Hormuz của Iran – Điểm chết của Trung Cộng.

 

Ngô Viết Quyền

 

 

Tiểu Tự: Để làm rơ hơn ư nghĩa về cuộc khủng hoảng tại eo biển Hormuz, có thể thấy rằng vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh năng lượng toàn cầu mà c̣n đặt ra những thách thức lớn về mặt địa chính trị. Eo biển Hormuz là “yết hầu dầu mỏ” của thế giới, nếu có sự gián đoạn, sẽ dẫn đến hiệu ứng domino trong chuỗi cung ứng, tác động mạnh đến giá cả và t́nh h́nh kinh tế của nhiều quốc gia. Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế nhằm giảm thiểu rủi ro và t́m kiếm các giải pháp ổn định lâu dài cho thị trường năng lượng toàn cầu. Ngoài ra, các chiến lược đối phó của các nước lớn như Mỹ, Trung Cộng, và các quốc gia vùng Vịnh cũng là yếu tố then chốt quyết định diễn biến tiếp theo của cuộc khủng hoảng này.

 

Một trong những mục tiêu then chốt của Mỹ tại eo biển Hormuz là đảm bảo ḍng chảy dầu mỏ không bị gián đoạn, qua đó duy tŕ sự ổn định của thị trường năng lượng toàn cầu và bảo vệ lợi ích kinh tế của chính ḿnh cũng như các đồng minh. Ngoài ra, Mỹ cũng muốn khẳng định vai tṛ cường quốc hàng đầu về an ninh hàng hải, đồng thời kiểm soát các rủi ro tiềm ẩn từ các thế lực đối đầu như Iran hoặc các quốc gia có thể đe dọa tự do lưu thông qua tuyến đường huyết mạch này. Sự hiện diện và can thiệp của Mỹ tại đây c̣n nhằm gửi đi thông điệp răn đe, giữ vững thế cân bằng chiến lược ở khu vực Trung Đông vốn luôn tiềm ẩn nhiều bất ổn, đồng thời duy tŕ vị thế chủ động trong các cuộc đàm phán quốc tế liên quan đến năng lượng và an ninh khu vực.

 

Bài nghiên cứu này phân tích vai tṛ chiến lược của Eo biển Hormuz trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị Mỹ - Trung đương đại, đặc biệt dưới cách tiếp cận tạm gọi là “kiểm soát chokepoint” như một công cụ quyền lực gián tiếp. Eo biển Hormuz không chỉ là một tuyến vận tải năng lượng trọng yếu mà c̣n là “điểm huyệt” có khả năng chi phối toàn bộ cấu trúc kinh tế - năng lượng toàn cầu. Trong bối cảnh Mỹ gia tăng áp lực lên Iran và gián tiếp lên Trung Cộng, khu vực này dần dà trở thành trung tâm của một “cái bẫy chiến lược” mang tính hệ thống.

 

Tác giả tự lập luận rằng chiến lược của Mỹ không nhằm đóng hoàn toàn Eo biển Hormuz, mà là duy tŕ trạng thái bất ổn có kiểm soát, qua đó tạo áp lực liên tục lên các đối thủ phụ thuộc vào năng lượng, đặc biệt là Trung Cộng. Cơ chế này buộc Bắc Kinh rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan giữa can thiệp quân sự và chịu thiệt hại kinh tế. Đồng thời, khủng hoảng tại Eo biển Hormuz c̣n tạo ra hiệu ứng lan tỏa toàn cầu, ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng, lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu chỉ ra rằng Eo biển Hormuz không c̣n là một điểm địa lư đơn thuần, mà đă trở thành công cụ chiến lược trong “chiến tranh cấu trúc” của thế kỷ XXI. Tuy nhiên, chính cơ chế này cũng tiềm ẩn nguy cơ vượt kiểm soát, có thể dẫn đến khủng hoảng toàn cầu hoặc bùng nổ xung đột giữa các cường quốc.

 

 

TỔNG QUAN: 

 

Trong bối cảnh hệ thống quốc tế chuyển dịch từ đơn cực sang đa cực, cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Cộng ngày càng mở rộng từ lĩnh vực quân sự sang kinh tế, công nghệ và năng lượng. Một trong những biểu hiện rơ nét của xu hướng này là việc các cường quốc tập trung kiểm soát các “điểm nghẽn chiến lược” (strategic chokepoints), nơi có khả năng tác động lan tỏa đến toàn bộ hệ thống toàn cầu. Eo biển Hormuz nổi lên như một trường hợp điển h́nh của chiến lược này. Với vai tṛ là tuyến vận tải năng lượng huyết mạch, Eo biển Hormuz không chỉ ảnh hưởng đến thị trường dầu khí mà c̣n ảnh hưởng đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô toàn cầu. Trong những năm gần đây, căng thẳng giữa Mỹ và Iran, cùng với các động thái quân sự và trừng phạt kinh tế, đă biến khu vực này thành một điểm nóng địa chính trị đặc biệt nhạy cảm.

 

Đáng chú ư, chiến lược của Mỹ dường như không nhằm mục tiêu kiểm soát trực tiếp Trung Cộng, mà thông qua việc thao túng các cấu trúc trung gian như năng lượng và chuỗi cung ứng. Điều này tạo ra một dạng “chiến tranh cấu trúc”, trong đó các công cụ phi quân sự đóng vai tṛ trung tâm. Trong bối cảnh đó, bài nghiên cứu này đặt ra ba câu hỏi chính: (1) V́ sao Eo biển Hormuz được xem là “điểm huyệt chiến lược”? (2) “Cái bẫy Eo biển Hormuz” vận hành theo cơ chế nào? và (3) Những hệ quả địa chính trị dài hạn của chiến lược này là ǵ? Thông qua việc phân tích các yếu tố trên, bài viết nhằm góp phần làm rơ bản chất của cạnh tranh Mỹ - Trung trong kỷ nguyên mới. 

 

 

I) Hormuz như “điểm huyệt” chiến lược trong cạnh tranh Mỹ – Trung

 

1) Vai tṛ của Hormuz như “yết hầu năng lượng toàn cầu”

 

TT Trump sử dụng Eo biển Hormuz như một “điểm huyệt” chiến lược nhằm vào Trung Cộng, thông qua việc khai thác vị trí then chốt của tuyến vận chuyển năng lượng toàn cầu. Đây là một trong những “chokepoint” quan trọng nhất, nơi khoảng 20% nguồn cung dầu và phần lớn khí LNG đi qua mỗi ngày. Bất kỳ sự gián đoạn nào tại đây đều có thể tạo ra hiệu ứng giây chuyền đối với giá năng lượng, chuỗi cung ứng và sự ổn định kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, bản chất của vấn đề không chỉ nằm ở khía cạnh kinh tế, mà c̣n ở cấu trúc quyền lực quốc tế đang được tái định h́nh.

 

Trên thực tế, các cường quốc đă dần chấp nhận đứng sau vai tṛ trung tâm của Mỹ, dù không công khai thừa nhận tham gia đối đầu với Iran. Điều này xuất phát từ thực tế rằng khủng hoảng Eo biển Hormuz đă vượt khỏi phạm vi khu vực, trở thành vấn đề mang tính hệ thống toàn cầu.

 

Bề nổi là bảo vệ thị trường năng lượng, nhưng chiều sâu là củng cố vai tṛ lănh đạo của Mỹ trong trật tự quốc tế. Do đó, Eo biển Hormuz được xem là “yết hầu năng lượng toàn cầu”, nơi một biến động địa chính trị cục bộ có thể chuyển hóa thành khủng hoảng kinh tế toàn cầu [3][4].

 

Việc Iran đe dọa đóng eo biển không chỉ là hành vi chiến thuật mà c̣n là một công cụ cưỡng chế mang tính cấu trúc. Ngược lại, phản ứng của các nước như Pháp, Đức, Ư, Hà Lan, Nhật Bản và Canada cho thấy sự đồng thuận chiến lược về bảo vệ tự do hàng hải. 

 

Sự ủng hộ này phản ánh nhận thức chung rằng Hormuz là lợi ích sống c̣n của hệ thống thương mại và năng lượng quốc tế [1][2]. Đây không đơn thuần là tuyên bố ngoại giao, mà là tín hiệu chiến lược có trọng lượng lớn trong bối cảnh cạnh tranh đại cường. Đặc biệt, cấu trúc gịng chảy năng lượng cho thấy châu Á, nhất là Trung Cộng, phụ thuộc nặng nề vào tuyến đường hàng hải này. Phần lớn dầu nhập khẩu của Trung Cộng đều đi qua Eo biển Hormuz, khiến khu vực này trở thành “điểm huyệt chiến lược” của Trung Cộng. Từ đó, Eo biển Hormuz không chỉ là một tuyến hàng hải, mà c̣n là một đ̣n bẩy quyền lực trong cạnh tranh Mỹ-Trung. 

 

2) Logic chiến lược của Mỹ: kiểm soát chokepoint thay v́ đối đầu trực tiếp

 

Chiến lược của Mỹ không nằm ở việc kiểm soát trực tiếp đối thủ, mà là kiểm soát các “điểm nghẽn” có khả năng chi phối đối thủ. Hormuz trở thành công cụ lư tưởng để thực hiện chiến lược này. Thông qua việc duy tŕ ảnh hưởng tại Eo biển Hormuz, Mỹ có thể tác động gián tiếp nhưng sâu sắc đến các nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng như Trung Cộng [2][8]. Điều đáng chú ư là Washington không chỉ bảo vệ tuyến đường tự do hàng hải, mà c̣n tái khẳng định vai tṛ lănh đạo toàn cầu. Việc tập hợp các cường quốc tham gia không chỉ mang tính quân sự mà c̣n là một tín hiệu chính trị rơ ràng với giới lănh đạo các quốc gia trên thế giới, với ngầm ư về góc nh́n thời đại: “Nhất siêu – Đa cường”.

 

Mỹ đă sử dụng khủng hoảng năng lượng như một công cụ để củng cố vai tṛ trung tâm của ḿnh trong trật tự quốc tế [1][7]. Đồng thời, hành động cứng rắn với Iran và lôi kéo các cường quốc ủng hộ Mỹ, thay v́ bị cuốn hút theo sự dẫn dắt của Nga hay Trung Cộng. Điều này c̣n nhằm phá vỡ logic đe dọa thế giới của Iran đă áp dụng từ nhiều năm qua. Thay v́ đối đầu quân sự trực diện, chiến lược này mang tính “chiến tranh cấu trúc” (structural warfare), trong đó kinh tế – năng lượng trở thành công cụ gây áp lực địa chính trị rất hiệu quả hơn so với sức mạnh quân sự thuần túy. 

 

3) Tác động trực tiếp đến Trung Cộng

 

Sự gián đoạn tại Eo biển Hormuz đặt Trung Cộng vào t́nh trạng dễ tổn thương nghiêm trọng do phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất mà c̣n gián tiếp ảnh hưởng đến sự ổn định xă hội và tăng trưởng dài hạn quốc gia. Việc gián đoạn nguồn cung năng lượng từ Eo biển Hormuz có thể làm suy yếu nền tảng công nghiệp và tăng trưởng kinh tế của Trung Cộng trong trung hạn 5 năm và dài hạn từ 6 đến 10 năm [5][7]

 

Hơn nữa, Trung Cộng là đối thủ chiến lược tiềm tàng đang ẩn núp phía sau nhiều sự kiện quốc tế, nhưng đang bị đặt trong thế bị bao vây chiến lược, từ Trung Đông đến Đông Bắc Á và Ấn Độ Dương – Thái B́nh Dương. Sự kết hợp giữa áp lực năng lượng và bao vây bằng thế “thiên la địa vơng” do các liên minh quân sự (QUAD, AUKUS) và cạnh tranh công nghệ chiến lược đối với Trung Cộng [2][8]. Mục tiêu quan yếu của Mỹ là muốn giảm phụ thuộc vào Trung Cộng về chuỗi cung ứng chiến lược và nỗ lực chuyển dịch sang các nước Á Châu – Thái B́nh Dương, tạo nền tảng vật chất cho trật tự mới toàn cầu. Điều này tạo ra một “đ̣n bẩy chiến lược” cho Mỹ: không cần tấn công Trung Cộng, nhưng vẫn có thể làm suy yếu nền tảng công nghiệp và tăng trưởng kinh tế dài hạn của Bắc Kinh thông qua kiểm soát năng lượng. 

 

 

II) “Cái bẫy Hormuz”: cơ chế giăng mắc và logic chiến lược

 

1) Chiến lược “kiểm soát khủng hoảng” (managed escalation)

 

Mỹ không chủ trương đóng hoàn toàn Eo biển Hormuz mà vận hành một chiến lược “leo thang có kiểm soát”. Điều này bao gồm việc gây áp lực quân sự lên Iran, đồng thời duy tŕ mức độ ổn định tối thiểu cho hệ thống vận chuyển năng lượng toàn cầu. Chiến lược này cho phép Mỹ vừa gây sức ép vừa tránh gây sụp đổ toàn diện trên lĩnh vực thị trường năng lượng, từ đó Mỹ vẫn duy tŕ lợi thế chiến lược dài hạn có kiểm soát của ḿnh [1][7].

 

Song song với việc thực thi chiến lược đó, việc siết chặt công nghệ, tài chính và mạng lưới mua hàng của Iran đă làm suy yếu năng lực chiến lược của quốc gia này. Sự kiểm soát đa tầng và giao thoa đồng bộ về công nghệ, tài chính, quân sự đối với Iran cho thấy một mô h́nh chiến tranh hiện đại vượt ra ngoài khuôn khổ quân sự truyền thống [5][6]. Điều này cho thấy một chiến lược “leo thang có kiểm soát”, nhằm giữ Eo biển Hormuz trong trạng thái bất ổn vừa đủ để gây áp lực, nhưng chưa đến mức phá hủy hệ thống toàn cầu.

 

2) “Bẫy năng lượng” đối với Trung Cộng 

 

Nh́n vào t́nh h́nh Trung Đông, Iran đang phải đối mặt với ba vấn nạn lớn: thứ nhất, nguồn công nghệ cốt lơi từ Nhật Bản như các mạng cảm biến cần độ chính xác cực kỳ cao cùng với các vật liệu đặc chủng cho hệ thống hỏa tiễn đạn đạo v.v. bị siết chặt. Thứ hai, mạng lưới mua hàng (lư do cấm vận) qua các công ty trung gian cũng bị kiểm soát nghiêm ngặt hơn. Điều này khiến cho Iran sẽ chịu chi phí cao hơn, mức độ rủi ro tiếp cận công nghệ cao cũng khó khăn hơn. Thứ ba, quan trọng hơn cả là tính chính danh, an ninh và uy tín công nghệ về khí tài của Iran. Đặc biệt là phi hạt nhân hóa. Trung Cộng bị đặt vào một thế đối đầu chiến lược oái ăm tiến thoái lưỡng nan . Nếu can thiệp, họ phải đối mặt với nguy cơ trực tiếp xung đột với Mỹ; nếu không, họ phải chịu tổn thất về kinh tế nghiêm trọng. Cấu trúc này tạo ra một “strategic trap”, buộc Trung Cộng lựa chọn giữa hai phương án mà cả hai đều bất lợi [5][8]

 

Như vậy, đây không phải là một cái bẫy ngẫu nhiên, mà là kết quả của một chiến lược dài hạn. Mỹ đă thiết lập từ lâu một cấu trúc địa chính trị liên kết nhiều mặt trận (Trung Đông, Ukraine, Đông Bắc Á) nhằm phân tán và làm suy yếu đối thủ tiềm năng là Trung Cộng [2][7]. Đây chính là cấu trúc của một “strategic trap”: đối thủ bị buộc phải lựa chọn giữa rủi ro trực tiếp đối đầu về quân sự hoặc chấp nhận suy yếu kinh tế. 

 

3) Tác động dây chuyền toàn cầu (global spillover effect)

 

Khủng hoảng ở Eo biển Hormuz tạo ra hiệu ứng lan tỏa vượt xa lĩnh vực năng lượng. Nó ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng kim loại chiến lược, công nghiệp quốc pḥng và các ngành công nghệ cao khác. Hiệu ứng lan tỏa này làm gia tăng lạm phát và suy giảm tăng trưởng kinh tế toàn cầu, biến khủng hoảng khu vực thành khủng hoảng hệ thống mang tính toàn cầu [6][4]

 

Đồng thời, việc Mỹ thể hiện khả năng xử trí nhiều mặt trận cùng lúc gởi đi một thông điệp chiến lược rơ ràng. Tóm lại, Mỹ đang gởi đi một thông điệp rất rơ cho Nga-Trung Cộng rằng Mỹ đủ khả năng handle nhiều mặt trận cùng một lúc và có sẵn kế sách gộp chung ba cuộc chiến vào một cấu trúc chính lược (political guideline) đă được định h́nh sẵn từ cả hai trăm năm trước. Đây mới chính là thông điệp sâu sắc nhất gởi đi cho lănh đạo toàn thế giới về bàn cờ quốc tế, chứng thực rằng Mỹ đă tính toán từ trước 5-7 nước cờ rồi, chứ không phải chỉ đi liên tục 3 nước cờ rồi thôi đâu. Trong đó, Trung Đông là toan tính về năng lượng và tuyến đường tự do vận chuyển hàng hải quốc tế; Ukraine – Nga là chiến tranh ủy nhiệm nhằm tiêu hao sức mạnh của Nga về cả hai mặt kinh tế và quân sự. Tuy nhiên, Nga vẫn là biến số địa chính trị lớn có thể làm nghiêng lệch toàn bộ cục diện thế giới. Đông Bắc Á (Triều Tiên) là nơi tính toán về hạt nhân và hỏa tiễn tầm xa, buộc Kim Jong-un trong vấn đề vũ khí phải chọn lựa từ bỏ hạt nhân hóa hay chịu sức ép quân sự như Mỹ đă áp dụng với Iran và “trục ác quỷ” Iran-Nga-Trung tiếp theo sau đó, chỉ trong một nước cờ, mà làm giảm hẳn sự đồng bộ, bớt hiệu quả và khả năng che chống cho các nước vệ tinh khác [1][8]. Điều này khiến “cái bẫy Eo biển Hormuz” không chỉ là một công cụ quân sự mà c̣n là một cơ chế gây áp lực toàn hệ thống (systemic pressure mechanism). 

 

 

III) Hệ quả địa chính trị và triển vọng chiến lược

 

1) Sự tái cấu trúc trật tự năng lượng thế giới 

 

Khủng hoảng ở Eo biển Hormuz buộc các quốc gia phải t́m kiếm các tuyến đường hàng hải để vận tải dầu khí thay thế. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, không có tuyến nào đủ khả năng thay thế hoàn toàn. Điều này củng cố vai tṛ của Eo biển Hormuz như một “điểm huyệt vĩnh viễn” trong cấu trúc năng lượng toàn cầu [3][4].

 

Sự phụ thuộc này khiến các cường quốc buộc phải chấp nhận vai tṛ điều phối của Mỹ. Cho dù họ không hoàn toàn đồng ư về lĩnh vực chính trị và sức ép về kinh tế, tài chánh cũng như sức mạnh quân sự của Mỹ, nhưng việc các quốc gia châu Âu, Canada và Nhật Bản chịu xếp hàng phía sau Mỹ cho thấy một sự tái định h́nh quyền lực, trong đó Mỹ giữ vai tṛ trung tâm trong bảo đảm an ninh năng lượng toàn cầu với ngầm ư về “Nhất siêu – Đa cường” [1][2]. Thông qua chiến tranh Iran với công nghệ số vượt trội, năng lực siêu đẳng của AI mà Mỹ có được sẽ thấy rơ lỗ hổng và dễ dàng xâm nhập, cải biến hệ thống giám sát xă hội dân sự ở các nước cộng sản thành hàng triệu cánh cửa mở ngỏ, tạo lợi thế chiến lược hiện đại giúp Mỹ đánh trúng ngay vị trí pḥng họp, hầm trú ẩn của các lănh đạo tối cao bằng bom xuyên phá G-57. 

 

2) Tăng cường cạnh tranh Mỹ – Trung theo hướng gián tiếp 

 

Cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng đang chuyển dịch rơ rệt từ đối đầu quân sự trực tiếp sang kiểm soát các cấu trúc nền tảng của quyền lực, đặc biệt là kinh tế, năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Eo biển Hormuz nổi lên như một công cụ chiến lược tiêu biểu của “chiến tranh cấu trúc”, nơi mà quyền kiểm soát không cần đến xung đột vũ trang quy mô lớn nhưng vẫn tạo ra sức ép địa chính trị sâu rộng [2][8]. Sự dịch chuyển này phản ánh một logic mới của cạnh tranh đại cường: thay v́ tiêu hao trực tiếp trên chiến trường, các bên t́m cách tác động vào “hệ tuần hoàn” của đối phương, tức là năng lượng, thương mại và tài chính. Điều này cũng đồng nghĩa với việc chiến tranh hiện đại ngày càng mang tính phi đối xứng, nơi các “điểm nghẽn chiến lược” (chokepoints) trở thành đ̣n bẩy quyết định cục diện. Trong dài hạn, mô h́nh cạnh tranh này có xu hướng làm mờ ranh giới giữa thời b́nh và thời chiến, khiến trạng thái căng thẳng trở nên thường trực nhưng khó xác định điểm bùng phát rơ ràng. 

 

Nhất là, chiến lược này cũng nhằm phá vỡ logic răn đe của các đối thủ trong “tam giác ác quỷ”. Việc Mỹ hành động cứng rắn với Iran đă làm suy yếu khả năng đe dọa của “trục Iran–Nga–Trung” trong cấu trúc quyền lực toàn cầu [1][5]. Đồng thời, hành động của Mỹ cũng nói lên vấn đề Iran không c̣n là chuyện riêng giữa Mỹ và Iran nữa, mà nó trở thành chuẩn mực quốc tế về tự do hàng hải và phi hạt nhân hóa toàn diện. Nghĩa là ai đạt chiến thắng sau cùng th́ người đó có quyền định nghĩa trật tự toàn cầu mới. 

 

3) Nguy cơ “bẫy vượt kiểm soát” (uncontrolled escalation trap)

 

Mặc dù chiến tranh với Iran mang lại nhiều lợi thế chiến lược cho Mỹ, nhưng “cái bẫy Eo biển Hormuz” cũng tiềm ẩn lắm rủi ro nghiêm trọng. Nếu Eo biển Hormuz bị đóng hoàn toàn, hệ thống kinh tế toàn cầu có thể rơi vào khủng hoảng sâu rộng hơn dự toán [7][4]. V́ vậy, việc Mỹ đánh Iran không phải chỉ là chuyện kiểm soát năng lượng, giữ an ninh cho tuyến hàng hải tự do vận chuyển dầu khí hay phi hạt nhân hóa và răn đe quân sự gom chung vào cùng một cấu trúc quyền lực là mục đích chính. Đối thủ hàng đầu của Mỹ trên thế giới sẽ phải dè chừng không phải là sức mạnh quân sự Mỹ đă tung ra ở Venezuela và Iran, mà là những vũ khí cấp cao hơn mà họ chưa thể nh́n thấy và không dự đoán được. Trong thâm tâm, họ đều hiểu rằng Mỹ là một đối thủ cực kỳ khó lường, v́ họ không biết giới hạn năng lực vũ khí của Mỹ chính xác tới đâu là đỉnh điểm! Điều này buộc đối thủ hàng đầu của Mỹ phải tính toán cẩn trọng hơn trước khi đi nước cờ liều mạng. 

 

Ngoài ra, sự khó lường trong năng lực quân sự và công nghệ của Mỹ cũng làm gia tăng bất định chiến lược. Điều này buộc các đối thủ phải hành động thận trọng hơn, nhưng đồng thời cũng làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm và xung đột ngoài ư muốn [6][9]

 

 

IV) Implications for Vietnam (2025–2035): 

 

Hàm ư chiến lược và khuyến nghị chính sách

 

1) Việt Nam với “điểm nghẽn năng lượng” và cạnh tranh Mỹ – Trung

 

Trong bối cảnh Eo biển Hormuz trở thành “điểm huyệt” của hệ thống năng lượng toàn cầu, Việt Nam, dù không trực tiếp phụ thuộc vào tuyến đường hàng hải này, vẫn chịu nhiều tác động gián tiếp thông qua biến động giá năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự gián đoạn tại Eo biển Hormuz có thể làm gia tăng chi phí nhập khẩu năng lượng, gây áp lực lạm phát phi mă trong nước và ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam [3][4]

 


Điều này đặc biệt đáng chú ư khi nền kinh tế Việt Nam có độ mở cao và phụ thuộc lớn vào thương mại quốc tế. Mặt khác, cạnh tranh Mỹ – Trung tạo ra cả cơ hội và thách thức chiến lược.

 

Việt Nam có thể hưởng lợi từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng đồng thời phải đối mặt với áp lực cân bằng chiến lược giữa hai cường quốc [2][5]. Do đó, vị trí của Việt Nam trong cấu trúc khu vực không chỉ là “bị tác động”, mà c̣n có thể trở thành một “tác nhân trung gian” nếu biết tận dụng cơ hội.

 

2) Nguy hiểm và cơ hội: từ phụ thuộc năng lượng đến tái cấu trúc chiến lược

 

Khủng hoảng tại Eo biển Hormuz không chỉ là một biến động khu vực, mà thực chất là một cú sốc mang tính hệ thống đối với cấu trúc năng lượng toàn cầu, qua đó phơi bày rơ mức độ dễ tổn thương của các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng. Việt Nam, dù có một số nguồn cung nội địa, vẫn chịu tác động lan tỏa thông qua biến động giá dầu, chi phí logistics và đứt găy chuỗi cung ứng quốc tế [1][7]. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào thương mại toàn cầu, khiến các cú sốc bên ngoài có thể nhanh chóng khuyếch đại thành bất ổn nội tại. Từ góc độ chính sách, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tái cấu trúc chiến lược năng lượng theo hướng đa dạng hóa nguồn cung, phát triển năng lượng tái tạo và xây dựng các cơ chế dự trữ chiến lược đủ mạnh để giảm thiểu rủi ro gián đoạn. Đồng thời, cần nâng cao khả năng “hấp thụ cú sốc” của nền kinh tế thông qua việc cải thiện năng lực điều phối vĩ mô và tăng cường tính linh hoạt của hệ thống sản xuất. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế, mà c̣n là vấn đề an ninh quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt.

 

Tuy nhiên, nguy cơ luôn hàm chứa cơ hội. Chính khủng hoảng tại Eo biển Hormuz đă thúc đẩy một làn sóng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, khi các tập đoàn đa quốc gia t́m cách giảm thiểu rủi ro địa chính trị bằng cách đa dạng hóa địa điểm sản xuất và đầu tư [5][8]. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên như một điểm đến tiềm năng nhờ vị trí địa chiến lược tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái B́nh Dương, môi trường chính trị tương đối ổn định và khả năng tham gia vào các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Việc tận dụng cơ hội này, tuy nhiên, không phải là điều tự nhiên xảy ra, mà phụ thuộc vào năng lực cải cách thể chế, tính minh bạch trong quản trị và phẩm chất nguồn nhân lực. Nếu Việt Nam có thể nâng cao kỹ năng chuyên môn, đổi mới sáng tạo và cải thiện môi trường đầu tư, th́ quá tŕnh dịch chuyển chuỗi cung ứng sẽ trở thành một đ̣n bẩy chiến lược giúp nâng cấp vị thế quốc gia trong cấu trúc kinh tế khu vực. Ngược lại, nếu không có cải cách kịp thời, cơ hội này có thể bị bỏ lỡ, và Việt Nam sẽ tiếp tục ở vị trí dễ bị tổn thương trước các cú sốc bên ngoài trong tương lai.

 

3) Khuyến nghị chính sách (Policy Recommendations)

 

Trước những biến động địa chính trị ngày càng phức tạp, Việt Nam cần kiến tạo một chiến lược đa tầng, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao, thay v́ chỉ phản ứng thụ động theo từng sự vụ một trước các cú sốc bên ngoài. Trọng tâm của chiến lược này là kết hợp giữa an ninh năng lượng, cân bằng đối ngoại và cải cách cai trị nội tại, nhằm tạo nên một cấu trúc phát triển bền vững trong dài hạn. Đặc biệt, về phương diện đối ngoại, yếu tố then chốt trong giai đoạn Việt Nam cần theo đuổi một mô h́nh “cân bằng năng động” (dynamic balancing), tức là không chỉ đơn thuần tránh “chọn phe”, mà c̣n chủ động khai thác sự cạnh tranh giữa các cường quốc để tối đa hóa lợi ích quốc gia [2][8]. Trong bối cảnh cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Cộng ngày càng chuyển sang cấp độ cấu trúc (kinh tế, công nghệ, năng lượng), Việt Nam cần duy tŕ vị thế “đối tác linh hoạt”, vừa hợp tác vừa giữ khoảng cách chiến lược. Điều này đ̣i hỏi năng lực ngoại giao tinh vi hơn, không chỉ ở cấp nhà nước mà c̣n ở cấp doanh nghiệp và thể chế.

 

Cụ thể, Việt Nam có thể tận dụng quan hệ với Mỹ để tiếp cận công nghệ cao, chuỗi cung ứng bán dẫn và các tiêu chuẩn quản trị tiên tiến, trong khi vẫn duy tŕ quan hệ kinh tế ổn định với Trung Cộng nhằm bảo đảm đầu vào sản xuất và thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, sự cân bằng này không thể dựa trên nguyên tắc “trung lập thụ động”, mà phải là “chủ động định vị” (strategic positioning), trong đó Việt Nam xác định rơ lợi ích cốt lơi của ḿnh và điều chỉnh chính sách theo từng giai đoạn của cạnh tranh Mỹ-Trung. Song song với việc xác định lợi ích và điều chỉnh chính sách đó, Việt Nam cần nâng cao năng lực tự chủ chiến lược (strategic autonomy), bao gồm khả năng tự quyết trong chính sách kinh tế, công nghệ và an ninh, nhằm tránh bị lệ thuộc quá mức vào bất kỳ đối tác nào. Đây chính là nền tảng để duy tŕ sự ổn định trong môi trường quốc tế đầy biến động, đồng thời tạo không gian linh hoạt cho các quyết định chiến lược trong tương lai.

Ngoài ra, việc phát triển năng lực dự báo chiến lược và quản trị khủng hoảng là một yêu cầu không thể thiếu trong bối cảnh bất định hiện nay. Việt Nam cần xây dựng các trung tâm phân tích chiến lược liên ngành, kết hợp dữ liệu kinh tế, an ninh và công nghệ để dự báo các kịch bản rủi ro toàn cầu [6][7]. Thông qua đó, nhà nước có thể chủ động xây dựng các phương án ứng phó, giảm thiểu thiệt hại và tận dụng cơ hội phát sinh từ khủng hoảng, thay v́ bị động chạy theo diễn biến của t́nh h́nh quốc tế.

 

 

TẠM KẾT:

 

Bài nghiên cứu đă chỉ ra rằng Eo biển Hormuz không c̣n đơn thuần là một tuyến hàng hải, vận tải năng lượng, mà đă trở thành một “điểm huyệt địa chính trị” trong cấu trúc quyền lực toàn cầu thế kỷ XXI. Thông qua việc kiểm soát trạng thái bất ổn tại khu vực này, Mỹ có thể tạo ra một cơ chế gây áp lực gián tiếp nhưng sâu rộng đối với các đối thủ chiến lược, đặc biệt là Trung Cộng. Điều này phản ảnh sự chuyển dịch từ chiến tranh quân sự truyền thống sang “chiến tranh cấu trúc”, nơi năng lượng, chuỗi cung ứng và kinh tế đóng vai tṛ trung tâm. Đồng thời, nghiên cứu cũng cho thấy “cái bẫy Eo biển Hormuz” không chỉ là một công cụ chiến lược, mà c̣n là một cơ chế mang tính hệ thống với khả năng lan tỏa toàn cầu. Sự gián đoạn tại Eo biển Hormuz có thể kích hoạt các chuỗi phản ứng giây chuyền, từ biến động giá năng lượng đến khủng hoảng kinh tế và bất ổn chính trị. Điều này khiến chiến lược này trở thành một “con dao hai lưỡi”, vừa mang lại lợi thế chiến lược, vừa tiềm ẩn nguy cơ vượt khỏi tầm kiểm soát. 

 

Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên như một trường hợp điển h́nh của các quốc gia trung b́nh chịu tác động gián tiếp từ cạnh tranh của các đại cường. Những biến động tại Eo biển Hormuz và cấu trúc cạnh tranh Mỹ - Trung đặt ra cả hai mặt thách thức lẫn cơ hội cho Việt Nam trong giai đoạn 2025-2035. Việc gia tăng chi phí năng lượng, rủi ro chuỗi cung ứng và áp lực địa chính trị đ̣i hỏi Việt Nam phải có những điều chỉnh chiến lược kịp thời và hiệu quả. Tuy nhiên, chính những biến động này cũng mở ra cơ hội để Việt Nam tái cấu trúc nền kinh tế, nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và củng cố vai tṛ trong khu vực. Việc tận dụng làn sóng dịch chuyển đầu tư, kết hợp với cải cách thể chế và nâng cao năng lực quản trị, có thể giúp Việt Nam chuyển hóa thách thức thành động lực phát triển. Trên phương diện chính sách, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một chiến lược đa tầng, bao gồm an ninh năng lượng, cân bằng đối ngoại và cải cách nội tại. Đồng thời, việc nâng cao năng lực dự báo và quản trị khủng hoảng sẽ là yếu tố then chốt giúp Việt Nam thích ứng với một môi trường quốc tế ngày càng bất định. 

 

Tóm lại, Eo biển Hormuz là một biểu tượng của thời đại mới trong địa chính trị toàn cầu. Chiến lược sử dụng Eo biển Hormuz của Mỹ có thể được hiểu như một dạng điểm huyệt địa chính trị: không đánh trực diện Trung Cộng, mà nhắm vào huyết mạch năng lượng của nền kinh tế này. Tuy nhiên, chính tính chất liên kết toàn cầu của hệ thống năng lượng khiến chiến lược này đồng thời trở thành một cái bẫy nguy hiểm, không chỉ đối với Trung Cộng mà c̣n đối với trật tự kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, Eo biển Hormuz không c̣n là một eo biển đơn thuần, mà đă trở thành trung tâm của cuộc cạnh tranh quyền lực toàn cầu trong thế kỷ XXI. Nơi quyền lực của một siêu cường không chỉ được đo bằng sức mạnh quân sự, mà c̣n bằng khả năng kiểm soát các cấu trúc hệ thống. Trong bối cảnh đó, tương lai của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng nhận diện đúng xu thế, chủ động thích ứng và xây dựng một chiến lược phát triển bền vững trong một thế giới đầy biến động và rất khó lường. */* 

 

 

Ngô Viết Quyền * Saint Cloud, Florida - March 2026 *


Footnotes – Nguồn tham khảo 

[1] Atlas Institute, The Strait of Hormuz Crisis and Global Energy Shock (2026).

[2] CSIS, No One, Not Even Beijing, Is Getting Through the Strait of Hormuz (2026).

[3] Dunn, C. & Barden, J., “Strait of Hormuz as Critical Oil Checkpoint,” U.S. EIA (2025).

[4] Energy Information Administration (EIA), Global Oil Supply Data and Chokepoints Analysis.

[5] Foreign Policy, “Iran War and China’s Energy Vulnerability” (2026).

[6] Guardian, “West Point Analysis on Hormuz Supply Chain Risks” (2026).

[7] Reuters, “US Exhausting Tools to Manage Oil Shock” (2026).

[8] Socialist China, “China Chokehold Strategy via Hormuz” (2026).

[9] Wikipedia, 2026 Strait of Hormuz Crisis (updated 2026).

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính