

 

Với những tính chất trên: tín ngưỡng không tôn giáo, liên tục lịch sử giữa các thế hệ, huớng vọng về nguồn và thực hiện ngay trong hiện tại mối tương giao thuận hảo giữa người và người, ta có thể nói ‘Đạo Ông Bà’ chính là ‘Đạo Sống’ vừa tâm linh vừa thực tiễn của con người.

 

5/- Về mặt Tri thức luận, Đạo Ông Bà có thể xem là một Siêu thuyết của dân tộc Việt Nam ta. ‘Siêu thuyết’ (métathéorie) theo nghĩa Toán học như định nghĩa trong Grand Larousse universel : ‘Siêu thuyết của một lư thuyết diễn dịch nghiên cứu những ư niệm không mâu thuẫn, tự thân túc lư và độc lập của những công lư’ (‘La métathéorie d’une théorie déductive étudie notamment les concepts de non contradiction, de complétude et d’indépendance des axiomes’ – Axiome=công lư, theo nghĩa triết học là ‘chân lư không thể chứng minh’ nhưng hiển nhiên đối với ai hiểu được chân lư đó’  hoặc ‘mệnh đề được nh́n nhận bởi tất cả mọi người, không cần bàn căi’ (vérité indémontrable mais évidente par quiconque  en comprend le sens – proposition admise par tout le monde sans discussion- theo Dictionnaire Le Petit Robert và Dictionnaire Hachette) - Từ một Công lư, người ta suy diễn ra những mệnh đề khác gọi là ‘định lư’ (théorème) trong Toán học). Với bốn tính chất được kể trên, ta thấy Đạo Ông Bà của dân tộc chúng ta là ‘hiển nhiên’ (v́ phát xuất từ năo bộ đạo tâm), tự thân không mâu thuẫn và cũng không mâu thuẫn với một hệ thống lư thuyết hay chân lư nào khác, tự thân túc lư (tự thân trọn vẹn ư nghĩa) và độc lập có nghĩa không phải suy luận từ một định đề (postulat) hay định lư nào khác.

 

Trên đây là những đóng góp của người viết nhằm chứng minh một tinh hoa truyền thống Văn hóa dân tộc chúng ta. Ước mong bạn đọc và các bậc thức giả (các nhà Dân tộc học, Triết gia, Sử gia, Xă hội học,…) chỉ giáo cho người viết những điểm c̣n thiếu sót hoặc có tính cách cường điệu, hay ‘đại ngôn’, ngoa ngôn.

 

 

Nguyễn Thùy.

--------------------------------------

 

Chú thích :

1) Đoạn thơ trích trong thi tập ‘Xóm Mộ’ (nxb Lê Huỳnh, Minnesota, USA 2001). ‘Gói đời quên’: ông già luôn mang theo bên ḿnh một bọc trong đó có bài vị và tấm h́nh cha mẹ. Gói đời tha thiết nầy đành phải quên v́ chế độ Cộng Sản buộc không được nhớ ông bà cha mẹ mà chỉ nhớ ơn Đảng, Bác và Nhà nước Cộng sản thôi.

2) <span lang="FR" style="font-family: Aria

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính