Thăm mộ Linh Mục Alexandre De Rhôdes: Ân nhân  của người Việt Nam, người đă  cộng tác phát minh ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam.

 

 

Xin cám ơn người, vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân người với ḷng kính yêu sâu sắc: Linh Mục Alexandre de Rhodes.

 

Câu chuyện về người con đất Việt t́m thăm lại mộ ngài Alexandre de Rhodes ở miền đất xa xôi, làm cho người đọc cảm thấy ấm ḷng. 

 

 

Anh Trường là hướng dẫn viên du lịch, đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa nhưng trong ḷng vẫn mong ngóng về một điều bấy lâu, đó là được tới tận nơi ngài Alexandre De Rhodes an nghỉ, đặt lên mộ ngài một bó hoa và nói nên lời cảm tạ từ đáy ḷng.

 

“Từ thuở c̣n sinh viên, khi được học về nguồn gốc chữ quốc ngữ mà chúng ta có được để sử dụng một cách dễ dàng và tiện lợi như ngày nay. Tôi đă thầm cảm ơn những nhà truyền giáo phương Tây, đặc biệt là Alexandre de Rhodes, người đă có đóng góp lớn lao trong việc hoàn thiện hệ thống bảng chữ cái cho người Việt Nam của chúng ta.

 

Và may mắn thay, trong chuyến đi Iran lần này. Một cơ duyên vô cùng quư báu đă giúp tôi có cơ hội đến viếng thăm ngôi mộ, nơi yên nghỉ của ông trong một nghĩa trang nằm ở ngoại ô của thành phố Esfahan, Iran.

 

Vùng đất Esfahan, Iran nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ. Ảnh google map

 

 

SỰ CHỈ GIÚP CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN TỐT BỤNG

 

Từ lời gợi ư của một chị bạn, chúng tôi biết được thông tin về ngôi mộ của Alexandre de Rhodes được an táng trong một nghĩa trang Công Giáo của người Armenia tại Esfahan. Nhưng do thời gian lưu lại nơi đây khá ngắn, v́ thế hy vọng được đến viếng thăm ngôi mộ của ông là khá mong manh cho chúng tôi.

 

Khi nghe chúng tôi nói về ước nguyện của ḿnh, cô Malih- một hướng dẫn viên người Iran vô cùng thông cảm và hết sức tận t́nh giúp đỡ. Mặc dù với thâm niên hơn 10 năm làm nghề hướng dẫn viên, đă đưa biết bao nhiêu đoàn khách từ khắp năm châu đến thăm Esfahan, nhưng là người Hồi giáo cho nên cô chưa hề biết đến thông tin về khu nghĩa trang người Công Giáo Armenia nằm ở đâu. Và cô cũng không hề biết đến thông tin nào về Alexandre de Rhodes.

 

Người đă giúp anh Trường có được tờ giấy phép vào thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes


Sau thời gian t́m kiếm, thông qua một người bạn gái gốc Armenia, cô Mila hỏi thăm được địa chỉ của nghĩa trang. Nhưng vấn đề là không phải ai cũng được vào thăm nghĩa trang. Mà cần phải có sự đồng ư của người quản lư ở nghĩa trang.

 

Một lần nữa, chúng tôi may mắn gặp được một vị quản lư ở nhà thờ Vank, ông đă nhiệt t́nh viết cho chúng tôi một tờ giấy phép để xuất tŕnh cho người quản lư ở nghĩa trang.

 

Cầm tờ giấy trên tay, chúng tôi vội vàng đi về phía ngoại ô thành phố Esfahan. Nơi có nghĩa trang của cộng đồng người Armenia sống tại đây.

 

NƠI NGƯỜI NẰM XUỐNG

 

Trước mặt chúng tôi là một nghĩa trang rộng lớn. Những dăy mộ xếp hàng dài nối bên nhau mênh mông. Chúng tôi biết là sẽ không dễ dàng để t́m ra vị trí lăng mộ của Ngài. Chúng tôi t́m gặp một cụ già quản mộ ở đây ḍ hỏi. Cụ nhanh chóng lên xe đưa chúng tôi đến ngôi mộ có tên Alexandre de Rhodes….


Đường vào nghĩa trang nơi ngài Alexandre de Rhodes an nghỉ.

 

Hôm chúng tôi đến, là ngày đầu năm mới của tết cổ truyền Nowruz của người Ba Tư (Iran), một vài ngôi mộ gần đấy được đặt những chậu hoa. C̣n ngôi mộ của Cụ không có một cành hoa nào, đó chỉ là một nấm mồ nhỏ làm bằng một tảng đá h́nh chữ nhật nằm khép ḿnh khiêm tốn bên những ngôi mộ khác.


Anh Trường cùng mọi người mua hoa trước khi đến thăm mộ ngài Alexandre de Rhodes


Một niềm xúc cảm thân thương nghẹn ngào mà tôi không thể tả thành lời đang tuông chảy trong tôi. Đây là nơi an nghỉ của người đă có đóng góp vô cùng to lớn cho dân tộc Việt Nam. Dưới lớp đất ấy là thi hài của một người phương Tây xa lạ.

 

Ông đă mất từ gần 4 thế kỉ trước nhưng ông là người đă giúp cho dân tộc Việt Nam có được một bảng chữ cái với các thanh sắc uyển chuyển nhẹ nhàng, nhằm để ghi lại và diễn đạt tiếng mẹ Việt Nam.

 

Mộ ngài Alexandre de Rhode

Đặt một chậu hoa tím mua được trong một hiệu bán hoa tết của người Iran lên mộ Cụ. Chúng tôi không ai nói lời nào. Nhưng giữa chúng tôi có một sự đồng cảm sâu sắc. Chấp tay lên ngực, tôi khẻ cúi đầu xin gửi đến người một lời tri ân sâu sắc.

Nh́n thái độ thành khẩn và tôn kính của chúng tôi dành cho người nằm dưới nấm mộ. Người quản trang hỏi cô Malih: ông ấy là ai mà chúng tôi có vẽ tôn kính thế.
Và ông đă vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng đây là người đă có công hoàn thiện bản chữ cái cũng như xuất bản những quyển tự điển Việt -Bồ- La tinh đầu tiên cho người Việt Nam từ những năm 1651.

  

 Người con Đất Việt đặt lên mộ ngài bó hoa tươi thắm với tấm ḷng thành kính.

 

 

NGƯỜI QUẢN NGHĨA TRANG

 

Qua cuộc chuyện tṛ, tôi đuợc biết người quản nghĩa trang có tên gọi là Rostam Gharibian, ông đă làm việc ở đây được 17 năm.

 

Tôi hỏi, trong 17 năm đó có bao giờ ông thấy ai là con cháu hay người thân của ngài Alexandre de Rhodes đến viếng mộ ông ấy hay không.

 

Thoáng chút đăm chiêu, ông trả lời rằng: v́ là một thầy tu cho nên khi mất đi cũng như bao người khác Alexandre de Rhodes cũng không có vợ con. Và họ hàng th́ cũng ở xa tít tận châu âu cho nên chắc cũng không ai c̣n nhớ.

 

V́ thế trong 17 năm nay ông cũng chưa hề nghe thấy một người họ hàng hay con cháu nào của ông đến thăm. Chỉ thĩnh thoảng đôi khi ông thấy có một vài người Việt Nam đến viếng mà khi đó th́ ông cũng không biết họ là ai và có quan hệ như thế nào với người đă mất…

 

Anh Trường cùng người quản trang

 

 

THAY LỜI TRI ÂN

 

Theo truyền thống của những người Iran, tôi lấy một ít nước rửa lên nấm mồ của Cụ. Những giọt nước mát trong chảy lên bia mộ Cụ tựa như lời th́ thầm của chúng tôi xin gửi đến người. Cả một đời Cụ cống hiến v́ đạo. Và trong quá tŕnh truyền giáo, với mục đích mong muốn truyền tải những thông điệp trong kinh thánh một cách dễ dàng hơn.

 

Ông đă không quản khó nhọc để t́m cách sáng tạo ra bảng chữ cái tiếng Việt. Và đến khi cuối đời, Ngài đă lặng lẽ nằm lại nơi xứ người. Có lẽ giờ đây Cụ không c̣n một người bà con họ hàng nào nhớ đến Cụ để thỉnh thoảng ghé thăm chăm nom nấm mồ của Cụ nữa, nhưng có lẽ Cụ cũng ấm ḷng khi biết rằng vẫn c̣n đó những người con nước Việt.

 

Vẫn c̣n đó: hơn 94 triệu người con nước Việt trên khắp 5 châu sẽ Măi Măi không bao giờ quên ơn Ngài. Vị đă có công vĩ đại trong việc chấm dứt 1000 năm tăm tối, 1000 năm khốn khó khi những người Việt phải đi mượn chữ Tàu ghi lại tiếng Việt.

 

Những người con đất Việt kính cẩn nghiêng ḿnh trước mộ Ngài ALEXANDRE DE RHODE.

 

Và giờ đây, hạnh phúc thay. Chúng ta đă có được bảng chữ cái của riêng ḿnh. Một bảng chữ cái dựa trên các kư tự La Tinh nhưng vô cùng uyển chuyển và dễ học.

Xin cám ơn Ngài, vị đại ân nhân của những người con nước Việt. Xin tri ân Ngài với ḷng kính yêu sâu sắc: Alexandre de Rhodes !”


Esfahan, Iran. 21/3/2017

Theo Saigonbuoisang.


2-

 

 

Trong ánh nắng ban trưa, chúng tôi kính cẩn nghiêng ḿnh trước ngôi mộ, ai cũng thấy dâng lên trong ḷng ḿnh những cảm xúc bâng khuâng khó tả.

 
Tưởng niệm:

Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Alexandre_de_Rhodes

Tem tưởng niệm Alexandre de Rhodes của Việt Nam Cộng ḥa

Năm 1943 chính quyền thuộc địa Đông Dương phát hành con tem 15 xu và 30 xu để tôn vinh những đóng góp của ông trong quá tŕnh phát triển tiếng Việt.

 

 

Năm 1960 Chính quyền Việt Nam Cộng ḥa cũng phát hành một bộ 4 con tem kỷ niệm 300 năm ngày mất của ông, nhưng ra trễ 1 năm (phát hành ngày 5 tháng 11 năm 1961). Tên ông được đặt cho một trường trung học và một con đường ở Sài G̣n gần Dinh Độc Lập.

 

 

Ngo-quyen.org tổng hợp

 

3-

Giáo sĩ Alexandre De Rhôdes sinh năm 1593 tại Avignon, Pháp Quốc. Sau khi tốt nghiệp trung học lúc lên 18, năm 1612 vào tu tại Đại Chủng Viện ḍng Tên ở Roma. Sau khi thụ phong Linh Mục, Ngài được gởi sang truyền giáo tại Á Châu.

 

Ngày 4-4-1916 Ngài rời Lisbonne, Tây Ban Nha bằng tàu Saint Thérèse, lẽ ra theo dự định, Ngài được gởi sang Nhật, nhưng chính quyền Nhật lúc bấy giờ thẳng tay ngăn cấm các Giáo sĩ; có trường hợp một Giáo sĩ vừa mới đến, họ buộc phải lội xuống hồ nước vào mùa đông nên phải chết cóng, do vậy Giáo sĩ Đắc Lộ được gởi vào Việt Nam từ Ma Cao, Trung Hoa.

 

 Năm 1924 Ngài đến Quảng Nam gặp Cha Di Pina người Ư ở Hải Phố, Quảng Nam. Nhờ Cha Di Pina, Ngài được học tiếng Việt trong 5 tháng và có thể giảng đạo. Năm 1625 Ngài đă ra tội cho bà Minh Đức Dương Thái Phi, vợ bé của Chúa Nguyễn Hoàng. Từ 19-3-1627 đến tháng 5-1630 tại Thanh Hoá Ngài đă ra tội cho 5,000 người v́ thế bị đuổi khỏi Bắc Trung Phần Việt Nam...

 

Chữ Quốc Ngữ từ lúc ban đầu không do Giáo sĩ Đắc Lộ phát sinh ra, nhưng do hai Giáo sĩ Gaspar d'Amiral  người Ư và Antonio Barbosa người Tây Ban Nha tạo ra. Giáo sĩ Antonio Barbosa soạn ra quyển tự điển Bồ-Việt, c̣n Giáo sĩ Gaspar d'Amiral làm ra cuốn Việt-Bồ, nhưng cả hai quyển nầy chỉ mới viết tay, Giáo sĩ Đắc Lộ là người cải tác, hệ thống hoá lại cho hoàn hảo và đă in ra vào năm 1652 tại Roma. Theo nguyên văn Ngài nói : "Đây là việc làm không dễ".

 

Đây là tác phm đầu tay. Cuốn thứ hai cũng in tại Roma là quyển Văn Phạm Việt Nam và cuốn thứ ba là sách Giáo lư song ngữ Việt-Latin.

 

Các Giáo Sĩ đă dùng 23 mẫu tự Latin để làm thành chữ Quốc Ngữ gồm A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V X Y, không có chữ J W Z. 

 

   Sau nầy các nhà điều chỉnh đă loại bỏ thêm chữ F.

 
    Ngoài ra c̣n thêm các mẫu tự Ă Â Đ Ê Ô Ơ Ư và 5 dấu: sắc, huyền, hỏi, ngă, nặng; như vậy trong chữ Quốc Ngử có 29 mẫu tự: A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y.

 
   Xin trích một đoạn trong quyển sách Giáo Lư (Catechism) do Giáo Sĩ Đắc Lộ biên soạn được ấn loát vào năm 1651 tại Rome dày 324 trang.  Đây là cuốn sách văn xuôi đầu tiên của nền văn hoá Việt Nam và là nền móng cho sự điều chỉnh để trở nên hoàn hảo sau nầy:

 
   "Dies Primus (Tiếng Latin)      Ngày Thứ Nhít.

 
    Ta cầu cù đức Chúa blời giúp ức cho ta biết tỏ tuàng đạo Chúa là nhưàng nào, v́ bậy ta phải...
ở thế nầy chẳng có ai foú lâu, v́ chưng kẻ đến bảy tám mươi tuổi chẳng có nhèo, v́ bậy ta nên t́m đàng nào cho ta được foú lâu, là kiếm ... foú bậy, thật là viẹ người cuến tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú qúi... chẳng làm được cho ta ngày fau." 


  Phần có 3 dấu chấm... là chữ qúa mờ, không thể đọc được.

 
  Qua đoạn văn trên, chúng ta thấy có sự khác biệt khi Giáo Sĩ bắt đầu viết chữ Quốc Ng
và bây giờ.

 
          Thứ Nhít                          Thứ Nhứt

          Cù                                    Cùng

          Ức                                    Sức

          Blời                                  Trời

          Tỏ Tuầng                         Tỏ Tường

          Bậy                                   Vậy

          Việ                                   Việc

          Cuên Tử                           Quân Tử

          Foú                                   Sống

          Ngày Fau                         Ngày Sau

 

   Về sau, Giám Mục Taberd, Linh Mục Ravier, Grenibrel, Cordier, Ông Huỳnh Tịnh Của và Pétrus Trương Vĩnh Kư đă điều chỉnh lại cho hoàn hảo.

 
   Năm 1838, Giám Mục Taberd đă soạn quy
n tự điển Việt-La và La-Việt gồm 732 trang.

 
   Năm 1888, ông Pétrus Trương Vĩnh Kư, người rành tiếng Latinh, Hy Lạp, Pháp, Anh, Tàu, Nhật Bản đă cổ vũ cho việc dùng chữ Quốc Ngử thay tiếng Nôm v́ rất khó viết, khó học, chỉ có 5% người dân biết viết, biết đọc!

 
   Năm 1898, Linh Mục Genibrel soạn quyễn tự điển Pháp-Việt.

 
   Ông Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) đă soạn quyển tự điển Việt đầu tiên, đây là nền móng cho những   loại tự điển nầy về sau

 
   Vào năm 1931, nhà sách Khai Trí đă cho phát hành cuốn tự điển La-Việt gồm 1272 trang, đây là cuốn đầy đủ nhất từ trước đến nay.

 
    Năm 1934, Giáo Sĩ Cordier cũng đă ấn hành cuốn tự điển Pháp-Việt.

 
  Chữ Quốc Ngữ có những ưu điểm mà tiếng Anh không có; mổi chữ, dù dài, vẫn phát 1 âm, ví dụ chữ "nghiêng" có tới 7 mẩu tự, nhưng chỉ phát 1 âm và người nghe hiểu và viết lại được liền, không như tiếng Anh, mỗi lần xưng tên, phải đánh vần, người kia mới biết, rất bất tiện, nhất là khi nói trên điện thoại.

 
   Về cách phát âm 5 dấu sắc huyền hỏi ngă nặng th́ với người ngoại quốc rất khó, khó như người Việt đă trên 18 tuổi sang Hoa Kỳ, lư
i đă cứng, dù nói tiếng Pháp lưu loát, khi nói chuyện với Mỹ, đôi khi phải dùng động từ quơ, quơ cả hai tay!


   Cô Ỷ Lan làm việc tại Pḥng Thông Tin Phật Giáo thuộc GHPGVNTN  Văn Pḥng II Viện Hoá Đạo Hải Ngoại tại Paris đă đưa ra nhận xét trong tiếng Việt có những cái thật vô lư:

 
    Anh Không Quân bay giữa bầu trời th́ lại không có quần (Không Quần), rủi có chuyện ǵ xảy ra phải búng dù, người bên dưới nh́n lên, coi kỳ lắm!


    Trái lại anh Hải Quân ở ngoài biển khơi phải ăn mặc cho thoáng hơn để bơi khi hữu sự, th́ lại mặc hai quần (Hải Quân).

 
    Điều nầy chứng tỏ cách phát âm 5 dấu của tiếng Việt rất khó đối với người ngoại quốc và các cháu người Việt ở thế hệ hai tại Hoa Kỳ khi nói tiếng Việt, đôi khi người nghe không thể hiểu được v́ bị trở ngại lúc phát âm 5 dấu nầy không chỉnh!
 
   Trong tiếng Anh và Tiếng Việt có sự trùng hợp lư thú, đó là động từ cắt,cut; đồng nghĩa, đồng âm và chữ dài nhất trong tiếng Anh cũng chỉ phát ra 1 hoặc 2 âm, chữ smiles, những nụ cười, dài hơn 1 mile !

 
   Năm 1627 Giáo sĩ Đắc Lộ là người đă tặng đồng hồ qủa quưt và cuốn h́nh học cho Chúa Tr
nh Tráng ở Đàng Ngoài. 


   Vào năm 1642, Chúa Nguyễn Phúc Lan ở Đàng Trong (lúc đó bản đồ Việt Nam mới đến Phú Yên) mời Giáo Sĩ vào cung điện dạy môn đại số, sau khi Giáo Sĩ tặng Chúa vài đồng hồ qủa quưt, nhưng ban đêm lại giảng đạo, bị Chúa đuổi ra khỏi thành phố Huế, phải chạy vào Đà Nẵng.

 
  Giáo S
ĩ là con người thông minh, đẹp trai mà chẳng được Công Chúa nào tỏ t́nh như Công Chúa Mai Hoa dưới thời Hậu Lê đă ngỏ ư muốn cầu hôn với  Linh Mục Ordonez de Cevallos và Chúa Trịnh Tráng cũng đă mời Giáo Sĩ Baldinotti thuộc Ḍng Tên định cư luôn !           

 
  Có người hỏi thời Vua Tự Đức, Giám Mục nào đă xây dựng trại cùi để cứu giúp kẻ cùng khổ bị xă hội ruồng bỏ ?

 

  Xin thưa đó là Giám Mục Retord cai quản giáo phận Hànội, Ngài đă xây cất 20 căn nhà tại Vĩnh Tŕ vào năm 1851, bốn năm sau khi Vua Tự Đức lên ngôi (1847-1883) để làm bệnh viện cho người cùi xấu số !

 

  Đến năm 1930, Cha Jean Cassaigne đă thành lập trại cùi tại Di Linh, Lâm Đồng.  Ngài bị lây bệnh và mất tại đó sau khi làm Giám Mục Địa Phận Sàig̣n.

 
  Trong năm 1971 đă có tới 6189 Nữ Tu phục vụ tại 41 bệnh viện với 7000 bệnh nhân, 239 trạm phát thuốc miển phí, 36 nhà bảo sanh, 9 trại cùi với 2500 bệnh nhân, 82 cô nhi viện với 11.000 em và 29 nhà dư
ng lăo. 

 
  Các Nữ Tu ḍng Thánh Phao Lô đă lăn xả vào phục vụ tại các Viện Bà
i Lao.

 
  Các Sư Huynh ḍng Lasan đă giáo dục, đào tạo nhiều thanh niên ưu tú, nhiều nhân tài, các vị lănh đạo nhiệt tâm phục vụ cho quê hương, dân tộc.

 
  Tất cả đều nằm trong chính sách cứu nhân, độ thế của Vatican.

 

 

Hht- From Fanxico Tran

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính