Nhất siêu đa cường – Thế Biển Đông ở đâu?

 

Ngô Viết Quyền

 

 

Tiểu tự: Trong thời đại mà thế giới đổi thay từng ngày, khi những cơn gió lớn của địa chính trị thổi qua mọi châu lục, chúng ta buộc phải nh́n lại một chân lư cổ xưa mà tổ tiên phương Đông đă để lại tư tưởng “Ngạo sương kính thảo” loài cỏ cứng cáp chỉ bộc lộ sức sống khi sương lạnh phủ xuống. không chỉ là lời ca ngợi phẩm chất kiên cường của con người, mà c̣n là một ẩn dụ sâu sắc về đạo trị quốc. Cỏ cứng cáp không được nhận ra trong ngày nắng, mà trong mùa sương lạnh; quốc gia cũng vậy, nội lực không hiển lộ trong thời b́nh, mà trong những biến động địa chính trị khốc liệt và luôn tái diễn giải như một nguyên lư trung tâm của khả năng chống chịu chiến lược (strategic resilience) trong kỷ nguyên cạnh tranh quyền lực giữa Mỹ - Trung - Nga. Chúng ta có thể khẳng định rằng khủng hoảng không tạo ra sức mạnh, mà chỉ phơi bày nội lực đă được tích lũy của một quốc gia: phẩm chất thể chế, năng lực huy động nguồn lực, sức bền kinh tế, tŕnh độ công nghệ quốc pḥng và độ tin cậy của các liên minh. Trong môi trường địa chính trị biến động, ưu thế chiến lược không c̣n nằm ở sức mạnh quân sự tức thời, mà ở khả năng duy tŕ quyền lực lâu dài, điều mà các học giả như  Allison, Mearsheimer đều nhấn mạnh. Quốc gia có thể chế vững, đổi mới liên tục và mạng lưới đối tác ổn định sẽ duy tŕ được “thế”, củng cố răn đe và bảo vệ lợi ích quốc gia.

 

Cuối cùng có thể kết luận: Quyền lực tạo ra vị thế nhưng không bảo đảm trường tồn; khủng hoảng thay đổi môi trường nhưng không thay thế nội lực; và mọi ưu thế địa chính trị đều chịu quy luật biến đổi. Điều quyết định vận mệnh quốc gia dù là Việt Nam, Trung Quốc hay Nga chính là khả năng củng cố nội lực, duy tŕ tính chính danh của thể chế và đóng góp có trách nhiệm vào ổn định khu vực. Trong các bài tham luận trước, tác giả đă lạm bàn đến “Địa Chính Trị Trung Đông”; “Thế Tam Quốc Mới – Liên Hệ Với Việt Nam” và “Tam Đông Trên Bàn Cờ Quốc Tế”. Giờ đây, tác giả muốn suy rộng thêm: Trong chính trị không hề có chuyện nhường nhịn nhau thực thụ, mà mỗi cá nhân hay lănh đạo mỗi quốc gia đều muốn trồi đạp nhau, để tiến lên ngôi vị quyền lực tối cao, dựng nghiệp bá chủ, lập đế chế tân thời thành “Siêu Cường” số một toàn cầu. Nói trắng ra là Mỹ không bày tiệc Champa cho Nga, mà cũng không dọn đại yến cho Tàu. Ngẫm chuyện xưa, theo Khổng Tử trong Luận Ngữ – Chương Vi Chính là:溫 故 而 知 新 可 以 為 師 矣 (Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỷ.) Tuy nhiên, trong nghiên cứu chính trị, "Ôn cố nhi tri tân" cần được hiểu là: Muốn xây dựng lư luận mới hoặc hoạch định chính sách đúng đắn, phải chuyên tâm nghiên cứu kỹ các kinh nghiệm lịch sử, các mô h́nh thành công và thất bại trong quá khứ của người xưa, để rút ra những nguyên lư có giá trị cho hiện tại và tương lai [7][18]. Ví dụ:

  • Nghiên cứu sự tan ră của Liên Sô, để hiểu các thách thức của nhà nước Việt Nam thời hiện đại, nguy hiểm cho đất nước ra sao, nhằm đi đến “Đại Triển Hồng Đồ” [2][12].

  • Nghiên cứu quá tŕnh dân chủ hóa ở Hàn Quốc, Đài Loan, Tây Ban Nha hay Nam Phi để rút ra bài học cho các giai đoạn chuyển tiếp ở chính quốc gia ḿnh. 

  • Đọc lại tư tưởng của Tôn Tử, Carl von Clausewitz để h́nh thành những khung phân tích mới về chiến lược và quan hệ quốc tế trong thế kỷ XXI [4][14].

 

Suy nghĩ rộng ra: Chỉ một cá nhân lănh tụ, một tổ chức hoặc quốc gia Việt Nam, biết nương nhờ, có sự hỗ trợ của các cường quốc phương Tây, nắm được thời thế hoặc phát triển liên minh đối tác chiến lược toàn diện đúng mức, mà nhanh chóng vươn lên, phát huy điểm mạnh của dân tộc là tinh thần chống ngoại xâm, để đạt được địa vị cao hơn trong khu vực ASEAN. Nhằm mục đích xây dựng một khái niệm chính trị học cho chính ḿnh về "Thế". Từ đó, tác giả nhận thấy cụm từ 傲 霜 勁 草 (Ngạo sương kính thảo), được kết hợp với ư thơ 勁 草 (kính thảo) trong văn học Hán ngữ và câu thơ của Trịnh Hoài Đức. Tương tự, cụm từ 扶 而 直 杖(phù nhi trực trượng) cũng không chỉ đơn thuần là một thành ngữ Hán văn kinh điển. Theo ư nghĩa được mô tả rộng ra: "trồi đạp nhau, mà leo lên những bậc thang danh vị, thu góp nhiều lợi nhuận hơn trong xă hội và trên chính trường, thương trường quốc tế". Có lẽ ư niệm này gần với tư tưởng như: 扶 搖 直 上 九 萬 里 (Phù dao trực thượng cửu vạn lư - Cưỡi gió lớn bay vút thẳng lên chín tầng mây.) Ẩn dụ: Người biết nuôi chí lớn, tạo sự nghiệp thăng tiến mạnh mẽ, với hoài bảo vươn cao. Nhưng suy rộng ra, chúng cũng ngầm mang ư nghĩa: "đạp lên nhau để tranh đoạt danh vị “Siêu Cường Số 1” và nắm trọn lợi nhuận trên chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu." 

 

TỔNG QUAN: 

 

Trong ba thập niên đầu của thế kỷ XXI, trật tự quốc tế đang trải qua một giai đoạn chuyển dịch sâu rộng với đặc điểm nổi bật là sự tồn tại đồng thời của một siêu cường có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu và nhiều trung tâm quyền lực khu vực có năng lực ngày càng gia tăng. Bối cảnh này thường được mô tả như một trạng thái "Nhất Siêu – Đa Cường", trong đó cạnh tranh không c̣n giới hạn ở quân sự mà mở rộng sang công nghệ, kinh tế, tài chính, chuỗi cung ứng, năng lượng, dữ liệu và năng lực kiến tạo liên minh. Trong môi trường đó, quyền lực quốc gia không c̣n được đánh giá chủ yếu bằng quy mô vật chất, mà bởi khả năng duy tŕ nội lực chiến lược, thích ứng với biến động và định h́nh môi trường an ninh quốc tế trong dài hạn [7][18].

 

Từ cách tiếp cận này, bài nghiên cứu không nhằm đánh giá đúng – sai của bất kỳ quốc gia hay mô h́nh chính trị nào, mà tập trung khảo sát những quy luật vận động của quyền lực dưới góc nh́n khoa học chính trị và địa chiến lược. Thông qua việc kết hợp tư tưởng Hán học, triết học Phật giáo và một số lư thuyết quan hệ quốc tế hiện đại, bài viết đề xuất khái niệm "Thế" như một biến số phân tích, phản ảnh sự tương tác giữa nội lực quốc gia, môi trường chiến lược và khả năng nắm bắt thời cơ [2][3]. Theo nghĩa đó, khủng hoảng không tạo ra sức mạnh mới, mà chủ yếu làm bộc lộ những nền tảng đă được tích lũy từ trước; c̣n vị thế quốc tế không phải là một trạng thái bất biến, mà là kết quả của quá tŕnh thích ứng, đổi mới và tích lũy năng lực trong suốt chiều dài lịch sử [1].

 

I. "NGẠO SƯƠNG KÍNH THẢO" (傲 霜 勁 草)

 

1) Ứng Dụng Trong Địa Chính Trị Đương Đại

 

Trong phân tích địa chính trị đương đại, tư tưởng 「傲 霜 勁 草」(Ngạo sương kính thảo) có thể được hiểu như một nguyên lư về khả năng cao trong chống chịu chiến lược (strategic resilience) của một quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh quyền lực giữa các cường quốc, đặc biệt là giữa 3 siêu cường: Mỹ, Nga và Trung Quốc. Lịch sử cận đại cho thấy, những cuộc khủng hoảng địa chính trị mang tính hệ thống không tạo ra sức mạnh quốc gia, mà chỉ làm hiển lộ những nền tảng đă được tích lũy từ trước, bao gồm phẩm chất của thể chế, năng lực huy động tổng hợp mọi nguồn lực quốc gia, sức bền của nền kinh tế, tŕnh độ công nghiệp quốc pḥng, khả năng đổi mới công nghệ và mức độ gắn kết của các liên minh chiến lược [7][8]. Cuộc chiến Nga–Ukraine, xung đột giữa Israel và Hoa Kỳ với Iran, cũng như sự cạnh tranh toàn diện giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trên các mặt trận quân sự, công nghệ, thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu đều phản ảnh một thực tế rằng trật tự quốc tế đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc. Trong bối cảnh đó, mọi ưu thế chiến lược không c̣n được quyết định bởi sức mạnh quân sự đơn thuần, mà bởi năng lực duy tŕ sức mạnh tổng hợp và khả năng thích ứng lâu dài trong một cuộc cạnh tranh quyền lực trên nhiều lĩnh vực dẫn đến sự kéo dài trong nhiều năm [3][10]. 

 

2) Khủng Hoảng Như Phép Thử Của Nội Lực Quốc Gia

 

Từ góc nh́n đó, nghịch cảnh không chỉ là một biến số của môi trường an ninh, mà c̣n là phép thử chiến lược đối với mọi chủ thể trên chính trường quốc tế. Quốc gia nào sở hữu nền tảng thể chế vững chắc, năng lực đổi mới công nghệ liên tục hàng năm, khả năng điều phối hiệu quả các nguồn lực quốc gia và mạng lưới đối tác chiến lược toàn diện, ổn định và bền vững sẽ có đủ điều kiện duy tŕ ưu thế, củng cố năng lực răn đe và bảo vệ lợi ích quốc gia trong một môi trường quốc tế ngày càng trở nên bất định [8][10]. Ngược lại, những hạn chế về phẩm chất quản trị nội chính, sự lệ thuộc vào các nguồn lực hoặc công nghệ chiến lược từ bên ngoài, cũng như sự phân tán về ư chí và nguồn lực quốc gia sẽ dần bộc lộ dưới áp lực của cạnh tranh giữa các cường quốc kéo dài. Theo nghĩa đó, tư tưởng 「歲 寒 知 松 柏 患 難 見 忠 臣」 (Tuế hàn tri tùng bách, hoạn nạn kiến trung thần.) Hàm ư rằng giá trị của một nhà lănh đạo, một quan chức hay một thể chế không được đo bằng những thành tựu trong thời kỳ thuận lợi, lúc đất nước đang yên b́nh, mà bằng khả năng giữ vững nguyên tắc, bảo vệ lợi ích quốc gia và gánh vác trách nhiệm trước quốc dân trong những thời khắc khủng hoảng chính trị, suy thoái kinh tế, quốc pḥng bị đe dọa v. v. Chính bởi biến cố và nghịch cảnh là phép thử cuối cùng đối với bản lĩnh chính trị và phẩm chất của người lănh đạo. Đây không chỉ là một triết lư về phẩm chất con người mà c̣n phản ảnh một quy luật phổ quát trong sự vận động của quyền lực quốc gia: khủng hoảng không kiến tạo nội lực, mà chỉ xác nhận mức độ nội lực vốn đă tồn tại [7][8]. Chính v́ vậy, trong kỷ nguyên cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, năng lực thích ứng, sức vững bền của thể chế và tính nhất quán của chiến lược phát triển quốc gia mới là những yếu tố quyết định khả năng duy tŕ ảnh hưởng, định h́nh môi trường an ninh và góp phần kiến tạo một trật tự mới trong khu vực ASEAN, cũng như quốc tế. 

 

II. HAI MÔ H̀NH ĐỐI LẬP QUYỀN LỰC: TRONG KHOA HỌC CHÍNH TRỊ và ĐỊA CHIẾN LƯỢC

 

1. Mô H́nh Quyền Lực Dựa Trên Nội Lực Chiến Lược

 

Nếu diễn giải tư tưởng 「傲 霜 勁 草」(Ngạo sương kính thảo) dưới góc độ khoa học chính trị hiện đại, h́nh tượng này không c̣n đơn thuần phản ảnh phẩm chất của một cá nhân mà trở thành biểu tượng cho một mô h́nh quyền lực được xây dựng trên nền tảng nội lực chiến lược quốc gia (strategic resilience) [8][10]. Khác với những thành tựu đạt được nhờ hoàn cảnh thuận lợi hay ưu thế nhất thời, sức mạnh của mô h́nh này được tích lũy qua nhiều thập niên thông qua phẩm chất và năng lượng thể chế, năng lực quản trị quốc gia, tŕnh độ khoa học – công nghệ cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế, chiều sâu của nền công nghiệp quốc pḥng và khả năng huy động tổng hợp mọi nguồn lực chiến lược trong thời kỳ khủng hoảng. Chính v́ vậy, những biến động địa chính trị như cuộc chiến Nga–Ukraine [5][6]. Kế đó, Israel và Mỹ xung đột trực tiếp với Iran hay sự hiển lộ cạnh tranh chiến lược kéo dài giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc không phải là nguyên nhân tạo ra sức mạnh của các cường quốc, mà chỉ là phép thử làm rơ những năng lực vốn đă được tích lũy từ trước. Theo góc nh́n của Graham Allison, Henry Kissinger và John J. Mearsheimer, sự việc cạnh tranh giữa các cường quốc về bản chất là sự cạnh tranh về năng lực duy tŕ quyền lực lâu dài, chứ không phải sự phô diễn sức mạnh quân sự trong khu vực theo từng thời điểm [1][3][7][10]. Điều quyết định khả năng định h́nh trật tự quốc tế, v́ thế, không nằm ở những thắng lợi chiến thuật đơn lẻ, mà ở sức vững bền của thể chế cai trị, khả năng đổi mới liên tục, tính ổn định của các liên minh chiến lược toàn diện và năng lực thích ứng trước những thay đổi của môi trường an ninh quốc tế. Theo nghĩa đó, "Ngạo sương kính thảo" chính là biểu tượng của một quốc gia có đủ chiều sâu nội lực, để càng trải qua khủng hoảng càng chứng minh được sức sống chiến lược mạnh mẽ của ḿnh.

 

2. Mô H́nh Vận Hành Quyền Lực Chủ Yếu Dựa Trên Quyền Thế Và Lợi Thế Ngắn Hạn

 

Đối lập với mô h́nh trên là phương thức vận hành quyền lực chủ yếu dựa vào ưu thế ngắn hạn, sự tập trung quyền lực hoặc các điều kiện thuận lợi của môi trường quốc tế, thay v́ được chống đỡ bởi nền tảng nội lực bền vững, lại chỉ dựa trên lợi thế quyền lực ngắn hạn (short-term power advantage). Trong Hán học, hiện tượng này được khái quát qua các thành ngữ như 「攀 龍 附 鳳」(Phan long phụng phượng), 「趨 炎 附 勢 」(Xu viêm phụ thế), 「阿 諛 奉 承 」(A dua phụng thừa) hay 「沐 猴 而 冠」(Mộc hầu nhi quan). Hàm ư rằng h́nh thức quyền lực có thể rất rực rỡ nhưng chưa chắc phản ảnh năng lực thực chất. Khi vận dụng vào nghiên cứu quan hệ quốc tế, đây không phải là sự phán xét đạo đức đối với bất kỳ quốc gia nào, mà là một quy luật khách quan của sự vận động quyền lực: mọi cường quốc, dù là Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc hay các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp và Đức v. v., đều có thể bộc lộ những giới hạn cá biệt [2][8]. Nếu quá lệ thuộc vào ưu thế quân sự trước mắt, ảnh hưởng kinh tế tạm thời, công nghệ độc quyền hoặc các liên minh thiếu tính bền vững mà không tiếp tục củng cố nền tảng thể chế cai trị và năng lực đổi mới về các lĩnh vực quân sự, kinh tế - thương mại. Lịch sử của các cường quốc cho thấy khi cạnh tranh với ngân sách vượt trội, chiến lược chuyển từ ngắn hạn sang trường kỳ, những điểm yếu về quản trị hành chánh và ngân sách, sự phân tán nguồn lực, áp lực vận chuyển tài chính, sự suy giảm đồng thuận xă hội hay khoảng cách giữa tiềm lực kinh tế và tham vọng địa chính trị sẽ dần dà bộc lộ [11][12].

 

V́ vậy, theo tư tưởng 「歲 寒 知 松 柏」、「患 難 見 忠 臣」(Tuế hàn tri tùng bách, hoạn nạn kiến trung thần.)  không chỉ phản ảnh quy luật đánh giá phẩm chất con người, mà c̣n có thể được mở rộng thành một nguyên lư của khoa học chính trị: khủng hoảng không hề kiến tạo nội lực quốc gia, mà chỉ làm hiển lộ mức độ nội lực vốn đă được tích lũy từ trước [7][8]. Đó cũng là lư do v́ sao khả năng chống chịu chiến lược (strategic resilience), sức vững bền của thể chế cai trị và tính nhất quán của chiến lược phát triển luôn là những yếu tố quyết định vị thế của một quốc gia trong quá tŕnh h́nh thành và tái định h́nh trật tự quốc tế [10]. Đây cũng là cách tiếp cận gần với suy tư của Allison, Kissinger và Mearsheimer, vốn xem sức mạnh quốc gia là kết quả của thể chế cai trị, nguồn lực dồi dào và chiến lược dài hạn, hơn là những đánh giá mang tính đạo đức. 

 

III. DANH VỊ NHƯ SƯƠNG MAI

 

Đây là tư tưởng rất gần với Phật giáo. Theo nghĩa đó, tư tưởng trong bài kệ nổi tiếng ở cuối Kinh Kim Cang viết: 「一 切 有 為 法, 如 夢 幻 泡 影, 如 露 亦 如 電」. Hán-Việt: Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện. Diễn nghĩa: Danh vọng, quyền lực, địa vị đều giống như  giọt sương mai buổi sớm. Khi mặt trời lên, mọi thứ đều tan biến. Giống như tia chớp. Tượng trưng cho sự ngắn ngủi, mong manh và không bền vững. Nếu ai cả đời chỉ tranh giành một thứ vốn dĩ sẽ biến mất, th́ cuộc đời ấy đă đánh mất điều bền vững hơn: đức hạnh cá nhân, tinh thần trách nhiệm và ư chí phụng sự quốc gia, dân tộc. 

 

Nếu mở rộng tư tưởng ấy vào công cuộc nghiên cứu chính trị quốc tế trong bối cảnh hiện nay "Nhất Siêu – Đa Cường", th́ giá trị của quyền lực cũng chỉ mang tính vô thường như danh vị của mỗi cá nhân. Trong lịch sử hiện đại, không có bất kỳ cường quốc nào duy tŕ ưu thế tuyệt đối vĩnh viễn; mọi trật tự quốc tế đều vận động theo chu kỳ h́nh thành, phát triển, cạnh tranh và tái cấu trúc [2][18]. Vị trí siêu cường hay cường quốc cũng v́ thế không phải là một trạng thái bất biến, mà là kết quả của sự tương tác liên tục giữa nội lực quốc gia, môi trường chiến lược và năng lực thích ứng với những biến đổi của thời đại. Đối với các quốc gia tầm trung như Việt Nam, mục tiêu chiến lược không nên chỉ là lựa chọn đứng hẳn về một cực quyền lực hoặc một siêu cường nào, mà là phải xây dựng đủ "Thế" để chủ động điều ḥa quan hệ với nhiều trung tâm quyền lực, bảo vệ lợi ích quốc gia trong một môi trường cạnh tranh ngày càng phức tạp [7]. Khi đó, danh vị quốc tế không c̣n là cứu cánh, mà chỉ là hệ quả của một quá tŕnh tích lũy lâu dài về phẩm chất và năng lượng thể chế, năng lực quản trị hành chánh, sức mạnh kinh tế, tŕnh độ khoa học – công nghệ tiên tiến và khả năng kiến tạo ḷng tin của người dân và các đối tác chiến lược trong khu vực ASEAN. 

 

Tác giả không phủ nhận vai tṛ của quyền lực, mà nhắc nhở rằng quyền lực chỉ có ư nghĩa khi được sử dụng như một phương tiện để phụng sự quốc gia, dân tộc và duy tŕ ḥa b́nh, thay v́ trở thành mục tiêu tự thân của sự tranh đoạt. Trong một hệ thống quốc tế đang chuyển dịch từ cấu trúc tập trung sang cạnh tranh giữa nhiều cực quyền lực, quốc gia nào chỉ theo đuổi danh vị bá quyền mà xem nhẹ nền tảng phát triển bền vững sẽ khó duy tŕ ảnh hưởng lâu dài. Ngược lại, quốc gia biết kết hợp giữa nội lực, bản lĩnh chiến lược và khả năng thích ứng sẽ có điều kiện để nâng cao vị thế một cách ổn định, mà không lệ thuộc hoàn toàn vào sự thăng trầm của bất kỳ cường quốc nào. Đó cũng là ư nghĩa sâu xa của việc nh́n quyền lực dưới lăng kính vô thường: danh vị có thể thay đổi theo thời cuộc, nhưng giá trị của một quốc gia được quyết định bởi năng lực phụng sự nhân dân, bảo vệ chủ quyền quốc gia và đóng góp có trách nhiệm vào trật tự khu vực cũng như quốc tế. 

 

IV. ỨNG DỤNG VÀO THỜI ĐƯƠNG ĐẠI

 

Nếu chuyển nguyên lư này sang phân tích quan hệ quốc tế, chúng ta cần phân biệt giữa ẩn dụ đạo lư và đánh giá thực tiễn. Đồng thời, có thể xem các cuộc chiến lớn như những "mùa đông sương giá" đối với hệ thống quốc tế. Trong bối cảnh ấy, khả năng chịu đựng, năng lực tổ chức và sự kiên định của các quốc gia nhỏ yếu bị thử thách bởi các thế lực nước lớn rơ nét hơn nhiều so với thời b́nh. Đối với Hoa Kỳ, chiến tranh tại Ukraine và xung đột giữa Israel với Iran là hai phép thử chiến lược mang hai bản chất khác nhau:

 

1) Ở Ukraine: 

 

Hoa Kỳ chủ yếu giữ vai tṛ hỗ trợ một quốc gia đối tác thông qua viện trợ quân sự, kinh tế, t́nh báo và ngoại giao, nhằm tránh việc khai triển lực lượng binh sĩ chiến đấu quy mô lớn. Cách tiếp cận này thường được mô tả là chiến tranh ủy nhiệm (proxy warfare) theo nghĩa rộng, dù khái niệm này vẫn c̣n gây nhiều tranh luận trong giới học thuật quốc tế [5][9].

 

Từ góc nh́n của địa chính trị hiện đại, đây c̣n là một h́nh thức cạnh tranh chiến lược gián tiếp, trong đó các cường quốc t́m cách tác động đến cán cân quyền lực khu vực, nhằm hạn chế nguy cơ đối đầu quân sự trực tiếp giữa các quốc gia sở hữu năng lực răn đe hạt nhân [3]. Cuộc chiến cũng phản ảnh sự chuyển dịch từ mô h́nh đối đầu truyền thống sang mô h́nh cạnh tranh tổng hợp, nơi viện trợ quân sự, công nghệ tiên tiến, t́nh báo vượt trội, năng lực sản xuất quốc pḥng vững mạnh, sức chịu đựng của nền kinh tế vững bền và khả năng duy tŕ sự đoàn kết giữa các đồng minh trở thành những yếu tố quyết định không kém phần quan trọng trên chiến trường. Theo nghĩa đó, Ukraine không chỉ là một chiến trường quân sự, mà c̣n là phép thử đối với khả năng duy tŕ trật tự an ninh châu Âu, mức độ gắn kết của các liên minh xuyên Đại Tây Dương và sức bền chiến lược của các chủ thể tham gia trong một cuộc cạnh tranh có khả năng kéo dài nhiều năm [7].

 

2) Trong Căng Thẳng Lâu Dài Với Iran: 

 

Mỹ đă có những thời điểm sử dụng sức mạnh quân sự trực tiếp để bảo vệ lực lượng của ḿnh, bảo vệ tuyến tự do hàng hải quốc tế và hỗ trợ đồng minh, đồng thời t́m cách kềm chế xung đột, không để nó lan rộng thành một cuộc chiến tổng lực. Khác với chiến trường Ukraine, môi trường an ninh tại Trung Đông đặt trọng tâm vào việc duy tŕ năng lực răn đe, bảo đảm an ninh hàng hải, ngăn chặn nguy cơ phổ biến vũ khí chiến lược và kiểm soát nguy cơ leo thang chiến tranh trong khu vực [9][10]. Điều đó đ̣i hỏi sự kết hợp linh hoạt giữa sức mạnh quân sự, ngoại giao, t́nh báo, các biện pháp kinh tế và sự phối hợp với các đối tác khu vực nhằm duy tŕ trạng thái cân bằng chiến lược. Từ góc nh́n nghiên cứu chính trị, đây là minh chứng cho thấy hiệu quả của quyền lực quốc gia không chỉ được đo bằng khả năng sử dụng vũ lực, mà c̣n bằng năng lực kiểm soát mức độ leo thang của xung đột, để bảo vệ các lợi ích chiến lược dài hạn [7]. Từ góc nh́n biểu tượng của "Ngạo sương kính thảo", bài học được rút ra không nằm ở việc ca ngợi chiến tranh, mà ở chỗ những giai đoạn khủng hoảng sẽ làm lộ rơ ai mới thực sự là “Nhất Siêu”: 

 

2.1- Năng lực duy tŕ liên minh và ḷng tin giữa các đối tác. 

 

Khả năng duy tŕ một hệ thống liên minh bền vững phụ thuộc không chỉ vào các hiệp ước an ninh hay cam kết chính trị, mà c̣n vào mức độ tin cậy lẫn nhau được xây dựng thông qua quá tŕnh hợp tác lâu dài [7][18]. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc, ḷng tin chiến lược trở thành một loại "nguồn vốn chính trị" giúp các quốc gia điều phối hành động, chia sẻ gánh nặng và nâng cao hiệu quả răn đe tập thể. Những thời kỳ khủng hoảng thường là phép thử rơ ràng nhất đối với độ bền của các liên minh, bởi chỉ khi lợi ích quốc gia bị đe dọa, th́ mức độ gắn kết thực chất mới được bộc lộ như keo sơn.  

 

2.2 - Sức mạnh của nền kinh tế và công nghiệp quốc pḥng. 

 

Mọi chiến lược quốc gia đều phải được nâng đỡ bởi một nền kinh tế có năng lực tạo ra của cải, đổi mới công nghệ cao và bảo đảm nguồn tài lực cho quốc pḥng trong một thời gian dài. Một nền công nghiệp quốc pḥng hiện đại không chỉ quyết định khả năng bổ sung trang thiết bị và duy tŕ năng lực tác chiến, mà c̣n phản ảnh tŕnh độ khoa học, kỹ thuật và năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế quốc gia [6][17]. V́ vậy, trong các cuộc cạnh tranh kéo dài, ưu thế bền vững thường thuộc về những quốc gia có khả năng chuyển hóa sức mạnh kinh tế thành sức mạnh chiến lược một cách hiệu quả và liên tục. 

 

3.2 - Khả năng thích ứng trước những biến động kéo dài. 

 

Trong môi trường quốc tế đầy biến động như hiện nay, năng lực thích ứng nhanh, gọn nhẹ trở thành một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sức mạnh của một quốc gia. Điều này bao gồm khả năng điều chỉnh chiến lược, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, đổi mới công nghệ cao, sớm thích nghi với các h́nh thức chiến tranh mới và duy tŕ tính linh hoạt của bộ máy quản trị hành chính trước những biến động khó dự báo. Một quốc gia càng có khả năng thích ứng nhanh, gọn nhẹ th́ càng giảm thiểu được tổn thất nhân sự và duy tŕ được vị thế cạnh tranh trong dài hạn [10][11].

 

4.2 - Ư chí chính trị trong nước khi phải đối mặt với chi phí của các cam kết quốc tế.

 

Bên cạnh sức mạnh quân sự và kinh tế, ư chí chính trị trong nước là yếu tố quyết định khả năng theo đuổi các mục tiêu chiến lược lâu dài [8][11]. Việc duy tŕ sự đồng thuận xă hội, sự ủng hộ của công chúng và tính ổn định của hệ thống chính trị sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chấp nhận các chi phí kinh tế, quân sự và ngoại giao phát sinh từ nhiều cam kết quốc tế. Lịch sử cho thấy nhiều cường quốc không suy giảm v́ thất bại trên chiến trường, mà v́ không c̣n duy tŕ được sự đồng thuận chính trị trong nước để tiếp tục theo đuổi các mục tiêu chiến lược lâu dài đă đặt ra. 

 

Ngược lại, h́nh ảnh "浮 名 如 露”(Phù danh như lộ) nhắc nhở các lănh đạo quốc gia rằng: một cường quốc nếu chỉ theo đuổi uy tín trên bề mặt, như phần nổi của tảng băng, thành tích ngắn hạn hay biểu tượng quyền lực mà thiếu hẳn nền tảng thể chế, đồng thuận xă hội dân sự và chiến lược dài hạn th́ ảnh hưởng của họ cũng rất có thể bị suy giảm như giọt sương mai, mau tan dưới ánh mặt trời. 

 

V. Ư NGHĨA NHÂN SINH

 

Theo cách tŕnh bày như trên, tác giả không đưa ra nhận định chuẩn tắc về đúng–sai của các bên tham chiến, mà phân tích các động lực chiến lược, năng lực thể chế và quy luật vận động của quyền lực quốc gia. Điều này cũng phù hợp với sự thuần nhất và tinh thần xuyên suốt của phần "Ngạo sương kính thảo". Nghĩa là khủng hoảng không tạo ra nội lực, mà chỉ làm bộc lộ mức độ nội lực vốn đă được tích lũy từ trước [7][8]. V́ thế, ta có thể cô đọng toàn bộ tư tưởng “Ngạo sương kính thảo” này thành một đoạn văn sau: 

Đây không chỉ là h́nh tượng của loài cỏ vượt qua mùa đông giá lạnh, mà c̣n là biểu tượng của nhân cách được tôi luyện thông qua mọi nghịch cảnh. Trái lại, phù danh vốn chỉ như giọt sương đầu ngọn cỏ; kẻ chỉ biết nương theo quyền thế để tranh đoạt địa vị tuy có thể bước rất nhanh, nhưng khó đứng vững trước thử thách của thời gian. Đến đây, tôi có một nhắc nhở đến giới lănh đạo Việt Nam đương đại: Lịch sử nhiều lần cho thấy, quyền lực có thể dựng nên danh vọng, nhưng chỉ có đạo nghĩa mới tạo nên uy tín bền lâu; chức vị có thể được trao bởi con người, nhưng phẩm cách chỉ được chứng thực bởi nghịch cảnh. V́ vậy, trong đời người cũng như trong vận mệnh của một quốc gia, điều quyết định không phải là đứng ở vị trí nào, cao ngất ngưởng trên nấc thang quyền lực, mà là sau mỗi mùa "sương giá" của lịch sử, c̣n giữ được bao nhiêu khí tiết, trách nhiệm và năng lực phụng sự cho quốc gia dân tộc theo đúng nghĩa: “Dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh.” 

 

VI. KHÁI NIỆM VỀ "THẾ" TRONG KHOA HỌC CHÍNH TRỊ: MỘT MÔ H̀NH PHÂN TÍCH QUYỀN LỰC

 

1. Giới Hạn Của Khái Niệm Quyền Lực Truyền Thống

 

Trong nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại, quyền lực quốc gia (national power) thường được đánh giá thông qua các chỉ số hữu h́nh như quy mô dân số, diện tích lănh thổ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tŕnh độ khoa học – công nghệ, ngân sách quốc pḥng, quy mô lực lượng vũ trang hay năng lực răn đe hạt nhân [2][8]. Các trường phái hiện thực từ Hans J. Morgenthau, Kenneth N. Waltz đến John J. Mearsheimer đều xem quyền lực vật chất là nền tảng quan trọng quyết định vị trí của quốc gia trong hệ thống quốc tế [3]. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cho thấy những chỉ số ấy tuy cần thiết nhưng chưa đủ để lư giải v́ sao có những quốc gia sở hữu tiềm lực vượt trội nhưng vẫn suy giảm ảnh hưởng hoặc tan ră, trong khi một số quốc gia khác, với nguồn lực hạn chế lại có khả năng gia tăng vị thế và định h́nh môi trường chiến lược vượt quá quy mô vật chất của ḿnh.

 

Sự tan ră của Liên Sô năm 1991 là một minh chứng tiêu biểu cho giới hạn của cách tiếp cận chỉ dựa trên sức mạnh vật chất [12][18]. Trước thời điểm giải thể, Liên Sô vẫn sở hữu một trong hai kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, lực lượng quân đội đông đảo, nền công nghiệp quốc pḥng phát triển, lănh thổ rộng lớn trải dài trên hai châu lục và ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống các quốc gia xă hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, những ưu thế ấy không đủ để duy tŕ vị thế siêu cường khi nội lực kinh tế suy giảm, cơ chế quản trị hành chánh bộc lộ nhiều hạn chế, tính chính danh của thể chế bị thách thức và khả năng thích ứng với những biến đổi của môi trường quốc tế ngày càng suy yếu [10][11]. Điều đó cho thấy quyền lực vật chất không đồng nhất với khả năng duy tŕ ảnh hưởng chiến lược trong dài hạn.

 

Từ góc nh́n này, bài nghiên cứu cho rằng cần bổ sung một biến số phân tích có khả năng giải thích quá tŕnh chuyển hóa giữa năng lực quốc gia và vị thế quốc tế. Biến số đó được tác giả đề xuất với tên gọi "Thế". Khác với quyền lực vật chất thuần túy, "Thế" phản ảnh trạng thái tổng hợp được h́nh thành từ sự kết hợp giữa nội lực quốc gia, vị trí địa chiến lược, khả năng nắm bắt thời cơ lịch sử và năng lực kiến tạo mạng lưới quan hệ quốc tế. Theo nghĩa đó, "Thế" không thay thế khái niệm quyền lực, mà bổ sung cho quyền lực bằng cách lư giải v́ sao cùng một mức năng lực vật chất nhưng các quốc gia có thể đạt được những kết quả chiến lược rất khác nhau.

 

2. "Thế" Như Khả Năng Chuyển Hóa Năng Lực Thành Vị Thế

 

Nếu quyền lực phản ảnh khả năng sở hữu các nguồn lực vật chất, th́ "Thế" phản ảnh khả năng chuyển hóa các nguồn lực ấy thành ảnh hưởng thực tế trong môi trường quốc tế. Nói cách khác, quyền lực là điều kiện cần, c̣n "Thế" là điều kiện giúp quyền lực phát huy hiệu quả trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Một quốc gia có thể sở hữu tiềm lực đáng kể, nhưng nếu không biết lựa chọn thời điểm thích hợp, không tận dụng được vị trí chiến lược hoặc không xây dựng được mạng lưới liên kết quốc tế bền vững th́ những nguồn lực ấy khó chuyển hóa thành ảnh hưởng lâu dài. 

 

Nhật Bản sau năm 1945 là một ví dụ điển h́nh cho khả năng kiến tạo "Thế" mà không dựa chủ yếu vào sức mạnh quân sự truyền thống [7][18]. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (WW II), quốc gia này bị giới hạn đáng kể về năng lực quân sự theo Hiến pháp ḥa b́nh, song lại tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao, mở rộng năng lực sản xuất, thúc đẩy thương mại quốc tế, đầu tư cho giáo dục và khoa học – kỹ thuật, đồng thời xây dựng quan hệ đồng minh an ninh bền vững với Hoa Kỳ. Trong nhiều thập niên, chiến lược ấy đă giúp Nhật Bản trở thành một trong những trung tâm kinh tế và công nghệ hàng đầu thế giới, đồng thời duy tŕ ảnh hưởng đáng kể đối với cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực châu Á – Thái B́nh Dương mà không cần theo đuổi mô h́nh cường quốc quân sự truyền thống.

Từ đó có thể thấy rằng "Thế" không phải là một yếu tố bất biến hay một đặc quyền của các siêu cường, mà là kết quả của quá tŕnh tích lũy lâu dài thông qua chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng điều phối nguồn lực quốc gia và mức độ tin cậy trong quan hệ với các đối tác quốc tế. Khi những yếu tố này hội tụ đúng thời điểm lịch sử, quốc gia sẽ có khả năng mở rộng ảnh hưởng vượt quá quy mô vật chất vốn có. Theo nghĩa đó, "Thế" là trạng thái động, luôn biến đổi cùng với sự thay đổi của môi trường quốc tế, tŕnh độ phát triển nội tại và khả năng thích ứng của mỗi quốc gia [10][11]. Từ góc độ lư luận, chuyên khảo đề xuất có thể khái quát mối quan hệ giữa quyền lực và "Thế" như sau:

Quyền lực (Power) phản ảnh quy mô và chất lượng các nguồn lực quốc gia; c̣n "Thế" (Strategic Positioning) phản ảnh khả năng chuyển hóa những nguồn lực ấy thành vị thế chiến lược, sức ảnh hưởng và khả năng định h́nh môi trường quốc tế. Theo cách tiếp cận này, "Thế" không đồng nhất với quyền lực, cũng không đồng nhất với địa vị quốc tế, mà là biến số trung gian quyết định hiệu quả chuyển hóa từ năng lực sang ảnh hưởng. Chính v́ vậy, hai quốc gia có mức tiềm lực tương đương vẫn có thể đạt được những kết quả chiến lược rất khác nhau nếu khả năng kiến tạo và duy tŕ "Thế" khác nhau. 

 

3. Việt Nam Và Bài Toán Kiến Tạo "Thế"

 

Đối với các quốc gia có quy mô trung b́nh như Việt Nam, việc cạnh tranh trực tiếp với các siêu cường bằng sức mạnh quân sự, hàm lượng quy mô kinh tế lớn hay tiềm lực khoa học – công nghệ tiên tiến là điều không thực tế trong ngắn hạn. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc Việt Nam không có khả năng nâng cao vị thế trong khu vực và trên trường quốc tế. Từ góc nh́n của khái niệm "Thế", lợi thế của Việt Nam không nằm ở sức mạnh tuyệt đối mà ở khả năng kết hợp hài ḥa giữa vị trí địa chiến lược, nội lực phát triển và chính sách đối ngoại linh hoạt, cân bằng trong một môi trường quốc tế đang chuyển dịch sang cấu trúc "Nhất Siêu – Đa Cường" [7][18].

 

Vị trí địa lư nằm trên tuyến hàng hải quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái B́nh Dương, cùng với vai tṛ kết nối giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á, tạo cho Việt Nam những điều kiện thuận lợi để tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó, việc mở rộng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và duy tŕ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ quốc tế góp phần nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường chiến lược [10][11][19]. Tuy nhiên, những lợi thế bên ngoài chỉ có thể chuyển hóa thành "Thế" khi được nâng đỡ bởi nội lực quốc gia. Điều đó bao gồm việc tiếp tục hoàn thiện chất lượng thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học – công nghệ, xây dựng nền kinh tế có năng lực đổi mới sáng tạo và từng bước hiện đại hóa nền công nghiệp quốc pḥng. Chỉ khi các yếu tố này được tích lũy đồng bộ trong thời gian dài, Việt Nam mới có khả năng gia tăng sức chống chịu chiến lược, nâng cao vị thế trong ASEAN và mở rộng ảnh hưởng phù hợp với lợi ích quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc.

 

Theo nghĩa đó, "Thế" không phải là kết quả của việc lựa chọn đứng hẳn về bất kỳ cực quyền lực nào, mà là năng lực duy tŕ quyền tự chủ chiến lược, chủ động thích ứng với biến động của môi trường quốc tế và chuyển hóa các nguồn lực quốc gia thành sức mạnh tổng hợp. Đây cũng là điểm gặp gỡ giữa tư tưởng phương Đông và khoa học chính trị hiện đại: quyền lực vật chất luôn có giới hạn, nhưng khả năng kiến tạo "Thế" mới là yếu tố quyết định mức độ ảnh hưởng và sức bền của vị thế quốc gia trong tiến tŕnh vận động của lịch sử. 

 

 

TẠM KẾT:

 

Toàn bộ chuyên khảo này cho thấy rằng sự vận động của quyền lực quốc gia không phải là một quá tŕnh tuyến tính, mà luôn diễn ra trong trạng thái cạnh tranh gay gắt, điều chỉnh và tái cân bằng giữa các chủ thể trong hệ thống quốc tế đang biến động khó đoán, hầu như hằng ngày [2][18]. Trong bối cảnh "Nhất Siêu – Đa Cường" đang hiển lộ hiện nay, ưu thế của bất kỳ quốc gia nào cũng không thể được xem là vĩnh viễn, bởi mọi trật tự quốc tế đều chịu tác động đồng thời của biến đổi công nghệ cực kỳ tiên tiến, dịch chuyển kinh tế như lốc xoáy, năng lực thể chế và sự thay đổi của môi trường an ninh. Từ góc nh́n đó, tư tưởng「傲 霜 勁 草」(Ngạo sương kính thảo) không chỉ phản ảnh phẩm chất của con người trước nghịch cảnh mà c̣n có thể được mở rộng thành một nguyên lư về khả năng chống chịu chiến lược (strategic resilience) của quốc gia [7][10]. Những biến động lớn của thế kỷ XXI tiếp tục khẳng định rằng khủng hoảng không kiến tạo nội lực, mà chỉ làm hiển lộ mức độ nội lực vốn đă được tích lũy trong nhiều năm thông qua phẩm chất và năng lượng thể chế, năng lực quản trị hành chánh, sức mạnh kinh tế vững bền, tŕnh độ khoa học – công nghệ cao và khả năng huy động nguồn lực quốc gia [8].

 

Đối lập với ư tưởng đó, h́nh tượng "浮 名 如 露”(Phù danh như lộ) trong tư tưởng Phật giáo nhắc nhở rằng mọi danh vọng, quyền lực và địa vị đều vô thường. Khi được vận dụng vào nghiên cứu chính trị, điều này không phủ nhận vai tṛ của quyền lực lănh đạo, mà đặt quyền lực vào đúng vị trí của nó: một phương tiện, để phục vụ lợi ích quốc gia, chứ không phải cứu cánh của mọi hoạt động chính trị nhằm thỏa măn “tham si sân”. Một quốc gia chỉ theo đuổi địa vị bá quyền mà xem nhẹ nền tảng phát triển lâu dài sẽ khó duy tŕ ảnh hưởng khi môi trường địa chiến lược thay đổi [3][7]. Đối với các quốc gia quy mô trung b́nh như Việt Nam, bài học rút ra không phải là lựa chọn tuyệt đối giữa các cực quyền lực, mà là xây dựng đủ "Thế" để bảo đảm tính tự chủ chiến lược, mở rộng mạng lưới đối tác và nâng cao năng lực thích ứng trong một môi trường cạnh tranh ngày càng phức tạp [18]. Giá trị của quốc gia v́ thế không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay sức mạnh quân sự, mà c̣n bằng phẩm chất và năng lượng thể chế, năng lực đổi mới theo bánh xe lịch sử, mức độ đồng thuận xă hội và khả năng chuyển hóa các nguồn lực quốc gia thành sức mạnh tổng hợp. Từ phương diện học thuật, chuyên khảo này cũng gợi mở khả năng kết nối giữa tư tưởng phương Đông và lư thuyết quan hệ quốc tế hiện đại. Những khái niệm như "Ngạo sương kính thảo", "Tuế hàn tri tùng bách" hay "Như lộ diệc như điện" không chỉ mang giá trị văn hóa, mà c̣n có thể được diễn giải như các ẩn dụ phân tích về sức bền vững trong chiến lược, tính thích ứng của thể chế và tính vô thường của quyền lực trong hệ thống quốc tế. 

 

Sau cùng, luận điểm trung tâm của toàn bộ nghiên cứu có thể được cô đọng như sau: quyền lực có thể tạo nên vị thế, nhưng không bảo đảm sự trường tồn; khủng hoảng có thể thay đổi môi trường cạnh tranh, nhưng không thay thế được nội lực; c̣n danh vị quốc tế chỉ bền vững khi được nâng đỡ bởi thể chế hiệu quả, năng lực đổi mới và tinh thần phụng sự lợi ích quốc gia trong dài hạn. Chính trên nền tảng đó, khái niệm "Thế" được đề xuất không chỉ như một công cụ phân tích địa chính trị, mà c̣n như một cách tiếp cận nhằm lư giải sự h́nh thành, duy tŕ và chuyển dịch của quyền lực trong thế kỷ XXI [18]. Đồng thời, dưới ánh sáng của tư tưởng "Như lộ diệc như điện", bài nghiên cứu này cũng nhấn mạnh rằng mọi ưu thế địa chính trị cuối cùng đều chịu sự chi phối của quy luật biến đổi. V́ vậy, điều quyết định vận mệnh lâu dài của một quốc gia tầm trung như Việt Nam, hay cường quốc như Trung Cộng hoặc Nga không phải là thứ hạng quyền lực nhất thời, mà là khả năng không ngừng củng cố nội lực, duy tŕ tính chính danh của thể chế và đóng góp có trách nhiệm vào ḥa b́nh, ổn định và phát triển của khu vực cũng như cộng đồng quốc tế [1].

 

 

Ngô Viết Quyền * Saint Cloud, Florida – July 2026 * 



FOOTNOTES / TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Allison, Graham T.

Destined for War: Can America and China Escape Thucydides’ Trap? Boston: Houghton Mifflin Harcourt, 2017.

[2] Waltz, Kenneth N.

Theory of International Politics. Reading, MA: Addison-Wesley, 1979.

[3] Mearsheimer, John J.

The Tragedy of Great Power Politics. Updated Edition. New York: W. W. Norton & Company, 2014.

[4] Clausewitz, Carl von.

On War. Edited and translated by Michael Howard and Peter Paret. Princeton: Princeton University Press, 1976.

[5] Freedman, Lawrence.

Ukraine and the Art of Strategy. Oxford: Oxford University Press, 2019.

[6] Biddle, Stephen.

Military Power: Explaining Victory and Defeat in Modern Battle. Princeton: Princeton University Press, 2004.

[7] Kissinger, Henry.

World Order. New York: Penguin Press, 2014.

[8] Morgenthau, Hans J.

Politics Among Nations: The Struggle for Power and Peace. 7th Edition. Revised by Kenneth W. Thompson and W. David Clinton. New York: McGraw-Hill, 2006.

[9] Schelling, Thomas C.

Arms and Influence. New Haven: Yale University Press, 1966.

[10] Gray, Colin S.

Modern Strategy. Oxford: Oxford University Press, 1999.

[11] Brands, Hal.

The Twilight Struggle: What the Cold War Teaches Us about Great-Power Rivalry Today. New Haven: Yale University Press, 2016.

[12] Brzezinski, Zbigniew.

The Grand Chessboard: American Primacy and Its Geostrategic Imperatives. New York: Basic Books, 1997.

[13] Posen, Barry R.

The Sources of Military Doctrine: France, Britain, and Germany Between the World Wars. Ithaca: Cornell University Press, 1984.

[14] Sun Tzu.

The Art of War. Translated by Samuel B. Griffith. Oxford: Oxford University Press, 1963.

[15] Office of the Secretary of Defense.

Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China. Washington, DC: U.S. Department of Defense, annual reports.

[16] RAND Corporation.

China’s Military Modernization and Strategic Competition. Santa Monica, CA: RAND Corporation research reports.

[17] International Institute for Strategic Studies (IISS).

The Military Balance. London: Routledge for IISS, annual editions.

[18] Kissinger, Henry.

Diplomacy. New York: Simon & Schuster, 1994.

[19] Foreign Relations of the United States (FRUS).

Foreign Relations of the United States: Diplomatic Papers. Washington, DC: U.S. Department of State, Historical Documents Series.

[20] Hoover Institution.

Strategic Studies and International Security Research Publications. Stanford, CA: Hoover Institution, Stanford University.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính