CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM

 

 

 

BỐI CẢNH CỦA VẤN ĐỀ

 

 

Nước Việt Nam là một nước nhỏ, nhỏ về dân số, nhỏ về lănh thổ, nhỏ về kinh tế kém phát triển, và nhỏ về sự góp phần của chúng ta vào văn minh nhân loại.

 

Trong suốt phần lịch sử nhân loại mà chúng ta được biết tới ngày nay, số phận của các quốc gia nhỏ, từ xưa vẫn không thay đổi. Lúc nào các quốc gia nhỏ cũng phải bị chi phối bởi những trận phong ba băo táp vô trách nhiệm do các nước lớn gây ra. Và lúc nào cũng sống dưới sự đe dọa liên tục của một cuộc ngoại xâm.

 

Từ ngày lập quốc, hơn một ngàn năm lịch sử đă chứng minh rằng Việt Nam chúng ta không thoát ra ngoài vận mạng thông thường đó. Hết phải chống Bắc, rồi phải chống Tây, rồi lại phải chống Bắc. Liên tục, và lúc này hơn lúc nào hết, nạn ngoại xâm vẫn đe dọa Dân Tộc Việt Nam.

 

Để duy tŕ ách thống trị của ḿnh, các cường quốc xâm lăng thường áp dụng, đối với các Dân Tộc bị trị, nhiều biện pháp, tuy có khác nhau về h́nh thức, nhưng chung qui vẫn thuộc hai loại chính:

 

* Ngăn ngừa không để cho các quyền lợi kinh tế thuộc vào tay người bản xứ.

* Kiềm hăm không để cho dân trí phát triển.

 

Các loại biện pháp thứ nhứt nhằm mục đích tiêu diệt tất cả các phương tiện vật chất của người bị trị.

 

Các loại biện pháp thứ hai nhằm mục đích tiêu diệt những người có khả năng sử dụng các phương tiện vật chất trên, nghĩa là các nhà lănh đạo xứng danh.

 

Đối với các Dân Tộc bị trị hai loại biện pháp trên đều có những hậu quả vô cùng thảm khốc. Tuy nhiên, nếu không có phương tiện của ḿnh th́ c̣n có thể t́m phương tiện khác, chớ nếu không có người lănh đạo, th́ dù có phương tiện cũng không sử dụng được.

 

V́ vậy cho nên, đối với một quốc gia mà nền độc lập bị đe dọa hay đă mất, th́ phương pháp hữu hiệu nhứt và điều kiện thiết yếu nhứt để chống lại ngoại xâm là nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo.

 

Trong thực tế, nuôi dưỡng và phát triển sự lănh đạo có nghĩa là tạo hoàn cảnh thuận lợi để cho cái tinh túy của tập thể hun đúc nên thiểu số lănh đạo xứng danh.

 

Như thế nào là lănh đạo xứng danh ?

 

 

Thiểu số lănh đạo và sự thấu triệt vấn đề của Cộng Đồng

 

Trong toàn bộ của Cộng Đồng, gồm có thiểu số lănh đạo Cộng Đồng và đại đa số chịu sự lănh đạo. Cộng Đồng lành mạnh khi nào giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự lănh đạo, sự thông cảm chạy đều, dẫn dắt đến một sự phối hợp hữu hiệu trong mọi công cuộc của Cộng Đồng.

 

- Thiểu số lănh đạo xứng danh phải bao gồm những người có đạo đức. Nghĩa là có “Nhân” theo cổ nhân.

 

- Thiểu số lănh đạo xứng danh phải gồm những người có đủ khả năng vật chất, lư trí và tinh thần để ứng phó với các t́nh thế. Nghĩa là có “Dũng” và có “Lược” theo cổ nhân.

 

- Thiểu số lănh đạo xứng danh phải gồm những người thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của tập thể. Nghĩa là có “Trí” theo cổ nhân. Đời sống của một Cộng Đồng cũng như đời sống của một cá nhân, có thể chia thành từng thời kỳ. Trong đời sống của một cá nhân, một thời kỳ trung b́nh mười năm. Đối với một Cộng Đồng, mỗi thời kỳ cố nhiên phải tương xứng với đời sống Cộng Đồng và có thể là một vài Thế Kỷ. Trong mỗi thời kỳ của đời sống, mỗi cá nhân phải đương đầu với một ít vấn đề chánh và đặc biệt của thời kỳ đó. Và mỗi Cộng Đồng cũng phải giải quyết một số vấn đề chánh, thiết yếu cho Cộng Đồng, trong mỗi thời kỳ.

 

- Thiểu số lănh đạo xứng danh phải thấu triệt vấn đề đó để hướng dẫn Cộng Đồng trên đường tiến hóa, thích nghi chẳng những với khung cảnh của thế hệ hiện tại, mà lại c̣n với đời sống vĩnh cửu của Cộng Đồng.

 

Các đức tính “Nhân”, “Dũng”, “Lược” phát sinh từ một căn bản thiên phú, nếu được hoàn cảnh bên ngoài xă hội và cố gắng bên trong cá nhân nuôi dưỡng và rèn luyện, sẽ phát triển đến đúng mức. Nhưng nếu không gặp được cơ hội rèn luyện và phát triển, các đức tính trên, v́ là thiên phú, vẫn tồn tại trong bản chất. Do đó, các đức tính “Nhân”, “Dũng”, “Lược” là những điều kiện chủ quan. “Trí” nghĩa là thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng, là một điều kiện khách quan. Bởi v́ sự thấu triệt vấn đề chỉ có thể được thực hiện bằng cách sưu tầm, khảo cứu, phân tích, lĩnh hội, quan sát và tổng kết những tài liệu bên ngoài liên quan đến vấn đề. Không có tài liệu bên ngoài th́ một bộ óc dù thông minh xuất chúng, cũng không làm sao hiểu được vấn đề.

 

Các đức tính trên đều cần thiết cho một sự lănh đạo xứng danh. Tuy nhiên, trong thực tế, sự khiếm khuyết một trong các đức tính, không mang đến những hậu quả như nhau.

 

Một sự lănh đạo có đủ “Nhân”, “Dũng”, “Lược” nhưng không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng không thể đưa con thuyền Cộng Đồng đến chiến thắng.

 

Một sự lănh đạo, dù thiếu “Nhân”, “Dũng”, “Lược”, nhưng lại thấu triệt vấn đề của Cộng Đồng, vẫn có hy vọng mang thắng lợi về cho Cộng Đồng, dù rằng thắng lợi đó phải trả bằng những gian lao và tang tóc.

 

Chúng ta có thể ví trường hợp thứ nhất với trường hợp của một người có xe và đánh xe rất tài, phát tốc độ, kềm cương ngựa tới, kéo ngựa lui, quanh phải, quanh trái vừa mau lẹ, vừa khoan thai không ai b́ kịp. Nhưng lộ tŕnh lại không biết. Như thế, dù xe có phóng nước lớn và vượt ngh́n dặm cũng không đưa được khách đến nơi cần phải đến, v́ chính người đánh xe cũng không biết đó là nơi nào. Trường hợp thứ hai là trường hợp của một người không xe và cũng không biết đánh xe, nhưng lại thấu triệt lộ tŕnh. Như vậy những người đồng hành với người này, có ngày sẽ đến nơi phải đến, tuy biết rằng cuộc hành tŕnh sẽ đầy gian lao và đ̣i hỏi nhiều kiên nhẫn.

 

Suy luận như trên đây không có nghĩa là muốn chứng minh rằng “Nhân”, “Dũng”, “Lược” không thiết yếu cho sự lănh đạo. Nhưng để chỉ rơ rằng mặc dù các đức tính “Nhân”, “Dũng”, “Lược”, “Trí” đều cần thiết, tuy nhiên sự thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng là quan trọng hơn cả.

 

Như thế th́, tới đây, chúng ta đă làm sáng tỏ được ba điểm:

 

1.- Việt Nam của chúng ta là một nước nhỏ và yếu, lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe dọa.

2.- Trong công cuộc chống ngoại xâm, một khí giới hữu hiệu nhứt là phát triển lănh đạo.

3.- Trong công cuộc phát triển lănh đạo, điều kiện thiết yếu cần được thỏa măn là: Thiểu số lănh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng.

 

 

Đa số chịu lănh đạo và vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng.

 

Sự thấu triệt vấn đề của Cộng Đồng quan hệ như thế nào đối với thiểu số lănh đạo, trên đây chúng ta đă thấy.

 

Một Cộng Đồng trong toàn bộ gồm nhiều phần tử cá nhân hợp thành, chia làm hai khối, thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự lănh đạo. Thiểu số lănh đạo có trách nhiệm với vận mạng của Cộng Đồng.

 

Cộng Đồng có tồn tại mới bảo đảm được phát triển của cá nhân. Cộng Đồng tồn tại nhờ cố gắng và hy sinh của cá nhân, t́nh nguyện hay cưỡng bách, đóng góp. Nhưng lư do của cuộc sống là sự thỏa măn ước vọng chánh đáng của cá nhân.


Nói một cách khác, lư do của cuộc sống là lư do cá nhân. Mà điều kiện của cuộc
sống là điều kiện Cộng Đồng. V́ thế cho nên, ngay trong bản chất đă có sự mâu
thuẫn giữa quyền lợi của Cộng Đồng và quyền lợi của cá nhân trong Cộng Đồng. Một mâu thuẫn như thế thuộc vào loại mâu thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội tâm (1)


của mọi cuộc phối hợp sáng tạo giữa hai lực lượng tương phản.

 

Cứu cánh của sự lănh đạo là thực hiện một trạng thái điều ḥa tuyệt đối giữa hai quyền lợi mâu thuẫn, cá nhân và Cộng Đồng. Nếu sự điều ḥa được thực hiện dưới h́nh thức một sự thăng bằng động tiến, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ dựa nhau và kích thích nhau để tiến, th́ toàn thể Cộng Đồng sẽ tiến triển. Nếu sự điều ḥa được thực hiện dưới h́nh thức một sự thăng bằng tĩnh chỉ, nghĩa là hai lực lượng tương phản sẽ đóng khung và kềm giữ nhau, toàn thể Cộng Đồng sẽ mất đà tiến và trở thành trụ đóng. Nếu sự điều ḥa không được thực hiện, Cộng Đồng sẽ tan vỡ.


Nhưng sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi cá nhân và Cộng Đồng không phải lúc nào cũng quyết liệt. Trong những thời kỳ b́nh thường của Cộng Đồng, Cộng Đồng không đứng trước một thử thách khó khăn, và không đ̣i hỏi nhiều sự đóng góp của cá nhân. Trong những thời kỳ đó, sự mâu thuẫn dịu đi và công cuộc lănh đạo chú trọng đến việc giữ cho trật tự xă hội được mọi người tôn trọng, và đời sống của mỗi cá nhân được phát triển.

 

Nhưng ở vào những thời kỳ mà Cộng Đồng phải đương đầu với một cuộc thử thách nghiêm trọng, và v́ sự sống c̣n của Cộng Đồng, đ̣i hỏi những đóng góp to tát của cá nhân, sự mâu thuẫn trên lên đến cực độ. Sự lănh đạo ngoài sự bảo vệ trật tự xă hội c̣n phải qui tụ những phương tiện vật chất và nhân sự vượt quá mức thông thường để đưa Cộng Đồng lướt qua các trở lực.

 

Sự mâu thuẫn trở thành cực kỳ trầm trọng. Trạng thái điều ḥa rất khó thực hiện và sự tan vỡ của Cộng Đồng có thể đến bất cứ lúc nào.

 

Như thế, sự mâu thuẫn, khi nhẹ khi nặng, lúc nào cũng có. Trong thực tế, sự mâu thuẫn giữa hai quyền lợi, Cộng Đồng và cá nhân, sẽ biến h́nh thành sự mâu thuẫn giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự lănh đạo, v́ thiểu số lănh đạo nhân danh Cộng Đồng đ̣i hỏi sự đóng góp của đa số chịu sự lănh đạo. Sự mâu thuẫn càng ác liệt, nếu đại đa số không ư thức Cộng Đồng và không hiểu biết vấn đề cần giải quyết của Cộng Đồng. Trường hợp này càng dễ xảy ra trong các Cộng Đồng nghèo nàn về vật chất và ấu trĩ trong tổ chức. Đa số chịu lănh đạo không được Cộng Đồng bảo đảm cho những cần thiết tối thiểu và sơ đẳng nên không có lư do tâm lư để biết đến Cộng Đồng, và, măi bận tâm giải quyết các vấn đề của đời sống hằng ngày, không có thời giờ mà hiểu biết vấn đề của Cộng Đồng.

 

Trong những thời kỳ b́nh thường, có thể miễn cưỡng thay thế sự tự ư tham gia của đa số chịu sự lănh đạo vào đời sống của Cộng Đồng bằng sự cưỡng bách tôn trọng luật lệ của Cộng Đồng. Nhưng trong những thời kỳ thử thách th́ uy tín vững chắc của một lănh tụ, hay sự cưỡng bách bằng vơ lực cũng không thay thế được sự đóng góp có ư thức vào nhu cầu của Cộng Đồng.

 

Và điều kiện thiết yếu để thực hiện sự tự giác đóng góp như vậy là đa số chịu sự lănh đạo phải ư thức Cộng Đồng và hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng. Có như vậy thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự lănh đạo mới phối hợp điều ḥa và tạo cho Cộng Đồng sinh lực cần thiết để vượt qua các thử thách quyết liệt đang đợi chờ.

 

 

Nhiều hậu quả trực tiếp

 

Sự liên hệ đương nhiên giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu sự lănh đạo trong một Cộng Đồng cũng đă đặt cho đa số chịu lănh đạo sự cần thiết phải hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng.

 

Hơn nữa, trong thực tế, nếu đa số chịu lănh đạo ư thức vấn đề của Cộng Đồng, th́ Cộng Đồng c̣n có thể tránh được nhiều bước lỡ lầm mà hậu quả sẽ rất tai hại cho các công cuộc chung.


Đa số chịu lănh đạo càng ư thức được vấn đề chung, th́ đường đất xoay trở càng rộng cho chiến thuật hành động của thiểu số lănh đạo. Cuộc tranh đấu càng gay go, chiến thuật càng trở nên khuất khúc và bất ngờ. Và như vậy sự phối hợp giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo sẽ không sứt mẻ và cái sắc bén của chiến thuật không bị sờn. Kẻ địch không lợi dụng được hoàn cảnh nghiêm khắc do cuộc thử thách tạo ra để ly gián giữa thiểu số và đa số của Cộng Đồng.

 

Mọi sự lănh đạo đều phải chịu sự phê b́nh. Có phê b́nh xây dựng và có phê b́nh đả phá. Ngay trong lúc b́nh thường, đa số chịu lănh đạo cũng không dễ dàng phân biệt được sự phê b́nh xây dựng với sự phê b́nh đả phá. Trong những lúc nhiệt độ không khí tranh đấu lên cao và bao trùm mọi việc th́ sự nhận định càng dễ bị đánh lạc hướng và thiện chí càng dễ bị lợi dụng bởi những chủ trương phá hoại. Tuy nhiên, nếu đa số chịu lănh đạo ư thức vấn đề của Cộng Đồng, th́ ít nhiều cũng sẽ có một tiêu chuẩn để nhận xét tính chất của sự phê b́nh và không bị những chủ trương phá hoại lừa gạt. Ví như hành khách, có thể không thấu lộ tŕnh như người lái xe, nhưng nếu nhiều hành khách có ư thức về lộ tŕnh th́ người lái xe khó mà mang một lộ tŕnh lạ vào thay thế cho lộ tŕnh mà nhiều người biết qua.

 

Một sự lănh đạo chân thành v́ quyền lợi của Cộng Đồng cũng có lúc phạm vào những lỗi lầm mà hậu quả sẽ có hại cho Cộng Đồng. Nhiều cuộc đầu cơ khéo ngụy trang có thể lừa gạt đa số chịu lănh đạo của Cộng Đồng. Trong hai trường hợp trên đa số có thể bị lôi cuốn vào những công việc tai hại. Và do đó có thể dẫn dắt Cộng Đồng đến chỗ sụp đổ.

 

Đa số chịu lănh đạo dù không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng, nhưng nếu đă có ư thức, cũng có thể kịp thời nghe theo những lời cảnh tỉnh xây dựng và từ chối không dự vào những công cuộc đưa Cộng Đồng vào ṿng tiêu diệt.

 

Càng phân tích các trường hợp như trên, chúng ta càng nhận thấy tính cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng đối với đa số chịu lănh đạo.

 

 

Nhiều hậu quả gián tiếp

 

Đối với một Cộng Đồng quốc gia nhỏ và yếu như quốc gia của chúng ta, lúc nào cũng bị nạn ngoại xâm đe dọa, sự ư thức vấn đề của Cộng Đồng đối với đa số chịu lănh đạo c̣n hàm nhiều hậu quả tuy gián tiếp nhưng rất là quan trọng.

 

Trong những thời kỳ phải đương đầu với nhiều thử thách quyết liệt, vận mạng của Cộng Đồng bị đe dọa, thiểu số lănh đạo bắt buộc phải đ̣i hỏi ở đa số chịu lănh đạo nhiều cố gắng phi thường, nhiều hy sinh nặng nề và nhiều đóng góp to tát. Nhưng nếu trong hoàn cảnh đó, đa số chịu lănh đạo lại không ư thức đúng mức vấn đề của Cộng Đồng, th́ chẳng những sự góp phần của họ sẽ miễn cưỡng và không xứng đáng, mà lại c̣n sẽ phát sinh một hiện tượng tâm lư rất nguy hiểm cho Cộng Đồng. V́ tin rằng bị cưỡng bách đóng góp một cách quá đáng vào một công cuộc mà họ không hiểu, đa số chịu lănh đạo càng ngày càng bất măn đối với thiểu số lănh đạo. Và lần lần sự bất măn biến thành căm thù và cuối cùng vùng lên thành phẫn nộ. Đến cực độ này, đa số chịu lănh đạo sẽ trở thành một công cụ sắc bén cho bất cứ một kẻ ngoại xâm nào biết thừa cơ hội đứng lên khoác áo nghĩa hiệp giải phóng cho đa số tự cho là bị thiểu số lănh đạo bóc lột.

 

Trong lịch sử của chúng ta, sự thất bại của Nhà Hồ và cuộc xâm lăng nước ta của quân Minh tiếp theo đó, là một sự kiện lịch sử điển h́nh cho trường hợp vừa phân tích trên đây. Hồ Quí Ly quyết định thực hiện một cuộc cách mạng toàn diện cho Dân Tộc Việt Nam. Xét lại sử liệu, cuộc cách mạng theo Nhà Hồ quan niệm, nếu thành công đă thay đổi hẳn cuộc tiến hóa của Dân Tộc. Nghĩa là con đường Nhà Hồ đă vạch ra là con đường vô cùng lợi ích cho Cộng Đồng. Nhưng Hồ Quí Ly, để thực hiện chương tŕnh, đă cưỡng bách đa số chịu lănh đạo đóng góp nặng nề, trong khi đa số không ư thức được vấn đề của Cộng Đồng. Và những biến cố đă xảy ra như ta đă biết: Quân Minh đă lấy danh nghĩa giải thoát Dân Tộc Việt Nam khỏi tay một tên soán ngôi, để cướp cả nước của chúng ta.

 

Trong ví dụ lịch sử trên đây, nếu đa số chịu lănh đạo hiểu biết được ít nhiều vấn đề, đă tránh cho chúng ta một trong bảy cuộc xâm lăng mà nước Tầu đă dành cho chúng ta trong một ngàn năm lịch sử.

 

Nhưng sự hiểu biết vấn đề của Cộng Đồng đối với đa số chịu lănh đạo không những có một hiệu quả tiêu cực đối với nạn ngoại xâm, như chúng ta vừa thấy trên đây, mà lại c̣n có một hiệu quả tích cực trong công cuộc chống lại nạn ngoại xâm lúc nào cũng đa dọa chúng ta. Những lư lẽ để chứng minh sự kiện này lại nằm trong một ngàn năm lịch sử của Dân Tộc Việt chống lại Trung Hoa.

 

Kinh nghiệm lịch sử của chúng ta chứng tỏ rằng, rốt cuộc lại, không phải ngoại giao, cũng không phải quân lực đă giúp cho chúng ta mấy lần đánh bại các cuộc xâm lăng của Trung Hoa và mấy lần quật khởi sự thống trị ác nghiệt của họ. Bởi v́, ngoại giao chỉ mạnh khi nào có quân lực mạnh làm hậu thuẫn. Và bởi v́, dù dũng lược có thừa, nhưng tài nguyên vật chất và nhân lực của chúng ta giới hạn th́ quân lực của chúng ta cũng giới hạn.

 

Chúng ta đă đánh bại quân xâm lăng và quật đổ ách thống trị v́ chúng ta có người lănh đạo và ư thức quốc gia được hun đúc và nuôi dưỡng cũng như vấn đề của quốc gia được giải thích sâu rộng trong đa số chịu lănh đạo. Như vậy th́ sự đa số chịu lănh đạo ư thức Cộng Đồng quốc gia và hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng là lợi khí sắc bén nhứt để cho một quốc gia nhỏ và yếu như chúng ta chống lại nạn ngoại xâm.

 

Các trường hợp đă phân tích trên đây chứng minh rằng sự đa số chịu lănh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng hàm chứa nhiều hậu quả ích lợi thiết yếu cho Cộng Đồng.

 

Nếu chúng ta nh́n nhận rằng, sự đa số chịu lănh đạo hiểu biết vấn đề mặc nhiên sẽ đưa đến sự đa số chịu lănh đạo tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào chính sự của Cộng Đồng.

 

Và nếu chúng ta lại nh́n nhận rằng, sự đa số chịu lănh đạo tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào chính sự của Cộng Đồng là bản chất của tinh thần dân chủ, th́ các điểm sau đây lại được sáng tỏ:

 

1.- Chỉ có sự tôn trọng tinh thần dân chủ mới là một lợi khí sắc bén nhứt để cho một nước nhỏ và yếu như nước chúng ta chống lại ngoại xâm.

2.- Phát huy sự hiểu biết của đa số chịu lănh đạo đối với vấn đề cần phải giải quyết của quốc gia là góp phần tích cực nhất vào công cuộc xây dựng và củng cố tinh thần Dân Tộc.

 

 

Một ví dụ cụ thể và khắc tín

 

Trên đây chúng ta đă dẫn chứng để quả quyết hai điều.

 

* Thiểu số lănh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng là một điều thiết yếu cho Cộng Đồng.

 

* Đa số chịu lănh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng là một điều thiết yếu cho Cộng Đồng.

 

Các biến cố dồn dập xảy ra trong Lịch Sử Việt Nam từ hai mươi năm nay mà mọi người đều c̣n ghi nhớ có thể lấy làm một ví dụ cụ thể và minh xác để chú giải hai điều trên đây.

 

 

Thiểu số lănh đạo và vấn đề

 

Từ hai mươi năm nay và c̣n trong nhiều năm nữa, các biến cố chính trị ở Việt Nam đều phát sinh từ sự tranh giành ảnh hưởng giữa hai chủ trương Quốc Gia và cộng sản. Mặc dù toàn bộ Việt Nam đều bị sự chi phối nặng nề của hai thế giới Tự Do và cộng sản, sự hơn kém giữa hai chủ trương vẫn tùy thuộc ở một số yếu tố nội bộ quyết định, trong số đó sự lănh đạo chiếm một vai tṛ quan trọng.

 

Sau này trong phần chính của quyển sách, chúng ta sẽ phân tích với nhiều chi tiết những lư do v́ sao chủ trương cộng sản chẳng những sẽ không giải quyết được vấn đề của Quốc Gia Việt Nam trong thời kỳ nầy của Cộng Đồng mà lại c̣n sẽ đưa Dân Tộc vào một con đường đen tối cho nhiều thế hệ trong tương lai.

 

Mặc dù lư trí của phần đông chưa quan niệm được một cách rơ rệt hiểm họa trên, nhưng số người trong mọi tầng lớp ngày càng chống lại chủ trương cộng sản càng tăng, v́ ghê sợ phương pháp cai trị tàn bạo của họ và ư thức ít nhiều về sự họ từ chối không nh́n nhận lư do cá nhân của cuộc sống.

 

Đă thế một sự kiện không khỏi làm cho chúng ta suy nghĩ. V́ sao, trong hoàn cảnh đó, chủ trương cộng sản lại càng ngày càng lấn áp chủ trương Quốc Gia ?…

 

Các lănh tụ quốc gia, lo cho vận mạng của nước nhà, đă để nhiều tâm trí t́m câu trả lời.

 

 

Lư thuyết tranh đấu

 

Nhiều người tin rằng, sở dĩ chủ trương cộng sản thắng thế là v́ nhờ có một lư thuyết tranh đấu. Để đối phó với chủ trương cộng sản th́ ngược lại chủ trương Quốc Gia không có một lư thuyết tranh đấu. Do đó từ hai mươi năm nay, nhiều lư thuyết đă được tạo ra. Nhiều lư thuyết lấy một học thuyết triết học hay tôn giáo làm căn bản. Một số khác mượn nền tảng của một chủ nghĩa tranh đấu chính trị đă, trong một lúc nào đó và tại một nơi nào đó trên thế giới, chống lại chủ nghĩa cộng sản. Đối với một vài lư thuyết, tư tưởng hoàn toàn đóng khung trong giới hạn Dân Tộc. Một vài lư thuyết khác khoáng đạt hơn dựa trên một hệ thống tư tưởng của các triết học danh gia thế giới.

 

Có nhiều xu hướng lại mang lập trường Quốc Gia để chọi lại lập trường Quốc Tế, xem như là lập trường của cộng sản. Và quên đi rằng đối với một quốc gia, ngay cả các quốc gia cộng sản, mọi chủ trương đều được nghiên cứu vừa trên lập trường Quốc Gia vừa trên lập trường Quốc Tế.

 

Các lư thuyết đưa ra làm lư thuyết tranh đấu để chống lại chủ nghĩa cộng sản đă có nhiều. Và hiện nay vẫn c̣n có người đang đi t́m một lư thuyết khác nữa với tác dụng trên.

 

Giá trị tư tưởng các lư thuyết rất khác nhau nhưng tất cả đều bất lực trong vai tṛ mong mỏi: Giúp cho chủ trương Quốc Gia chiến thắng chủ trương cộng sản. Chẳng những thế tất cả các lư thuyết đều mang đến một kết quả bất ngờ và trái ngược: Mỗi lư thuyết có một số người tin tưởng, nhứt quyết trung thành với lư thuyết của nhóm ḿnh và thành thật hay miễn cưỡng bảo vệ lư thuyết đó. Thành ra khối người theo chủ trương Quốc Gia chia năm xẻ bảy làm cho sinh lực chống lại kẻ địch c̣n yếu hơn là lúc không có lư thuyết.

 

Thật là không có ǵ làm cho người cộng sản vui sướng bằng t́nh trạng đó. Và họ chỉ ước mong khối quốc gia tạo ra thêm nhiều lư thuyết tương tự.

 

 

Một quan niệm cần chỉnh đốn.

 

Nguyên do của một t́nh trạng như vậy rất dễ hiểu. Đă là một lư thuyết th́ không phải là thực tế. Nếu lư thuyết lại lấy một thuyết học triết lư làm căn bản th́ lại càng không thực tế nữa. Như chúng ta đều biết: Hai người chủ trương hai học thuyết triết học khác nhau có thể căi vă nhau đến tận thế mà không bao giờ đi đến một sự thỏa thuận.

 

V́ thiếu căn bản thiết thực đó cho nên các lư thuyết đưa ra dù có một giá trị tư tưởng khá cao đi nữa, cũng không có năng lực phát quang để thuyết phục ai cả.

 

Tự đặt cho ḿnh một lư thuyết thiếu căn bản thực tế lại c̣n mang đến một hậu quả tai hại khác. Những người tin tưởng vào lư thuyết đó tự bắt buộc phải tôn trọng những nguyên tắc thiếu thực tế mà lư thuyết đề ra.

 

Đến khi hành động và đụng chạm với thực trạng của vấn đề th́ phải lâm vào một t́nh thế không lối thoát. Bởi v́ thực trạng của vấn đề đâu có chiều ư của tác giả lư thuyết mà uốn nắn ḿnh vào khuôn khổ các nguyên tắc đă đề ra. Trong trường hợp đó th́, hoặc phản bội lư thuyết mà theo thực tể, hoặc tôn trọng lư thuyết mà phủ nhận thực tế. Trong trường hợp thứ nhứt thiểu số lănh đạo sẽ mất uy tín, dần dần mất tin tưởng của đa số và sẽ đi đến thất bại. Trong trường hợp thứ hai thất bại sẽ đến ngay. V́ thực tế không thể phủ nhận được.

 

 

Sức mạnh của sóng và gió

 

Khi nh́n thấy mănh lực qui tụ của lư thuyết tranh đấu cộng sản và bị mănh lực đó ám ảnh, các nhà lănh đạo của khối Quốc Gia mới suy thấu có một nửa đường. Họ chưa nh́n thấy rằng lư thuyết cộng sản chỉ là một phương tiện tranh đấu và sở dĩ phương tiện tranh đấu đó có một mănh lực như chúng ta đều biết, là nhờ có hậu thuẫn của một công tŕnh nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử của nhiều thế hệ tư tưởng gia. Trong trường hợp nào khối cộng sản đă lấy lư thuyết đó làm một phương tiện tranh đấu, chúng ta sẽ thấy sau này trong phần chính của quyển sách.

 

Lư luận trên đây giúp cho chúng ta thấy ngay v́ sao một lư thuyết tranh đấu do một nhóm người ngồi lại nạo óc ra viết không thể phù hợp với thực tế được. Đă không phù hợp với thực tế th́ làm sao mang đến những kết quả mong mỏi được và sớm muộn ǵ cũng bị đào thải.

 

Người ta nh́n thấy mănh lực của lư thuyết tranh đấu, nhưng không nh́n thấy công tŕnh nghiên cứu thực tế lịch sử làm hậu thuẫn cho mănh lực đó, cũng như nh́n thấy mănh lực của lượn sóng mà không nh́n thấy sức mạnh của gió tạo ra lượn sóng.

 

 

Cộng sản và Tây phương

 

Nếu có thể tạo được một lư thuyết để chống lư thuyết tranh đấu cộng sản th́ đă lâu rồi, trong cuộc chiến đấu ác liệt giữa xă hội Tây phương và cộng sản, Tây phương đă tạo ra thứ khí giới sắc bén đó. Nhưng, biết rằng lư thuyết cộng sản là một phương tiện tranh đấu chỉ t́m được mănh lực của nó trong sự nghiên cứu thực trạng xă hội, nên Tây phương nhứt là nhữg Dân Tộc có óc thực tế như Anh, Mỹ đă t́m giải quyết các vấn đề do thực trạng xă hội tạo ra để thắng chủ nghĩa cộng sản. Họ đă thành công.

 

Ngày nay, ở Âu Mỹ, sở dĩ chù nghĩa cộng sản xuống trào, không phải v́ giá trị tư tưởng tuyệt đối đă kém. Nhưng v́ thực trạng xă hội ở Âu Mỹ hiện nay đă thay đổi khác xưa nhiều và cái lư thuyết mà cộng sản dùng làm phương tiện tranh đấu không c̣n phù hợp với thực trạng hiện nay của xă hội Âu Mỹ nữa. Đây là nguyên nhân chánh của sự tu chỉnh lư thuyết Các-mác Lê-nin mà nhiều lănh tụ cộng sản đang chủ trương. Sự kiện trên lại chứng minh rằng sức mạnh của một lư thuyết tranh đấu không phải ở giá trị tư tưởng của lư thuyết mà ở sự thấu triệt thực trạng của đối tượng.

 

Như thế th́, khi tạo ra những lư thuyết để chống lại cộng sản mà không t́m hiểu thực trạng của vấn đề, các nhà lănh đạo của khối Quốc Gia đă làm một việc của những người lănh đạo không thấu triệt vấn đề. Và lư thuyết tranh đấu, mặc dù là một khía cạnh đáng để ư của vấn đề, tuyệt nhiên chưa phải là vấn đề.

 

Vấn đề xă hội Tây phương đă thắng chủ nghĩa cộng sản trong nội bộ xă hội của họ, bằng cách giải quyết các vấn đề xă hội cho lớp người sút kém về kinh tế. Nhân cái gương đó, nhiều lănh tụ Quốc Gia cũng cho rằng nếu giải quyết các vấn đề xă hội trong nội bộ của chúng ta th́ chúng ta sẽ thắng cộng sản.

 

Nhận xét trên đúng mà không đúng. Đúng v́ vấn đề xă hội cũng chiếm một phần quan trọng trong vấn đề của chúng ta, nhưng tuyệt nhiên chưa phải là vấn đề. Một mặt khác thực trạng của xă hội Tây phương lúc chủ nghĩa cộng sản hoành hành không phải là thực trạng của xă hội của chúng ta ngày nay.

 

 

Tín ngưỡng

 

Lại có nhiều chủ trương lấy tín ngưỡng mà chống lại cộng sản. Tín ngưỡng là một nhu cầu thiêng liêng của tất cả mọi người. V́ thế khả năng qui tụ của một tôn giáo đối với các tín đồ là một điều kiện không thể phủ nhận được. Tín ngưỡng là một tín hiệu tập hợp hữu hiệu. Các chế độ cộng sản đàn áp tôn giáo chính v́ khả năng qui tụ nói trên, lúc nào cũng đe dọa sự độc quyền lănh đạo Cộng Đồng mà theo họ nhứt thiết phải dành cho đảng cộng sản.

 

Nhưng tác dụng thật sự và đương nhiên của sự qui tụ của tín ngưỡng là một tác dụng tôn giáo nghĩa là chú trọng về phần linh hồn, về phần sau của cuộc đời hiện tại. Và nếu không có cộng sản th́ sụ qui tụ đó cũng vẫn có. Nói một cách khác sự qui tụ đó tự nó không có mục đích chống lại chủ trương cộng sản. Chỉ khi nào, ví dụ trong một chế độ cộng sản, có sự đàn áp tôn giáo, bởi v́ chế độ cộng sản không thể dung dưỡng một sự qui tụ nào khác hơn sự qui tụ là đảng cộng sản, th́ sự qui tụ tôn giáo mới trở thành một hành động chống cộng sản. Nhưng sự chống lại vẫn là một hành động tiêu cực, nghĩa là sự chống lại có mục đích tự bảo vệ và nếu đàn áp chấm dứt th́ sự chống lại cũng chấm dứt.

 

Sự qui tụ tôn giáo chỉ có hiệu lực chính trị khi nào Cộng Đồng tôn giáo đứng vào thế đối lập và tiêu cực chống lại một chủ trương.

 

Ở trong một trường hợp mà sự kiện cộng sản đàn áp tôn giáo vẫn c̣n là một viễn ảnh chưa thành h́nh th́ sự qui tụ tôn giáo tự nó chưa có điều kiện để chống cộng sản. Nếu mà các tín đồ có nh́n được xa và nhứt quyết không muốn sống cảnh đàn áp tôn giáo của cộng sản, và do đó nhứt quyết chống lại cộng sản, th́ hành động đó cũng vẫn c̣n là một hành động tiêu cực chưa có thể mang lại thắng lợi.

 

Muốn cho khả năng qui tụ tôn giáo trở thành một lợi khí chống cộng sản th́ phải mang cái khả năng qui tụ đó mà dùng vào một công cuộc có mục đích giải quyết vấn đề thiết thực của Cộng Đồng. Nghĩa là các nhà lănh đạo chủ trương lấy tín ngưỡng mà chống lại cộng sản, phải thấu triệt vấn đề cân phải giải quyết của Cộng Đồng và sử dụng khả năng qui tụ của tín ngưỡng để giải quyết vấn đề đó.

 

Nói tóm lại, tín ngưỡng tự nó không phải là một lợi khí chống lại chủ trương cộng sản. Tín ngưỡng sẽ trở thành lợi khí chống lại cộng sản trong hai trường hợp:

 

1.- Khi bị cộng sản đàn áp.

2.- Khi khả năng qui tụ của tín ngưỡng được sử dụng trong công cuộc giải quyết các vấn đề do thực trạng xă hội tạo ra.

 

Lư thuyết cộng sản mạnh nhờ có một hậu thuẫn phong phú: Sự nghiên cứu các sự kiện thiết thực lịch sử. Tín ngưỡng sẽ là một lợi khí mạnh chống lại chủ trương cộng sản khi cũng có một hậu thuẫn nghiên cứu sự kiện thiết thực lịch sử.

 

Chủ trương lấy tín ngưỡng để thắng cộng sản lại có thể đưa đến một kết quả bất lợi, cũng tương tự như kết quả bất lợi mang đến bởi các lư thuyết chống chủ trương cộng sản. Ranh giới các Cộng Đồng tôn giáo không ăn khớp với các Cộng Đồng quốc gia. Một quốc gia gồm nhiều Cộng Đồng tôn giáo và một tôn giáo có thể có tín đồ trong nhiều quốc gia. Thêm vào đó sự kiện đương nhiên là mỗi tín ngưỡng đều có cái phần giáo lư riêng biệt của ḿnh thường không dung nạp các giáo lư khác. Thành ra sự huy động thiếu tinh vi lực lượng tín đồ của nhiều tôn giáo có thể mang đến xung đột và chia rẽ trong nội bộ của Cộng Đồng quốc gia.

 

 

Tiêu cực chống và tích cực chống

 

Như vậy th́ các biến cố chính trị ở Việt Nam từ hai mươi năm nay là một ví dụ cụ thể để minh xác rằng sự thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng rất là thiết yếu cho thiểu số lănh đạo.

 

Về phần họ, các nhà lănh đạo cộng sản có phải là một thiểu số lănh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng không ? Trong phần chính của quyển sách sau này, chúng ta sẽ thấy rằng cường điểm của họ ở chỗ cùng với sự thâu nhận lư thuyết cộng sản làm lợi khí tranh đấu, họ đă thừa hưởng của cộng sản quốc tế một công tŕnh nghiên cứu sự kiện thực tế lịch sử rất phong phú. Tuy nhiên, nhược điểm của họ cũng ở chỗ họ đă trụ vào một di sản ngoại lai, trong khi thực trạng vấn đề Việt Nam ngày nay không phải là thực trạng vấn đề các quốc gia cộng sản mà họ lấy làm gương mẫu.

 

Tóm lại các điểm dưới đây có thể dùng làm kết luận cho đoạn trên.

 

Lư thuyết cộng sản là một phương tiện tranh đấu của một chủ trương. Sức mạnh của chủ trương này do di sản của cộng sản quốc tế: Một công tŕnh nghiên cứu thực trạng xă hội rất phong phú.

 

Trên chính trường của Việt Nam từ hai mươi năm nay, chủ trương cộng sản đưa ra làm một giải pháp cho vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng quốc gia Việt Nam. Toàn bộ của vấn đề này do thực trạng lịch sử của Cộng Đồng Việt Nam trong thời kỳ này tạo ra. Thời kỳ này cố nhiên gồm nhiều Thế Kỷ vừa qua và sẽ gồm nhiều Thế Kỷ sắp đến.

 

Giải pháp cộng sản có thích hợp cho Cộng Đồng hay không, phần chính của quyển sách sẽ trả lời tỉ mỉ câu hỏi này. Nay chỉ biết rằng sức mạnh của chủ trương cộng sản ở chỗ chủ trương này đă lấy làm hậu thuẫn sự nghiên cứu đến nơi thực trạng của vấn đề.

 

Như thế th́, nếu muốn cho chủ trương cộng sản thất bại, th́ phải làm hai việc:

 

1.- T́m hiểu rơ thực trạng của vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng.

2.- Có một giải pháp khác để thay thế cho giải pháp cộng sản.

 

Nhưng thay v́ hai việc thiết thực trên, th́, cho đến ngày nay, các nhà lănh đạo của khối Quốc Gia chỉ đặt vấn đề chống lại chủ trương cộng sản một cách tiêu cực. Tiêu cực ở đây không có nghĩa là không nhiệt thành mà chống lại, nhưng có nghĩa là đặt sự chống làm mục đích. V́ sau cái việc chống không có một giải pháp cho vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng Dân Tộc.

 

Nếu vấn đề chưa giải quyết, th́, dù chủ trương cộng sản bị đánh bại bằng những phương pháp nào đó trong nhứt thời cái nguyên nhân để cho chủ trương cộng sản tồn tại vẫn c̣n.

 

Hơn nữa, để thực hiện sự chống lại chủ trương cộng sản, chẳng những tư tưởng của khối Quốc Gia tiêu cực, mà lợi khí sử dụng lại không sắc bén. Các chủ trương chính trị không có khả năng qui tụ, nhưng một khi qui tụ rồi th́ lại không sử dụng được sự qui tụ đó v́ thiếu chương tŕnh để giải quyết vấn đề của Dân Tộc.

 

Nếu cần một ví dụ để làm sáng tỏ suy luận trên đây, chúng ta có thể ví thiểu số lănh đạo cộng sản với một số người, trước khi xây một ngôi nhà đă thừa hưởng kết quả của một cuộc đào cẩn thận cho đến tận đá, và trên cái khối đá vững chắc đó, họ đă đặt nền móng cho một ngôi nhà theo quan niệm của họ. Nhưng hướng, kích thước, và kiến trúc của ngôi nhà có thích hợp với Cộng Đồng không ? Chúng ta sẽ trả lời sau này. Nay chỉ biết rằng ngôi nhà họ muốn xây dựng, được đặt trên một nền móng vững vàng có thể chịu đựng được sự lay chuyển của biến cố.

 

Trong khi đó thiểu số lănh đạo khối Quốc Gia không nỗ lực đào đến đá, không quan niệm trước sẽ xây ngôi nhà ra sao, lại bất cứ trên bùn trên cát cũng hấp tấp xây nhà, cái nhỏ, cái lớn. Nhưng nền móng không vững, các biến cố xảy đến gây sụp đổ lần lượt cái này đến cái khác. Nếu khối Quốc Gia đánh lại được khối cộng sản, làm cho chọ không xây được ngôi nhà mà họ quan niệm, th́ sự nghiệp đă đào đến đá mà họ thừa hưởng của cộng sản quốc tế vẫn c̣n đó, và quan niệm của họ về ngôi nhà vẫn c̣n đó.

 

Vấn đề của thiểu số lănh đạo Quốc Gia là phải đào cho đến đá, trên đó đặt nền móng cho một ngôi nhà được quan niệm rơ rệt cho thích hợp với Cộng Đồng. Chỉ có cách đó khối Quốc Gia mới thay thế được và loại hẳn ra được ngôi nhà của chủ trương cộng sản.

 

Sở dĩ khối Quốc Gia lâm vào t́nh trạng sa lầy như trên chỉ v́ thiểu số lănh đạo không thấu triệt vấn đề.

 

Như vậy th́ các biến cố chính trị ở Việt Nam hai mươi năm nay là một ví dụ rất cụ thể và minh xác cho sự kiện thiểu số lănh đạo phải thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng.

 

 

Đa số chịu lănh đạo và vấn đề

 

Thiểu số lănh đạo đă không thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng, tất nhiên đa số chịu lănh đạo không làm sao hiểu được vấn đề.

 

Và như thế những sự kiện khả dĩ làm đổ vỡ sự điều ḥa giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo, như chúng ta đă biết, sẽ lại xảy ra c̣n trầm trọng hơn là trong trường hợp mà thiểu số lănh đạo thấu triệt vấn đề nhưng đa số chịu lănh đạo không hiểu biết vấn đề.

 

Giữa hai phần, thiểu số và đa số, của Cộng Đồng chẳng những không có một sự phối hợp điều ḥa, lại c̣n có một sự đoạn tuyệt kinh khủng. Đối với bất cứ một vấn đề ǵ, chủ trương của thiểu số lănh đạo đều không được đa số hiểu biết và tán thành. Do đó, thiểu số lănh đạo chỉ c̣n có phương pháp mạnh để bắt buộc đa số phải tuân theo.

 

Kẻ thù không bỏ lỡ cơ hội, cố tâm nỗ lực đào sâu cái hố giữa thiểu số và đa số. Lúc nào sự bất măn của đa số đối với thiểu số cũng ngấm ngầm, và bùng nổ dữ dội trong những lúc khủng hoảng.

 

Thỉnh thoảng uy tín cá nhân của một vài người có thể thực hiện được sự qui tụ cần thiết cho sự tiến triển của quốc gia trong một thời gian. Nhưng v́ những yếu tố căn bản của sự điều ḥa giữa hai khối thiểu số và đa số không có, nên không bao lâu, việc đâu lại hoàn đấy.

 

Ôn lại và phân tích các biến cố chính trị đă xảy ra từ hơn hai mươi năm nay trong khối Quốc Gia Việt Nam, tất cả đều có thể hiểu được khi ta biết rằng nguyên do chính ở chỗ không có sự phối hợp giữa đa số chịu lănh đạo và thiểu số lănh đạo.

 

Trong những hậu quả mà sự đoạn tuyệt giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo mang đến cho Cộng Đồng, hậu quả sau đây đă thể hiện một cách rơ rệt trong những biến cố hiện đang tiến diễn.

 

Chúng ta biết rằng, mâu thuẫn đương nhiên lúc nào cũng có giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo trở nên vô cùng trầm trọng khi hai điều kiện dưới đây xảy ra một lúc.

 

1.- Có sự đoạn tuyệt giữa thiểu số lănh đạo và đa số chịu lănh đạo.

2.- Nhu cầu của Cộng Đồng bắt buộc thiểu số đ̣i hỏi một sự đóng góp nặng nề của đa số chịu lănh đạo.

 

Đa số chịu lănh đạo không hiểu biết lư do của sự đóng góp của ḿnh và nghĩ rằng bị thiểu số bóc lột. Sự phẫn nộ do đó càng ngày càng lên. Lúc bấy giờ bất cứ một kẻ xâm lăng nào đứng lên phất cờ giải phóng, đa số chịu lănh đạo sẽ hướng vào một cách mù quáng.

 

Trường hợp trên đây đă xảy ra một cách điển h́nh, ít có, gần đây trong khối Quốc Gia của Việt Nam. V́ nhu cầu phát triển, thiểu số lănh đạo đă đ̣i hỏi nhiều nỗ lực ở đa số chịu lănh đạo, nhứt là ở thôn quê vào những năm 1958-1959 trong những chương tŕnh gọi là phát triển Cộng Đồng. Nhưng v́ một khiếm khuyết của thiểu số lănh đạo, cho nên đa số chịu lănh đạo không ư thức sự cần thiết của những nỗ lực đ̣i hỏi. Do đó sự bất măn nhen nhúm và lần lần lan tràn.

 

Nhà cầm quyền cộng sản ở Hà Nội khai thác ngay cơ hội và năm 1960 đă đưa quân xâm lăng vào miền Nam với danh nghĩa quân “Giải phóng”. Cố nhiên là những người tự cho ḿnh bị thiểu số lănh đạo miền Nam bóc lột hưởng ứng và hiện nay chúng ta c̣n đang mục kích hiện tượng nói trên.

 

Ở miền Bắc Việt Nam t́nh trạng mâu thuẫn giữa thiểu số lănh đạo cộng sản và đa số chịu lănh đạo cũng không kém gay go.

 

Thiểu số lănh đạo cộng sản ư thức vấn đề phát triển của Cộng Đồng, như chúng ta sẽ thấy trong phần chánh sau này. Nhưng phương pháp phát triển của họ đ̣i hỏi một sự đóng góp tột bực của đa số chịu lănh đạo. V́ vậy cho nên, mặc dù kỹ thuật dân vận của họ có hiệu quả, sự bất măn của đa số ngày càng cao và tuy chế độ cảnh sát của họ rất nghiệt, thỉnh thoảng vẫn có những cuộc nổi dậy chứng tỏ sự phẫn nộ của đa số chịu lănh đạo.

 

Nếu thời cơ đưa đến, bất cứ một người nào phất cờ giải phóng miền Bắc, sẽ được đa số chịu lănh đạo hưởng ứng nồng nhiệt.

 

Như vậy các biến cố xảy ra ở Việt Nam từ hơn hai mươi năm nay là một ví dụ cụ thể, minh xác tính cách thiết yếu của sự hiểu biết vấn đề Cộng Đồng cần phải giải quyết đối với đa số chịu lănh đạo.

 

 

Đề xuất đối tượng

 

Thiểu số lănh đạo thấu triệt vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng là một điều kiện thiết yếu cho Cộng Đồng.

 

Đa số chịu lănh đạo hiểu biết vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng là một điều kiện thiết yếu cho Cộng Đồng.

 

Đối tượng của quyển sách này là t́m xem vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng Quốc Gia Việt Nam trong thời kỳ này của Cộng Đồng là vấn đề ǵ.

 

Trong khuôn khổ vài ba trăm trang giấy, và đối với một vấn đề đương nhiên quan hệ cho Dân Tộc và tự nó phức tạp như vấn đề nêu lên đây, ước vọng của tác giả không làm sao vượt lên quá được cái mức công việc chỉ nêu lên các khía cạnh của vấn đề, và những dây liên hệ giữa các khía cạnh trong toàn bộ. Mặc dù đă tham khảo một số lớn tài liệu trong nước cũng như ngoại quốc và để tâm nghiên cứu vấn đề trong nhiều năm, tác giả không khỏi lấy làm lo sợ và đắn đo khi phải tŕnh bày kết quả suy luận riêng của ḿnh. Động cơ duy nhứt khiến cho tác giả thắng được sự e dè của ḿnh là nỗi lo âu mà tác giả chia sẻ với toàn dân Việt Nam trước t́nh thế rất bi quan của Dân Tộc. V́ vậy mà đánh bạo đóng góp một phần nhỏ nhặt vào công cuộc t́m lối thoát cho Cộng Đồng Quốc Gia.

 

 

Ba bối cảnh

 

Đối tượng chánh vẫn là vấn đề cần phải giải quyết của Cộng Đồng Dân Tộc. Nhưng, bao giờ cũng vậy, một phần của toàn bộ lúc nào cũng được sáng tỏ hơn khi được đặt vào toàn bộ. V́ thế nên vấn đề cần phải giải quyết riêng của Việt Nam sẽ được đặt trong ba bối cảnh. Bối cảnh thứ nhứt là bối cảnh rộng lớn của t́nh h́nh chính trị thế giới. Bối cảnh thứ hai, nhỏ hơn, gồm các nước trong thế giới đang ứng phó với một thử thách tương tự, như thử thách của Việt Nam. Và sau cùng, bối cảnh thứ ba là một bối cảnh hẹp gồm các quốc gia thuộc về một khối văn hóa với Việt Nam: Các nước láng giềng ở Đông Á và Đông Nam Á.

 

 

Thị kỳ sở dĩ (2)

 

Một mặt khác mỗi thời kỳ của Cộng Đồng Dân Tộc gồm nhiều thế hệ trước và sau thế hệ hiện tại. Vả lại, thực trạng lịch sử mà chúng ta nh́n thấy trước mắt là hậu quả của những sự kiện đă xảy ra hằng mấy Thế Kỷ trước và là nguyên nhân của những sự kiện sau này. V́ thế nếu muốn t́m hiểu thực trạng hiện tại và dự đoán các biến cố trong tương lai, bắt buộc phải xét lại lịch sử của nhiều Thế Kỷ đă qua. Ví như chúng ta hiểu được cốt truyện đang diễn tả trên màn bạc và đoán được ít nhiều những cảnh sắp tới, là khi nào chúng ta đă xem qua các đoạn trước của cuốn phim. Do đó, sẽ có nhiều chương dành cho lịch sử của nhiều quốc gia trong những Thế Kỷ đă qua.

 

 

Giải pháp

 

Sau khi, nhờ ở những sự phân tích trên, vấn đề cần phải giải quyết của Việt Nam trong thời kỳ hiện tại của Cộng Đồng đă sáng tỏ, nhiều chương sẽ dành cho sự nghiên cứu một giải pháp mà tác giả nghĩ rằng thích hợp cho Dân Tộc.

 

Nhưng trước khi bàn tới giải pháp đề nghị, th́, theo gương các người lữ hành, trước khi lên đường, chúng ta sẽ kiểm điểm lại cái vốn tinh thần và vật chất mà chúng ta có, cũng như những món nợ phải mang theo ḿnh. Vài chương sẽ được dành cho bản mục lục đó.

 

Cuối cùng vài chương sẽ dành để phác họa giải pháp mà tác giả thiển nghĩ rằng thích hợp cho vấn đề. Các khía cạnh chính trị, kinh tế và văn hóa sẽ được đề cập đến.

 

Như trên đă nói, đối với một vấn đề bao la và phức tạp như vậy và trong khuôn khổ của vài ba trăm trang, ước vọng của tác giả không thể vượt quá cái mức công việc chỉ nêu lên các khía cạnh của vấn đề. Phần nghiên cứu tỉ mỉ và chỉ giáo xin trân trọng dành cho các bậc học giả trong nước.

 

 

Vị trí của tác giả

 

Bất cứ một đối tượng nào cũng có thể được nh́n từ nhiều vị trí. Vị trí khác, kết quả của sự nh́n sẽ khác, nghĩa là hai người từ hai vị trí khác nhau cùng nh́n một vật thể, mỗi người sẽ thấy một vật thể khác.

 

Trong các đoạn nhận xét, phân tích và suy luận dưới đây, đối với một vấn đề hay nhiều vấn đề, tùy theo hoàn cảnh tác giả sẽ đứng từ những vị trí khác nhau. Ví dụ có nhiều sự kiện sẽ có khi được nhận xét từ một vị trí quốc gia, và có khi từ một vị trí của một Cộng Đồng ngoài quốc gia. Lúc nào trường hợp đến, người đọc sẽ nhận thấy ngay là vị trí nào.

 

Tuy nhiên, có hai vị trí cần phải có sự thỏa thuận trước giữa tác giả và người đọc. V́ nếu không có sự thỏa thuận trước, th́ nhiều vấn đề hoặc khía cạnh của vấn đề sẽ không được sáng tỏ, v́ tác giả và người đọc sách sẽ đứng vào những vị trí khác nhau.

 

Vị trí thứ nhứt là một vị trí lúc nào tác giả cũng sẽ đứng vào để nh́n tất cả các vấn đề tŕnh bày: Đó là vị trí thực tế lịch sử. Bởi v́ thực tế lịch sử không có thể phủ nhận được. Và trên nền tảng vững chắc đó mới có thể lấy óc khoa học mà suy luận không sợ phạm vào những lỗi lầm căn bản.

 

Vị trí thứ hai là vị trí không bao giờ tác giả dám đứng vào để nh́n bất cứ vấn đề nào được tŕnh bày: Đó là vị trí triết lư tôn giáo, và lư thuyết là những lĩnh vực mà sự đối chọi giữa hai chủ trương trái ngược có thể kéo dài vô cùng tận. Bất cứ trong lănh vực nào của đời sống của Cộng Đồng: Chính trị, văn hóa, và kinh tế, sự nhận xét phân tách và suy luận của tác giả đều căn cứ trên những sự kiện lịch sử và để một bên tất cả các lư thuyết. Hành động như trên không có nghĩa là phủ nhận sự ích lợi của lư thuyết và giá trị của nhiều lư thuyết. Nhưng cố định đứng ngoài vị trí triết lư và lư thuyết để tránh tất cả các sự biện luận không thiết thực và do đó không thích hợp với mục đích của quyển sách.

 

 

Tài liệu tranh đấu

 

Mấy trăm trang dưới đây không phải là một tài liệu tranh đấu theo nghĩa thông thường của danh từ này: Nghĩa là lời văn sẽ không đanh thép, và ư văn sẽ không đề cao bất cứ cái ǵ của Dân Tộc hay của khối Quốc Gia. H́nh thức sẽ không cổ vơ nhiều người đứng lên dấn thân vào một công cuộc chung và nội dung sẽ không cố t́nh binh vực một lập trường đă quyết định trước.

 

Nhưng mấy trăm trang dưới đây có thể là một tài liệu tranh đấu, nếu gọi là một tài liệu tranh đấu, tài liệu nào khả dĩ mang thắng lợi tới cho chủ trương Quốc Gia Dân Tộc.

 

Bởi v́ mấy trăm trang dưới đây là một tài liệu nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử. Mà thấy được thực trạng của vấn đề, biết ḿnh và biết chung quanh ḿnh là một yếu tố quyết định cho sự thắng lợi.

 

Chính v́ lập trương nghiên cứu sự kiện thực tế của lịch sử cho nên tự ti mặc cảm tuyệt nhiên không có, khi nhận xét rằng Việt Nam là một quốc gia nhỏ và yếu. Nhỏ và yếu v́ dân số, v́ kinh tế kém mở mang, và v́ sự góp phần vào văn minh nhân loại. Trái lại, chính v́ không tự ti mặc cảm nên mới có nhận xét như vậy. Cứ ǵ có một dân số khổng lồ, một kinh tế phong phú mới là một Dân Tộc lớn. Và chính là khi chúng ta dám nh́n thẳng vào thực trạng của Dân Tộc, chúng ta mới đủ điều kiện đưa Dân Tộc vượt lên.

 

Và cũng v́ lư do trên mà tài liệu này không đề cập đến bốn ngàn năm văn hiến của Dân Tộc, lại chỉ nói đến một ngàn năm lịch sử. Cũng như trên, làm như vậy không phải v́ tự ti mặc cảm. Những ǵ trong lịch sử của chúng ta chỉ có một ngàn năm sau này mới có đủ tài liệu đích xác để làm nền tảng cho suy luận.

 

 

Lối hành văn

 

Sau hết tác giả cố t́nh sử dụng một lối hành văn dùng nhiều danh từ.

 

Các ngôn ngữ trên thế giới chia làm hai loại, loại cụ thể và loại trừu tượng. Ngôn ngữ cụ thể dùng nhiều động từ trong câu văn để diễn tả những động tác. Ngôn ngữ trừu tượng dùng nhiều danh từ để diễn tả những khái niệm. Văn hóa của một Dân Tộc càng tiến bộ, những khái niệm trừu tượng càng nhiều, ngôn ngữ càng trừu tượng. V́ một khái niệm trừu tượng lúc nào cũng diễn đạt một tư tưởng phong phú hơn một tác động cụ thể, nghĩa là một danh từ bao giờ cũng diễn đạt một tư tưởng phong phú hơn một động từ.

 

Giữa hai câu:

- Ông A đến Sài G̣n.

- Sự đến Sài G̣n của ông A.

 

Câu thứ nhứt chỉ diễn tả hành động cụ thể “Đến Sài G̣n của ông A”.

 

Câu thứ hai trái lại, mô tả chẳng những hành động cụ thể đó mà tất cả các sự kiện dính liền vào hành động trên.

 

Việt Ngữ cũng có lối hành văn với danh từ, nhưng thường th́ động từ vẫn quen dùng hơn. Bởi vậy cho nên câu “Ông A đến Sài G̣n” nghe quen tai hơn.

 

Tuy nhiên, trong một vấn đề bao la và phức tạp như vấn đề được giải trong những trang sau này, tác giả nhận thấy sự cần thiết phải diễn tả cho hết các tư tưởng, vừa để cho cuộc suy luận được bao quát và vững chắc, vừa để cho các tư tưởng diễn tả được phong phú hầu các khía cạnh của vấn đề được sáng tỏ. Các câu văn dùng nhiều danh từ mặc dù có hơi lạ tai, nhưng hàm súc và khúc chiết hơn để diễn tả những ư kiến trừu tượng tổng quát và bao gồm, thay v́ những ư kiến cụ thể giới hạn cho từng trường hợp.

 

Vấn đề hành văn này sẽ được đề cập đến với nhiều chi tiết trong phần văn hóa của đoạn sau cùng của quyển sách.

 

Đến đây kết thúc các trang giới thiệu vấn đề để bước vào phần tŕnh bày nội dung vấn đề.

 

Trong suốt một ngàn năm lịch sử từ ngày lập quốc, Dân Tộc Việt Nam đă vượt qua nhiều thử thách mà sử c̣n ghi chép. Theo định luật của các sinh vật, mỗi lần vượt qua được một thử thách là mỗi lần vượt lên một nấc thang tiến hóa một Cộng Đồng Dân Tộc là một sinh vật. Cộng Đồng của chúng ta trưởng thành trong thử thách. Tuy nhiên, sự tin tưởng nơi tiềm lực của Dân Tộc không nên làm cho chúng ta xem thường thử thách đang đợi chờ thế hệ của chúng ta.

 

Trước chúng ta đă có năm thế hệ đă thất bại trước thử thách này. Từ một ngàn năm nay, Dân Tộc chúng ta chưa có bao giờ gặp phải một thử thách ghê gớm như vậy. Thử thách càng lớn, sự thắng lợi càng đưa Dân Tộc lên cao, nhưng sự thất bại cũng sẽ bi thảm một cách tương xứng cho các thế hệ sau này.

 

Hai mươi năm nay, các biến chuyển đă đưa lần sự thắng lợi và thất bại của thế hệ của chúng ta đến chỗ chỉ c̣n cách nhau một đường tơ. Các trang trong phần chính sẽ giải thích v́ sao trách nhiệm ứng phó với thử thách hiện tại, ngày giờ này đang đè nặng lên vai của miền Nam Việt Nam. Và chưa bao giờ Cộng Đồng Dân Tộc đ̣i hỏi mỗi phần tử phải tham gia vào một công cuộc đầy kích thích như ngày nay.

 

Nếu không thấy vấn đề th́ trong sự thất bại hay thắng lợi, mười phần trách nhiệm của người là năm và năm phần là vận nước.

 

Đă thấy vấn đề th́ trong sự thắng lợi hay thất bại, mười phần trách nhiệm của người là bảy và ba phần là vận nước.

 

Đối với một phần tử của Cộng Đồng, không có sự ước mong nào thiết tha hơn là sự ước mong thấy Dân Tộc lại vượt qua thử thách, lần nầy cũng như những lần đă qua trong lịch sử.

 

 

Chú Thích:

 

1.- Loại mâu thuẫn lúc nào cũng có ở trong nội tâm: Mâu Thuẫn Nội Tại.

2.- Cách thức khảo sát của Khổng Tử là: “tam khan”: “Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an” (xem việc người đó làm, khảo sát quá tŕnh người đó làm, xem xét người đó làm lúc an, lúc nguy).

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính