Phan Thiết trong tâm tư người ly xứ.

 

Mường Giang

 

 

 

Ngày c̣n nhỏ rất thích bài ‘Tôi Đi Học’ của Thanh Tịnh và bài thơ ‘Nghỉ Hè’ của Xuân Tâm. Vốn tâm hồn đa cảm và cô đơn nên qua những nhơn vật của Thanh Tịnh và Xuân Tâm, đă làm tui luôn xúc động đến rớm lệ một cách thành thật, khi nghĩ tới quê hương ḿnh.

 

Tui không hề biết ngôi làng Mỹ Lư và làng Bảo An của hai tác giả trên ở đâu, ra sao nhưng vẫn tin tưởng rằng các thế hệ học sinh mọi thời, trong đó có chúng tui, ai cũng đă trải qua những cảm xúc, tâm trạng, những ao ước trong sáng ngây thơ của một cậu bé nhà quê, buổi sáng đầu tiên nắm vạt áo mẹ tới trường lần đầu. Hay đàn chim non sung sướng, khi giờ cuối cùng đă hết, để cùng nhau chạy ùa ra sân ga đón tàu về quê nghỉ hè.

 

̉a lên từ một niềm vui nho nhỏ thời tuổi học. Nhưng nó đă theo thời gian, vừa bừng bừng lặng lẽ, vừa mong manh như tơ trời, vậy mà vẫn dai dẳng theo tui tới trọn đời. Ngày ấy tui đă khóc v́ không được theo bạn lên tàu. Nhưng tuổi thơ vốn mau quên v́ ồn ào, ầm ĩ cho nên rồi cũng vội vàng, hăm hở cùng bạn lại chuẩn bị một mùa hè sắp tới.

 

Rồi th́ thời gian lăng đăng theo bóng mây chiều, những chàng trai đang lớn, đă biết thả hồn ḿnh mơ mộng theo những cánh phượng ở sân trường và những con đường dẫn vào lớp học, trước lúc lên tàu trở lại quê xưa.

 

‘Kiểm sót kỹ có khi c̣n thiếu sót, rương chật rồi khó nhốt cả niềm vui’, theo thời gian lửa loạn, nên đâu có c̣n im ả như những mùa hè thiếu thời mà huyên náo đằng sau lũy tre làng. Tất cả đă ngoa ngoắt quay lưng chạy vào quá khứ, bỏ ta ở lại trong cái cảm xúc thân thuộc mà xa lạ, giữa cơi ḷng trước sân trường của một mùa hạ tím ngắt.

 

Thị xă Phan Thiết thập niên 1960

 

Nay trở về quê xưa Phan Thiết trong tuổi già. Vẫn như hôm nào, chiếc xe đ̣ từ Sài G̣n vào thành phố, cũng phải qua những ḷ gốm làm tĩn đựng nước mắm, nằm dài hai bên quốc lộ 1, xóm Giếng Rọc, Ấp Đức Long. Dù bấy giờ nghề đă dẹp nhưng cái mùi vỏ ốc, nghêu ṣ, muối mắm.. ở đâu đâu như khói, cứ bay và xộc cả vào miệng mũi, thế nhưng tui không thấy khó chịu, trái lại rất vui mừng, v́ biết chắc là ḿnh đă tới nhà. Trong cái hương vị đậm đà của biển đọng trên da tôi, thử đưa lên ngửi như thấy có mùi rất riêng của quê tui Phan Thiết.

 

Rồi th́ ngơ ngơ ngẩn ngẩn trên những nẻo đường quê hương, càng nh́n càng thấy ngùi ngùi. Phố xá nói mở nhưng đi một ṿng xe đă hết. Buồn trong cảm giác lẫn lộn, trước cảnh vật vừa lạ hoắc lại cũng thân quen. Phan Thiết bây giờ qua tâm tư của kẻ ly xứ vừa trở về, như là một thành phố nào khác. Về quê nhân mùa tết, trước quang cảnh ồn ào của những phiên chợ đông người làm dáng, như nửa thực nửa mơ của chốn phồn hoa đô hội đủ đầy, khiến thấy nực cười một ḿnh, khi biết sẽ chẳng bao giờ có được một Phan Thiết rừng tiền biển bạc hiện diện trên đời này, dưới cơi thiên đường xă nghĩa, chỉ đẹp giữa giấc mơ hay trong đầu óc của tưởng tượng.

 

Dường như không c̣n một mùi quê xa cũ, dù đó là mùi rêu mốc của những tường vách đền tháp, đ́nh chùa, bởi đâu đâu cũng đă sơn lại một lớp màu hào nhoáng, làm mất hết cái rêu phong cổ kính của những nơi chốn thân quen, dù nơi đó là cảnh chùa xưa đền cũ. Anh em bè bạn và làng xóm cùng chung lứa, nay cũng không c̣n bao người. Những kẻ c̣n sót lại già trước tuổi. Rồi đây nếu trở lại quê xa lần nửa, chắc cũng như Hạ Trí Chương, ngậm ngùi trong nỗi:

 

‘Thiếu tiểu ly gia lăo đại hồi

Hương âm vô cải, mấn mao tồi

Mục đồng tương kiến, bất tương thức.

Tiếu vấn khách ṭng hà xứ lai’

 

Thuở nhỏ bỏ nhà ra đi, già mới về, quê nhà giờ thay đổi hết, ai cũng trố mắt nh́n ḿnh và cười hỏi từ đâu tới ?. Bao chục năm phải xa quê hương v́ hoàn cảnh và đă chịu biết bao thăng trăm nơi đất khách, nên ḷng ai cũng muốn trở về quê, để trút hết những ưu phiền đă cưu mang suốt thời gian lưu lạc chốn quê người.

 

Giờ biết t́m ở đâu cái mùi đất ẩm pha gió biển mằn mặn của Phan Thiết ? và trong đó chẳng những có mùi cá mực, mà c̣n thắm đượm cả mùi lá tre, rạ rơm, hương lúa mới, làm cho ḿnh bỗng thấy sảng khoái hít hà hết cái hương quê riêng của tuổi xuân th́..

 

Về Phan Thiết để được ăn lại những món ăn năm nao của quê nhà, bánh căn, ḿ Quảng, gỏi cá mai, bánh bèo chén, chè đậu ván.. và thịt heo luộc cuốn bánh tráng chấm mắm nêm. C̣n mùi thịt giống truyền thống Phan Thiết. Rồi sáng sớm, lúc trời c̣n hơi lành lạnh, cỡi chiếc xe đạp ghé vào quán cóc bên đường, nhâm nhi ly cà phê nóng, để nh́n thiên hạ qua lại, mà nhớ cái thuở c̣n lang thang. Tóm lại, qua cái mùi riêng c̣n sót lại, như đă đánh thức trong tui cả một kư ức của thời xưa cũ, h́nh như ngủ quên trong đời của một lăng tử, sắp bước vào ngưỡng cửa ‘cổ lai hi’.Nhưng thấy được quê rồi, không vui mà vẫn bâng khuâng ngậm ngùi.

 

Phan Thiết bây giờ cũng thay đổi, khi những đồi cát hoang sơ, chạy dài từ Đá Ông Địa, Rạng, Mũi Né tới Ḥn Rơm, được đánh thức bởi những bước chân người. Vâng quê tui là thế đó, từ bao đời luôn quyến rũ mọi người bằng nét đẹp thiên nhiên, rất hoang sơ mà lăng mạn, như tiếng mời gọi của sóng biển ŕ rầm hay bóng mát dịu hiền của mặt trời khi xuyên qua rừng dừa xứ Rạng. Về Phan Thiết để cùng với cái tĩnh lặng của đêm trường , lắng nghe tiếng sóng vỗ trong gió, mang theo cả hương nồng vị mặn từ biển, theo sông Cà Ty xuôi về biển cả để nhớ những địa danh một thời hoa bướm như lầu nước, vườn hoa, băi Thương Chánh.. nơi ḥ hẹn của những cuộc t́nh mới lớn, thời gian nay đă trôi theo nước chảy qua cầu nhưng đố ai quên được.

 

1- TỪ HAMULITHÍT TỚI PHAN THIẾT.

 

Năm 1692, Chiêm Thành và Đại Việt lại giao tranh dữ dội tại Châu Panduranga. Các trận đánh lần lượt tiếp diễn tại Pan Rang, Paríc, Sông Lũy, Ba Giai.. trên một đoạn đường dài hơn 150 km. Cuối cùng năm 1693, đoàn quân Nam tiến của Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh, mới tới được vùng Hamulithít.

 

Theo tài liệu c̣n sót lại, cho biết đây là một xóm chài của người Chàm, nằm rải rác trên một dải đất rộng, ven theo bờ biển, bên trong là một đồi cát mênh mông, lẫn lộn hai màu vàng trắng. Một ḍng sông lặng lờ, từ núi rừng mù mịt ở hướng tây chảy về thung lũng xanh mịt cây cối và xuôi thẳng ra biển nước muôn trùng. Ven hai bờ con sông, mọc đầy những cụm bần, mắm, lau sậy.

 

Đó là quang cảnh của Phan Thiết từ ba trăm năm trước. Tất cả rất hoang sơ cô tịch với một vài xóm Chàm, sống nghề đồng ruộng và chài lưới. Xa hơn về hướng đông, nằm trên một ngọn đồi thấp sát biển, là một vài tháp Chàm cổ kính, tường gạch rêu phong, trơ vơ với bụi cát thời gian.

 

Là vùng đất mới, nên cho dù người Chàm không v́ tiếp cận với quân Đại Việt của Nguyễn Hữu Cảnh, nên đă bỏ vào Phù Mi hay chạy lên rừng núi phía tây, th́ các thôn xóm của người bản địa tại đây cũng không đáng kể, v́ hầu hết người Chàm đều tập trung sống ở phía bắc Châu Pan duranga, v́ đất đai nơi đó màu mỡ. Trong khi đó, biển Đông trước mặt, với cái cảnh cá ṃi, cá nục nổi đầy mặt nước sát bờ. Ngoài xa từng đàn cá voi trững giỡn với thân h́nh bóng loáng, chập chùng theo sóng, phun cao ṿi nước rồi mất dạng, rồi lại hiện, làm cho biển lúc nào cũng xao động v́ các loại cá. Sở dĩ vùng này dân cư thưa thớt ở hai thế kỷ đầu, là v́ cảnh tao loạn triền miên không bao giờ dứt, nên các nhóm lưu dân từ miệt ngoài vào, chỉ ở tạm rồi lại tiếp tục xuôi Nam, v́ trong đó đất đai ph́ nhiêu và t́nh h́nh rất ổn định, nên ai cũng cảm thấy yên bụng.

 

Măi đến đầu thế kỷ thứ XVIII, một số ngư dân sống ven biển các tỉnh miền Trung, từ Quảng B́nh vào tới Phú Yên, mới bắt đầu định cư tại B́nh Thuận, khai phá rừng núi, biến đổi sông lạch ao hồ, thành ruộng nương thôn xóm. Tại Phan Thiết, lưu dân tới lập nghiệp hầu hết là các vạn chài từ Ngũ Quảng vào, hành nghề sóng nước và làm nước mắm cá biển theo truyền thống đă có từ lâu đời ở miệt ngoài.

.

Là một vùng đất mới rất rộng nhưng người thưa, nên tỉnh B́nh Thuận được tổ chức các đơn vị hành chánh rất giản lược và luôn thay đổi, chia cắt không ngừng. Bắt đầu năm 1692 là Thuận Phủ, năm 1694 là Thuận Thành Trấn, năm 1697 là Phủ B́nh Thuận. Đời Minh Mang vào năm 1832 là tỉnh B́nh Thuận, lúc đó Phan Thiết nằm trong tổng Đức Thắng, thuộc huyện Tuy Lư, phủ Hàm Thuận. Năm 1889, phủ thành của tỉnh B́nh Thuận, được dời từ Hoà Đa về thôn Phú Tài, thuộc phủ Hàm Thuận. Ngày 20-10-1898, đời vua Thành Thái, Phan Thiết được tách ra khỏi phủ Hàm Thuận và chánh thức được công nhận là Thị Xă (Centre Urban), cùng lúc với các thị xă Thanh Hóa, Huế và Quy Nhơn, đồng thời trở thành tỉnh lỵ của tỉnh B́nh Thuận từ đó.

 

Ngày 28-11-1932, thị xă Phan Thiết được nâng lên là thành phố cấp 3, có 5 cơ sở hành chánh là các thôn Thiềng Đức, Nhuận Đức, xă Đức Thắng, Lạc Đạo và hộ Đảng B́nh. Ngoài ra c̣n có 4 làng ven ô như Phú Tài, Trinh Tường, Tú Luông và Hưng Long.

 

Năm 1934, khâm sứ Trung kỳ đem tất cả các đơn vị hành chánh trong và ngoài thị xă và chia thành 6 phường Đức Thắng, Đức Nghĩa, Lạc Đạo, Phú Trinh, Đức Long và B́nh Hưng.

 

Năm 1957, thời Việt Nam Cộng Ḥa, thị xă đổi thành xă Châu Thành, thuộc quận Hàm Thuận. Các phường đổi là ấp và lập thêm các ấp mới như Kim Hải, Hưng Long, Vĩnh Thủy và Vĩnh Phú. Sau ngày 30-4-1975, Phan Thiết chia thành 9 phường gồm Đức Thắng, Đức Nghĩa, Đức Long, Lac Đạo, B́nh Hưng, Hưng Long, Phú Trinh, Phú Thủy, Thanh Hải. Năm 1977 lại sáp nhập thêm xă Hàm Hải của huyện Hàm Thuận vào Phan Thiết. Năm 1979, lại nhập thêm vào Phan Thiết hai xă Tiến Lợi và Phong Nẫm, đồng thời đổi tên Hàm Hải là xă Phú Hài. Năm 1982, mở rộng đia giới thị xă Phan Thiết, sáp nhập thêm xă Hàm Tiến và phường Mũi Né. Năm 1983 lại nhập thêm xă Tiến Thành. Như vậy đến nay, thành phố Phan Thiết bao gồm 10 phường và 5 xă.

 

Lúc đầu những lưu dân tới Phan Thiết, dựng lều trại dọc theo bờ biển và cất nhà chồ dọc theo hai bờ sông Cà Ty. Sau đó, nhà ở được củng cố và làm thành những xóm nhỏ trong vịnh Phan Thiết, thường lặng gió sóng im. Ta biết hầu hết tổ tiên người B́nh Thuận là lớp người b́nh dân miệt ngoài, nên bản chất cũng chân thành mộc mạc, v́ vậy họ đă gọi nơi ḿnh sanh sống, bằng những cái tên có liên quan tới nghề nghiệp như Xóm Chỉ, Xóm Bánh Tráng, Xóm Ốc, Xóm Ghe, Xóm Câu, Xóm Biển.. là những địa điểm nằm dọc hai làng Lạc Đạo và Tú Long. Phía tả ngạn, có Xóm Đầm, thuộc làng Hưng Long, ở đó nhờ có một cái đầm nước ngọt, giúp dân địa phương quanh năm sản xuất rau cải cung cấp cho thành phố. Riêng Xóm Tỉnh, thuộc làng Phú Tài, một địa phưong quanh tỉnh thành B́nh Thuận, được dời từ Hoà Đa vào cuối thế kỷ XIX. Rồi th́ Cồn Chà Đức Thắng là một cồn cát bồi gần cửa biển, được các dân chài làm nơi bó các cột chà tre và lá dừa, dùng cho nghề đánh cá nục. C̣n Cồn Cỏ là tên gọi cái cồn nhỏ mọc đầy cỏ giữa sông Cà Ty, hai bên bờ Phú Tài và Đức Nghĩa. Riêng Phật Quang tự, là một trong những ngôi chùa cổ kính tại B́nh Thuận, gần động cát nên gọi là chùa Cát.

 

Năm 1697, chánh thức là một trong bốn đạo của dinh B́nh Thuận. Tuy nhiên thời đó, dù là đạo, chỉ dưới dinh, nhưng thiệt ra chỉ là chốn hoang vu, nên không thể nào sánh nổi với đạo Ninh Thuận, được coi như là một tỉnh nhỏ năm 1901.

 

Căn cứ vào tài liệu c̣n lưu trữ, ta thấy tỉnh B́nh Thuận luôn luôn thay đổi về hành chánh và diện tích, cho nên đạo Phan Thiết cũng chẳng có văn bản nào xác nhận xuất xứ rơ ràng. Năm 1825 đời Minh Mạng, băi bỏ đạo Phan Thiết và trực thuộc vào huyện Tuy Lư. Theo các địa bạ do Bộ Hộ Thị Lang là Đào Tri Phú lập ra thời Minh Mạng thứ 17, năm 1837 cho biết Phan Thiết năm đó trực thuộc tổng Đức Thắng, huyện Tuy Định, gồm tới 31 làng xă, hiện nằm trên hai huyện Hàm Thuận Nam và Hàm Tân. Như vậy lúc đó, Phan Thiết gồm các xă Đức Thắng, Nhuận Đức, Lạc Đạo, các thôn Thành Đúc và Tú Long bên hữu ngạn và xă Trinh Tường cùng các thôn Long Khê, Minh Long và Long B́nh.

 

Và rồi theo thời gian, có nhiều địa danh cũ biến mất như Minh Long, Long B́nh thuộc B́nh Hưng hay Long Khê của Phú Trinh. Các xă thôn khác như Phú Tài, Phú Hội, Xuân Phong, Đại Nẫm và tổng Đức Thắng, lúc đó cũng được coi như là ngoại ô của Phan Thiết. Riêng hai thôn Long Khê và Thành Đức là đất thị tứ, nơi đặt lỵ sở, học xá. C̣n thôn Minh Long, tức là băi Thương Chánh, đă có đồn pḥng thủ cửa biển.

 

Cuối thế kỷ XVIII, một cây cầu gỗ, dài 41 trượng , tương đương khoảng 164m, bắc ngang sông Cà Ty, nối liền con đường cái quan, nên thuở đó được gọi là Cầu Quan hay Thắng Kiều.

 

Năm 1802, ngay khi lên ngôi hoàng đế, vua Gia Long đă sai Lê Quang Định, sức cho các trấn địa phương, từ Cao Bằng tới Hà Tiên gồm 31 nơi, do các đường quan, chia đặt dịch điếm, đặt dịch trạm, đều phỏng theo đời xưa. Con đường bưu chính bắc-nam đời nhà Nguyễn, cũng là con đường cái quan, là con đường ṃn, dọc theo bờ biển VN, không xa lằn nước thủy triều là bao nhiêu. Từ năm 1809 cũng thời vua Gia Long, đường cái quan được tu bổ, mở rộng có quân xá và trạm dịch chuyển công văn. Riêng đoạn đường ngang Phan Thiết, dài từ 70-80 dặm, khoảng 40-50 km, là khu vực sầm uất, nằm giữa hai bưu trạm Thuận Lư và Thuận Phan. Tóm lại B́nh Thuận sản xuất muối, cá khô, nước mắm, bông vải, đậu phộng, heo sống, da thú các loại.. được ghe bầu chuyên chở bán khắp nơi và Phú Hài cùng Phan Thiết, đă trở thành hai hải cảng quan trọng nhứt lúc đó, trên hải lộ từ Sài G̣n tới Nam Định.

 

 

Thời toàn quyền Đông Dương A. Klobukowski năm 1910, thị xă Phan Thiết gồm 16 làng xă, chia ra phía hữu ngạn có xă Đức Thắng, Thành Đức, Nhuận Đức, Nam Nghĩa, Lạc Đạo, Tú Long và tả ngạn có Long Khê, Phú Trinh, Trinh Tường, Đảng B́nh, Quảng B́nh, Thiện Mỹ, Thiện Chánh, Xuân Ḥa, An Hải, Sơn Thủy. Tóm lại trong số 11 làng của Phan Thiết, chỉ có 7 làng nằm trong địa giới châu thành, c̣n 4 làng khác ở ngoại ô. Cuối cùng ngày 28-11-1933, điạ giới Phan Thiết mới được sắp xếp rơ ràng như Đức Thắng, Đức Nghĩa (gồm Thành Đức và Nam Nghĩa), Lạc Đạo, Đức Long (gồm Nhuận Đức, Tú Long). Riêng tả ngạn có Phú Trinh (gồm Phú Tài, Trinh Tường), B́nh Hưng (gồm Đảng B́nh, Hưng Long, Quảng B́nh). Làng Long Khê bị xóa tên và trở thành khu vực xây dựng các cơ quan, dinh thự của chánh quyền. Cũng từ đó, về hành chánh đứng đầu tỉnh là công xứ người Pháp kiêm đốc lư, cũng là chủ tịch ủy ban thành phố. Quan tuần vũ của triều đ́nh Huế, chỉ là phó chủ tịch. Việc bổ nhậm các quan lại, đều do khâm sứ Trung kỳ chọn, quan lại Nam triều chỉ có chức năng tư vấn. Ngoài ra c̣n có Bang Tá, trực tiếp nhận lịnh của đốc lư Pháp. Hương chức đắc cử lư trưởng, tương đương với phường trưởng ngày nay.

 

Một trong những dữ kiện quan trọng nhất, đó là việc kiến thiết lại thị xă Phan Thiết, để phù hợp với một tỉnh thành quan trọng nhứt Trung Kỳ bấy giờ, về dân số và kinh tế. Trước kia, Phan Thiết chỉ mới là chốn thị tứ của phủ Hàm Thuận mà thôi, dù đă được công nhận trên giấy tờ, kể từ ngày 26-11-1899 là tỉnh lỵ tỉnh B́nh Thuận.

 

Chợ búa mọc lên khắp nơi,đông nhứt là chợ lớn ở sát cầu quan, thường có tới vài trăm người đến mua bán. Ngoài ra c̣n có nhiều chợ nhỏ hơn như chợ chiều tại Long Khê, chợ cồn chà tại Đức Thắng, chợ Đội Thiều tại Đức Long..

 

Do t́nh trạng dân cư càng ngày càng đông đảo, mà thành phố lúc đó lại chưa được chỉnh trang, từ nhà cửa tới đường sá, cho nên khắp nơi c̣n lẫn lộn nhiều ao đầm, bụi rậm, v́ vậy Phan Thiết lúc đó thường bị bịnh dịch hoành hành, giết hại nhiều người, mà chứng nhơn lịch sử, vẫn là khu Mả Lạng ở xă Tú Long, mạn nam thành phố.

 

Tới nay, trong kho tư liệu c̣n lưu trữ tại Pháp, người ta chỉ c̣n t́m thấy vài tấm bản đồ cũ của Phan Thiết được vẽ những năm 1904, 1916 và 1926.. được coi là nhơn chứng của quá khứ, cho nên ngày nay khó biết được Phan Thiết ngày xưa có diện mạo thế nào. Tuy nhiên nhờ c̣n nhiều công tŕnh kiến trúc xa xưa, không bị chiến tranh và thời gian tàn phá, giúp cho ta t́m lại phần nào những biến chuyển lịch sử, qua các công tŕnh trên.

 

Một khách sạn lớn có tên là Grand Hôtel, trực thuộc phân cuộc khách sạn Đông Pháp, gồm vài chục pḥng trên hai tầng lầu, dành làm nơi tạm trú cho những thương gia người Âu khi tới kinh doanh hay du lịch tại B́nh Thuận. Được xây năm 1904, bên tả ngạn cầu Quan ( cầu giữa), trên một đồi thấp có nhiều cây to mát mẻ., đối diện với ṭa sứ gần đó, trên đất làng Long Khê cũ. Chủ nhơn của khách sạn này là một người Pháp tên Guerry, c̣n có một khách sạn khác tên Ngọc Lâm, trên núi Cố, kế Phú Hài, nơi có phần mộ của Nguyễn Thông (1827-1884) và gia đ́nh, nổi tiếng v́ phong cảnh hữu t́nh, không khác ǵ vùng Địa Trung Hải.

Tháng 3-1945, Nhựt đảo chánh Pháp khắp toàn cơi Đông Dương nói chung và B́nh Thuận. Khách sạn trên được Nhựt chiếm dụng và đổi tên là Bangalow, vừa để nhốt người Pháp tại các pḥng trên tầng lầu, cũng là nơi làm câu lạc bộ cho các sĩ quan Nhựt trong đơn vị Thiên Hoàng đang chiếm đóng Phan Thiết.

 

Ngày 3 tháng 9 năm 1945, Nhựt thua trận và đầu hàng Mỹ cùng đồng Minh vô điều kiện. Quân Thiên Hoàng tại Đông Dương được lệnh bất động và buông súng chờ giải giới. Một nhóm nhỏ cộng sản đệ tam tại B́nh Thuận lợi dụng cơ hội chánh quyền bị bỏ trống, nên lượm quyền lực rơi văi ngoài đường phố vào ngày 24. O8. 1945, giữa sự thờ ơ của quân đội Việt, Pháp và Nhật tại địa phương, rồi gọi đó là cướp chính quyền. Việt cộng chiếm Bangalow tức Grand Hôtel, rồi đổi tên là Lữ quán Hồ Quang Cảnh, tên một đảng viên cộng sản đệ tam quốc tế, sinh quán Nghệ An nhưng trưởng thành ở Rạng, có học trường Pháp Nam Phan Thiết. Cảnh cũng là nhân viên hỏa xa, làm việt cộng nên bị Pháp bắt và đày lên nhà tù Ban Mê Thuột và chết trong tù vào khoảng thập niên 30's. Sau năm 1954, Grand Hôtel là nơi đặt doanh trại của nhiều đơn vị Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa thuộc Tiểu khu B́nh Thuận như BCH, Biệt khu B́nh Lâm, quân trấn, XDNTvà Ṭa Án .. Năm 1977, tỉnh lị của tỉnh Thuận Hải dời từ Tháp Chàm, Phan Rang vào Phan Thiết. Trụ sở Ủy Ban Nhân Dân đóng tại Toà Hành Chánh B́nh Thuận, c̣n tỉnh ủy th́ ngự tại Bangalow. Từ đó, bằng tiền bạc vơ vét tại B́nh Thuận, Việt Cộng sửa sang nơi này khang trang lộng lẫy như cung điện của hoàng đế Măn Thanh với đèn trần thả chùm, tường ốp gỗ đỏ, mái ngói mới, máy lạnh thay quạt trần. Khắp các pḥng đồ đạc cũng thay mới, bàn họp dài h́nh quả trám, cẩn mica, nền lót gạch hoa c̣n đường xe chạy từ cổng vào tới tiền sảnh, được lót đá hoa cương. Nói chung khách sạn cũ bị phá bỏ hoàn toàn, để xây một ṭa nhà 5 tầng nguy nga lộng lẫy, chung quanh có vườn hoa, cảnh cũ chỉ c̣n lại cây me cổ thụ, không ai biết đă bao nhiêu tuổi đời.

 

Kế cận c̣n có nhà Dây Thép (Bưu Điện), ở ngă tư lên Chợ G̣. Trên đường đi Phú Hài có sở Lục Lộ, trại giam, chuồng ngựa, đồn binh. Năm đó, chưa có kho bạc và nhà thương nhưng người Pháp có đặt một trạm tri bệnh phong (lazaret) và một chiếc xe cứu thương, kế nhà ga Phan Thiết. Giữa khách sạn và ṭa sứ năm đó, có một khu đất trống, sau này làm vườn hoa và xây tháp nước. Cũng theo tài liệu, th́ vào năm 1736, tại thôn Long B́nh có chùa Cát, tức là chùa Phật Quang và một chùa khác ở Long Khê, đă bị phá bỏ.

 

Bên hữu ngạn vào năm 1904, chỉ có cơ sở nấu rượu của hoa thương Nhiêu Tân Hiếu ở làng Thành Đức. Ngoài ra nhà cửa của dân chúng c̣n lụp sụp, đây đó có nhiều ao hồ, lạch đầm chưa lấp. Khắp phố chỉ có một con đường duy nhứt, từ Sài G̣n ra, người Pháp gọi là Grand Rue, chạy ngang nhà thờ Lạc Đạo, trước Chùa Ông và tới bờ sông Cà Ty tại cầu Quan.

 

Buổi đó, khắp khu vực Lạc Đạo trải dài tới thôn Thành Đức, là một động cát rất lớn, trên mọc đầy cây cối. Ở đâu cũng có mồ mă, nhất là tại Lạc Đạo và trong khuông viên của nhà thờ thiên chúa giáo. Khu vực phía nam sông, ngoài là nơi nhóm chợ hằng ngày, c̣n là trung tâm sản xuất nước mắm với nhiều nhà lều cất dọc ven sông và cửa biển. Đây cũng là bến cá, ghe thuyền cập bến. Đường Trần Hưng Đạo ngày nay, nguyên thủy chỉ là một con lạch nhỏ, chảy từ sông Cà Ty vào tới gần nhà thờ Lạc Đạo, trên lạch có có bắc ba cây cầu gỗ nhỏ, để mọi người qua lại.

 

Bắt đầu năm 1916, địa giới Phan Thiết mới được phân định rơ ràng, 11 vạn chài điều chỉnh thành đơn vị hành chánh, các làng Chùa Cát, Long Khê, Long B́nh bị xóa tên. Tháng 1-1918, làng Phú Hài được tách ra, nhập vào tổng Lại An, phủ Hàm Thuận. Cũng năm này, người Pháp xây kho bạc, nhà xẹc và một nhà thương gần tỉnh thành ở Phú Tài. Tại mũi Thương Chánh có dựng lên một cây đèn biển. Đường Gia Long cũng được hoàn thành chạy ngang qua khu phố chợ sầm uất. Ngoài ra con lạch ở Đức Thắng, được bồi lắp bằng cát ở động Làng Thiền, và trở thành đại lộ Sài G̣n, tức Trần Hưng Đạo sau này.

 

Chợ cá trên sông Cà Ty

 

Năm 1924 chợ lớn Phan Thiết xây cất xong, trên địa điểm ngày nay. Tháng 12-1925, đă có hệ thống điện, đường sá cũng được quy hoạch và mở rộng để xe cộ và người đi lại. Các công sở cũng lần lượt được xây dựng. Năm 1934 lập vườn bông và đầu thập niên 40 mới xây tháp nước. Trong khoảng 1925-1927, chánh quyền bán rẻ đất cho người Âu, xây nhà cửa và cơ sở kinh doanh. Về giáo dục, chỉ mới có trường Pháp-Nam, đầu tiên ở khu vực trường Nữ ngày nay, sau dời về Đức Thắng từ tháng 5-1924. Tuy vậy ở khu vực này vẫn c̣n lưu lại một trường nữ sơ học. Tính đến năm 1930, toàn tỉnh B́nh Thuận có 10 trường công lập với 1406 học sinh, 50 trường công hương với 2682 học sinh, 9 trường đạo, 4 tư thục và nhiều lớp học tại gia. Tóm lại toàn tỉnh chỉ có 5309 học sinh tới trường, c̣n tuyệt đại trẻ em nhà nghèo đành chịu cảnh mù chữ.

 

 

Mường Giang

 

Trường tư thục Tiến Đức trên đường Trần Hưng Đạo, Phan Thiết

 

Cổng vào phi trường Phan Thiết

 

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính