Ngày 2 tháng 9 năm 1945:

Bước đầu lừa đảo của Hồ chí Minh,

gây đại họa mất nước về tay giặc Tàu hôm nay

 

Mường Giang

                                                            

 

            Từ trong 1000 nô lệ giặc phương Bắc, tối tăm ô nhục, dân tộc Việt đă gánh chịu không biết bao nhiêu điêu linh đói lạnh, đọa đày áp bức, lên rừng  kiếm ngà voi, xuống biển ṃ ngọc trai, làm tôi mọi cho bọn thái thú vơ vét mang về Tàu. Hơn bao giờ hết, VN ngày nay đang trong cơn đại họa mất nước và diệt vong như các nước Măn Châu, Tây Tạng, Hồi Cương, Miêu Tộc..v́ Hồ Chí Minh và tập đoàn lănh đạo đảng Cộng Sản VN, ngay khi cướp được chính quyền ngày 2 tháng 9 năm 1945 đến ngày nay cưỡng đoạt được cả nước,  đă lừa đảo cả dân tộc Việt qua bao thế hệ, v́ chúng chính là tay sai của Tàu nên đă bán nước cho giặc một cách công khai..kể luôn hành động chó săn bỉ ổi, là xua công an ngăn cấm, khủng bố, bách hại và hăm dọa toàn dân cả nước khi đồng bào đứng dậy biểu t́nh chống giặc Tàu xâm lược cướp chiếm lănh thổ của ta, cũng như phá vỡ ảc mộng nô lệ đồng hóa, áp bức bốc lột, dă man tàn độc của giặc Tàu, đang lăm le cùm gông xiềng xích vào cổ của dân tộc Việt như 1000 năm trước, qua bàn tay thái thú bản xứ là ngụy quyền cộng sản VN.

 

            Nhà Hậu Lư thời vua Lư Nhân Tôn, năm 1075 Đại Tướng Lư Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân sang đánh Tống tại Khâm, Liêm và Ung Châu với mục đích làm suy yếu cuộc tấn công Đại Việt của giặc Tàu. Năm 1077, để trả thù Quách Quỳ xua 30 vạn quân tấn công nước ta nhưng đă bị Lư Thường Kiệt ngăn chận tại pḥng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu). Tại đây Ông đă đọc một bài thơ tứ tuyệt có tựa đề “Nam Quốc Sơn Hà” để cổ vơ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ:

 

“Sông núi Nước Nam vua Nam ở,

Rành rành định phân tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!”

 

            Nghe được bài thơ, ba quân mới an ḷng và cố thủ, bên kia sông giặc hoang mang hết lương cuối cùng bị quân Đại Việt đánh đuổi chạy về Tàu.

 

            Theo nhận xét của các sử gia, th́ bài thơ trên với nội dung xác quyết sự tồn tại của nước Nam là một nước độc lập với chủ quyền, lănh thổ riêng biệt. Đồng thời cũng cảnh cáo giặc một cách đanh thép quyết liệt, là chúng sẽ bị đánh bại nếu có dă tâm xâm lấn Đại Việt. Tuy bài thơ chỉ có bốn câu đơn giản nhưng ư thơ lại minh bạch hùng hồn, được coi như là chân lư nền tản của Bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên của Đại Việt, từ khi nước ta được Ngô Vương Quyền giải ách nô lệ giặc Tàu vào năm 939 sau Tây Lịch (STL).

 

            Năm 1406, lấy cớ Hồ Quư Ly cướp ngôi nhà Trần, giặc Minh ồ ạt xâm lăng nước ta. Nhà Hồ bị diệt vong v́ mât ḷng dân, đất nước lại đắm ch́m trong nô lệ. Giặc Minh tàn ác dă man, bốc lột đầy đọa đồng bào. Để Hán hóa dân tộc Việt, giặc Minh phá huỷ tất cả nền văn hiến Đại Việt được xây dựng qua hai triều đại Lư Trần, tịch thu hết những sách vở của ta đem về nước, quyết tâm biến nước ta thành một quận huyện, đem văn hóa Tống Nho vào thay thế tư tưởng Việt, biến người Việt thành nô dịch của Tàu từ ấy đến nay vẫn không thay đổi.

 

            Mười năm kháng chiến chống giặc Minh, măi tới năm Đinh Mùi (1428), B́nh Định Vương Lê Lợi mới đánh đuổi giặc Tàu chạy về phương Bắc. Cũng chính vào thời điểm đó, Nguyễn Trăi thay thế quân dân Đại Việt viết “B́nh Ngô đại cáo” dài 345 câu, được các sử gia coi đó là “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Lần Thứ 2” của Đại Việt.

 

 Nguyễn Trăi viết:

 

“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

quân điếu phạt trước lo trừ bạo

nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn

vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

dối trời, lừa dân, đủ muôn ngh́n kế

gây binh kết oán, trải hai mươi năm

bại nhân nghĩa nát cả đất trời

nặng thuế khóa, sạch không đầm núi

người bị ép xuống biển, dùng lưng ṃ ngọc

ngán thay cá mập thuồng luồng

... nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng”

 

            Từ ba cuộc chống Nguyên Mông cứu nước (1254, 1285, 1287) của quân dân nhà Trần, đến mười năm kháng chiến của B́nh Đinh Vương Lê Lợi và Nghĩa Quân Lam Sơn từ năm 1406 chống giặc Minh xâm lược nước ta. Chiến thắng được kẻ thù qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trên, đều nhờ vào sức mạnh của Toàn Dân và sự Đoàn Kết của Quân Dân cả nước. Tóm lại, qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập lần thứ 2 của Đại Việt, Nguyễn Trăi ngoài việc nói lên tư tưởng nhân bản, vốn được đánh giá là đỉnh cao của xă hội VN vào thế kỷ XV, ông c̣n nói đến sự mâu thuẫn của “đại nghĩa và hung tàn”:

 

“Đem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn

Lấy Trí Nhân Để Thay Cường Bạo..”

 

            Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đ́nh (Hà Nội), Hồ Chí Minh trong vai tṛ Chủ Tịch, có đọc một bài diễn văn mà đảng gọi đó là “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” trong đó có nêu ra khẩu hiệu “Độc Lập Hay là Chết!”. Sự linh ứng của lời phát biểu trên, từ cửa miệng của một tên Đại Phản Quốc Hồ Chí Minh, ngày nay đă trở thành sự thực “VN không bao giờ có Độc Lập, nên đất nước và dân tộc chúng ta ngày nay phải Chết! Đó là một chân lư”. Ngoài ra từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 tới nay, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, đă có lần nào đoàn kết được dân tộc? hay tất cả chỉ dựa vào súng đạn, bạo lực và sự lừa dối để bắt ép mọi người tuân phục.

 

            Tại Đông Kinh ngày 16-8-1945, Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Tin trên được công bố, làm cho người Việt khắp ba kỳ hân hoan phấn khởi. Ai cũng ngỡ, thế là từ đây đất nước sẽ thoát khỏi vũng bùn ô uế của hơn 80 năm bị thực dân Pháp chà đạp đô hộ. Việt Nam sẽ ngẩng mặt nh́n trời cao đất rộng, như cha ông ta một thời ngang dọc khắp trời Đông Nam Á. Nhưng than ôi, đó chỉ là mộng mị trăng sao, v́ vận mệnh của các dân tộc nhược tiểu, thời nào cũng do bọn thực dân da trắng da vàng quyết định. Có thoát được hay không đều do sự khôn ngoan, tài trí và ḷng ái quốc của cấp lănh đạo.

 

            Ấn Độ, Miến Điện, Mă Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân lúc đó may mắn, v́ người Anh và Mỹ khôn ngoan, nên theo thời cho các nước trên độc lập. Riêng Đông Dương, dù Pháp đă bị Nhật hất chân từ tháng 3-1945 nhưng ḷng tham của thực dân không dời đổi, nhất là với De Gaulle, lúc đó đang lănh đạo chính phủ lâm thời Pháp, cộng với dă tâm của Hồ Chí Minh và cộng đảng đệ tam quốc tế muốn có chiến tranh với Pháp, để lănh đạo tranh quyền, khiến cho non sông Hồng Lạc, tưởng rằng được ḥa b́nh hạnh phúc, lại biến thành chiến trường lửa máu, huynh đệ tương tàn, rước giặc về giày mả tổ, gây hận thù suốt 30 năm, cho tới nay vẫn c̣n nguyên vẹn.

 

            Để giải giới quân Nhật tại Đông Dương, các nước thắng trận quyết định giao cho quân Anh-Ấn và Trung Hoa quốc gia, trách nhiệm hai bên làn ranh vĩ tuyến 16. VN lúc đó do Quốc trưởng Bảo Đại cầm đầu với nội các của chính phủ Trần Trọng Kim.

 

            Nhưng Bảo Đại trước sau cũng chỉ là một người tầm thường nói không ai nghe. C̣n chính phủ quốc gia lại loạn xà ngầu v́ thành viên đa số là bọn khoa bảng học ở bên Tây về, hám danh chỉ biết có tư lợi và cá nhân. Rốt cục, quyền lực quốc gia bị tan vỡ, thủ tướng Trần Trọng Kim phải từ chức, cả nước như rắn không đầu, đă tạo nên “cơ hội ngàn vàng” cho Việt Cộng, trong tay có vài ba chục khẩu súng dễ dàng cướp giựt chính quyền. Sự mai mỉa nhất của lịch sử VN cứ quanh đi quẩn lại trùng hợp, như năm 1945, trong lúc Hồ Chí Minh và bộ hạ đang bù đầu tính kế chuẩn bị “tổng khởi nghĩa” tận khu rừng già Tân Trào, Kim Lộng, th́ tại Hà Nội các đảng viên CS Nguyễn Quyết, Nguyễn Khang.. với vài ba chục súng, dao găm, mă tấu, hù ép Nguyễn Xuân Chữ giao chính quyền. T́nh trạng cướp giựt này lại lan tới Huế, Phan Thiết và Nam Kỳ.

 

            Tóm lại chỉ không đầy hai tuần lễ, lá cờ  “máu đỏ sao vàng” được sao chép từ lá cờ mẹ tại Nga-Tàu và cái tên Hồ Chí Minh lạ hoắt, mới bắt đầu được thấy nhắc trong dư luận quần chúng thời bấy giờ. Theo sử liệu, th́ đúng 2 giờ chiều ngày 2-9-1945, nhằm ngày 26 tháng 7 năm Ất Dậu, lễ kư kết đầu hàng của Nhật đă diễn ra trên soái hạm Missouri ngoài khơi Đông Kinh, th́ cũng là lúc Hồ Chí Minh lần đầu tiên xuất hiện, cùng với đám bộ hạ trên khán đài tại Hà Nội.

 

            Cũng qua câu chuyện này, báo chí VC trước đây đă đưa ra nhiều t́nh tiết quảng cáo đầy mâu thuẫn về thời gian đầu tiên Hồ có mặt tại VN. Mới đây theo báo đảng, th́ sau 30 năm bôn ba ở hải ngoại, năm 1940 lúc đó Hồ đang ở Tĩnh Tây (Trung quốc), cùng với Phạm văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Đặng Văn Cáp.. quyết định dời về hang Pắc Pó trong tỉnh Cao Bằng, ngay tại cột mốc số 108 biên giới Việt-Trung. Ngày 6-2-1941, Hồ phân công cho Đồng và Giáp ở lại Tĩnh Tâm, c̣n những người khác như Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba,Hoàng Văn Hoan, Thế Am, Đặng Văn Cáp.. từ Nậm Quang về ở trong hang Pắc Pó.

 

            Năm 1941, Hồ Chí Minh chưa đặt chân trong nội địa VN mà chỉ sống quanh quẩn tại biên giới, trong địa phận Quảng Tây (Trung quốc). Pắc Pó gồm có hai hang ngoài và trong, theo sử liệu Hồ ở hang trong, do trên ngày nay c̣n thấy h́nh và tên núi Các-Mác, suối Lê-Nin.. Pắc Pó nằm cách thị xă Cao Bằng chừng 40 km. Riêng Bộ Đội Cộng sản, được thành lập ngày 22-12-1944 tại rừng Trần Hưng Đạo, huyện Nguyên B́nh, tỉnh Cao Bằng, với tên gọi lúc đầu là “Đội tuyên truyền giải phóng quân”, vỏn vẹn chỉ có 34 người là Trần văn Kỳ (tức Hoàng Sâm-Đội trưởng), Dương Mạc Thạch (Xích Thằng-Chính trị viên), Ngô Quốc B́nh (Hoàng Văn Thái-t́nh báo), Lâm Cẩm Như (LâmKính), Lộc Văn Lùng, Hoàng Thịnh, Đàm Quốc Chủng, Đức Cường, Bế Văn Sắt, Luân Mông, Phúc Thơ, Nguyễn Văn Kiểm, Ma Văn Phiêu, Chu Văn Đế, Bế Văn Vạn, Nông Văn Bê, Hồng Cô, Nguyễn Văn Phán, Đặng Dần Quư, Hoàng Căn Nhung, Trung Đắc, Dương Đại Long, La Thanh và Ngọc Trinh. Tất cả do Vơ Nguyên Giáp chỉ huy.

 

            Khai mạc buổi lễ cướp chính quyền, Hồ Chí Minh mượn nguyên văn bản tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và bản tuyên ngôn nhân quyền của Pháp năm 1791, để làm tài liệu phát biểu, cùng với những lời dao to buá lớn, khích động nhân tâm và sau rốt là rủ nhau đi đập phá các pho tượng Paul Bert, Jean Dupuis.. tại các công viên khắp thành phố Hà Nội.. như báo trước cảnh núi xương sông máu sắp tới, trong đó hầu hết là của những người yêu nước và nạn nhân chiến cuộc. Tất cả đều làm vật lót đường để Hồ Chí Minh cùng một thiểu số bộ hạ thân tín trong đảng cộng sản, toàn thắng vinh quang.

 

            Sau khi theo chân quân Anh-Ấn vào Sài G̣n, cưỡng chiếm Nam va Trung Phần, đồng thời được Hồ Chí Minh cho nhập đất Bắc, thực dân Pháp và cộng sản “đồng diễn một màn kịch” qua cái gọi là “chin năm kháng chiến”, thực chất là không cần thiết nếu lúc đó không có sự hiện hữu của Việt Cộng. Ngày 9-12-1946, ngay khi cuộc chiến bùng nổ, tờ Le Monde của Pháp đă viết: tất cả hai phía đă châm lửa vào ḷ thuốc súng. Nếu VN là tia lửa, th́ địa ngục khổ đau là do guồng máy chính quyền Pháp lúc đó. Tóm lại trách nhiệm đều do hai phía”.

 

            Cái nh́n đó phải chăng là tiếng nấc nghẹn ngào của chúng ta hôm nay, trước những sự thật điếng hồn của lịch sử, càng lúc càng bị phanh phui ra ánh sáng. Ai cũng biết De Gaulle là tên đại thực dân của thế kỷ XX, thay v́ vừa thoát được ách nô lệ của Đức, người Pháp sẽ thức tỉnh, xét lại những quả báo vừa mang. Nhưng qua quyền lănh đạo chính phủ lâm thời nước Pháp lúc đó, De Gaulle đă vội nuôi ảo vọng tái chiếm lại cái thuộc địa giàu có béo bở nhất trong khối Liên Hiệp Pháp lúc bấy giờ.

 

            Dù không ăn nhập ǵ tới việc giải giới quân viễn chinh Nhật tại bán đảo Đông Dương, nhưng qua sự phản bội của chính phủ Anh và Thống chế Tưởng Giới Thạch, đă giúp Pháp quay về VN một cách chính thức. Để thực hiện cuộc cưỡng chiếm VN lần thứ hai (1945-1954), De Gaulle đă vội bổ ngay đô đốc Thierry d’Argenlieu làm Cao Uỷ Đông Dương, để khôi phục lại chủ quyền nước Pháp tại đây. Điều này đă gây nên nhiều sự bàn căi tại thủ đô Ba Lê, kể cả viên phụ tá của Cao Uỷ Đông Dương là tướng Leclere de Hautelocque, cũng gọi đó là một hành động điên rồ. Rồi cơ hội hiếm có giúp cho phe thực dân đạt được ư nguyện, khi t́nh h́nh nước Pháp đầy xáo trộn, phải thay đổi liên tiếp bốn lần thủ tướng như DE Gaulle, Félix Gouin, Georges Bidault và Léon Blum, đă tạo nên một khoảng trống quyền lực, để phe chủ chiến tự do tự tác mà không bị ngăn cản.

 

            Tại Hà Nội, hai đại bịp Hồ Chí Minh và Sainteny đem vận mệnh của đất nước và dân tộc VN ra chiếu bạc tranh hùng. Điều này ngày nay đă được chứng minh bằng một bức điện mật, do Sainteny viết ngày 8-12-1946, được lưu trữ trong văn khố Pháp, vừa cho giải mă. Theo đó, “Pháp để cho Hồ Chí Minh phát động lệnh tổng khởi nghỉa, có như vậy Hồ và Đảng cộng sản mới danh chánh ngôn thuận, đứng lên lănh đạo đất nước qua Mặt Trận Việt Minh. Có như vậy, thực dân Pháp mới biện minh lư do tại sao lại có chiến tranh tại VN, trong lúc cả thế giới đang cổ xuư phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Như thế, rơ ràng qua hai áp lực, quốc dân VN không c̣n sự lựa chọn nào khác hơn, lúc đó là phải đứng chung với Việt Cộng, do chúng lèo lái, để đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước của ḿnh”. Trong tác phẩm “Nền đệ tứ cộng ḥa” xuất bản năm 1959, sử gia Pháp là Jacques Fauvet, gọi chiến tranh Đông Dương 1946-1954 được đề ra do bọn lănh đạo ngu dốt, không phân minh và đầy lừa đảo. Nó có thể tránh được, nếu hai phía thực ḷng. Rốt cục đă cướp đi hằng vạn mạng sống con người và tạo cơ hội để Hồ Chí Minh đem chủ thuyết và cùm xích Mác-Lê-Mao về giày xéo đất nước và dân tộc ḿnh, tới nay vẫn không ngoi lên khỏi vũng bùn ô uế của cái gọi là thiên đàng xă nghĩa, đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong và làm nô lệ cho giặc Tàu.

 

            Nhưng có một điều dù muốn hay không muốn nh́n nhận, đó là trùm cộng sản đệ tam quốc tế, qua cái tên cuối cùng “HỒ CHÍ MINH” thật sự đă thao túng một phần lịch sử VN cận đại, trong hơn nửa thế kỷ. Đây là một nhân vật ảo, mà măi tới ngày cướp chính quyền tại Hà Nội, người ta mới thấy qua nhân dạng của một người đàn ông trạc ngũ tuần gầy g̣ bé nhỏ, phát âm trọ trẹ giọng Thanh Nghệ, mặc đại trào theo kiểu Mao Xếch Sáng, bốn túi, thế thôi.

 

            Từ năm 1983, hai sử gia VN cận đại là tiến sĩ Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đă may mắn khai quật được trong nấm mộ thời gian, tại kho lưu trữ hồ sơ mật Pháp, ba lá thư viết tay của Nguyễn Tất Thành, viết sau khi tới Pháp vào năm 1911. Tất cả viết bằng chữ Pháp, hai lá xin được nhập học E’cole Coloniale (Trường thuộc địa), lá thứ ba xin chính quyền thực dân can thiệp, hồi chức cho bố. Tất cả đều viết vào tháng 9-1911 với hộ tịch rơ ràng. Qua nội dung ta biết Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Sinh Côn, sinh năm 1892 tại Kim Liên, Nghệ An. Con ông Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy.

 

            Thư viết với tâm nguyện “Muốn được hữu dụng cho nước Pháp, để khai hóa người Việt”. Tất cả nội dung ba lá thư được công bố, đă làm sụp đổ hoàn toàn HUYỀN THOẠI xuất dương cứu nước của “BÁC” mà mấy chục năm qua, tai người Việt cả nước bị đau khổ v́ bị nhồi nhét liên tục. Xui thêm “BÁC” c̣n bị tố cáo là không phải là TRAI TRINH như đảng nói, v́ có nhiều vợ con rơi rớt khắp nơi, trong đó chính Nông Đức Mạnh cũng là con của NGƯỜI.

 

            Góp phần xác quyết lư lịch các tên Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành rồi Hồ Chí Minh cũng chỉ một người, c̣n có bức điện số 1229 do chính Hồ viết ngày 9-11-1950 gởi cho Ủy Ban Nhân Dân xă Kim Liên, phân ưu cái chết của người Anh ruột kế là Nguyễn Tất Đạt hay Nguyễn Sinh Khiêm, mất tại làng nhà vào ngày 15-10-1950. Trong thư c̣n nhắc tới bà chi cả là Nguyễn Thị Thanh, có ra Hà Nội thăm Hồ vào cuối năm 1946.

 

            Đứng trên phương diện sử quan, chúng ta hôm nay giống như người kể lại những chuyện xưa tích cũ, cho người đời sau biết, cho nên không hề thêm bớt hoặc mao tôn cương, theo kiểu viết sử của xă nghĩa thời trung cổ, chỉ biết nhắm mắt ca tụng lănh tụ, mà không sợ người đọc mỉa mai khinh ói. Huống chi trên con đường đi t́m tung tích thật của “bác hồ”, vô vàn kính yêu, sống măi trong quần, chúng ta, đă có hằng núi tài liệu sách vở, đâu ai dám thêm bớt hay tự kể chuyện NGƯỜI như Trần Dân Tiên đă làm hay ngay trong cửa miệng của Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Việt Thường, Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn.. Tóm lại cuộc đời Hồ quả thật không biết đâu mà ṃ. Đă thế c̣n dinh líu tới nhiều nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang và con cháu Nguyễn Thông ở Phan Thiết. Nhưng nay th́ tất cả lịch sử bi thảm đẫm máu của đệ tam cộng sản quốc tế, do Hồ mang từ Nga-Tàu về đàn áp và gây khổ đau cho đất nước VN, đă lộ nguyên h́nh dưới ánh sáng mặt trời, từ năm 1930-2014 và chẳng biết chừng nào mới chấm dứt và chấm dứt như thế nào khi “CSVN công khai tuyên bố theo Tàu” qua miệng Nguyễn Chí Vịnh, cho dù Đại Họa Mất Nước VN về tay giặc Tàu đang xảy ra trên quê hương Hồng Lạc.

 

            Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh từ hang Pắc Pó về Hà Nội, thực hiện Bước Đầu Lừa ĐảoBán Nước và Bán Dân Tộc Việt” cho giặc Tàu. Giấc mộng “Măi Quốc Cầu Vinh” của tên đại phản quốc tới ngày nay, coi như sắp hoàn thành trong ảo giác. Gọi là giấc mộng bởi v́ người VN bây giờ không phải là những con bù nh́n chỉ biết cúi đầu nhận “chỉ đạo” của những con vẹt, qua cái gọi “ủy ban nhân dân”. Họ cũng không c̣n sợ bị bắt bớ, tù đầy, bị thủ tiêu hay trù dập của công an, cán bộ v́ “bộ mặt bán nước” của đảng đă làm thức tỉnh ḷng yêu nước của mọi người, qua điển h́nh Hai Tháng Xuống Đường Biểu T́nh Chống Giặc Cướp Trung Cộng, tại Hà Nội, Sài G̣n và Hải Ngoại.

 

            Ngày tàn của đế quốc đỏ Trung Cộng sắp tới trước sự thù ghét khinh bỉ và xa lánh của nhân loại. Ngày chết của bọn bạo chúa, độc tài, tham ác và bán nước đang diễn ra dồn dập khắp Châu Phi, Đông Nam Á và Trung Cộng. Sau khi Libye cáo chung, kế tiếp sẽ là Sirya, Kampuchia, Ukrain, Thái Lan và CSVN. Chạy đâu cũng không khỏi nắng.

 

“Độc Lập hay là Chết!”. Đó là một Chân Lư nên toàn dân Việt trong và ngoài nước đang liều chết, chống lại kẻ Nội Thù Bán Nước là Việt Cộng, dành quyền Chống Xâm Lăng  Trung Cộng, để được Quyền Làm Người, Làm Chủ Thực Sự Đất Nước riêng của ḿnh.

 

            Vui mừng biết bao khi nh́n thấy thế hệ cha anh của chúng tôi, hôm nay đă có Thế Hệ Con Em cả nước, đứng dậy ngẩng mặt Nối Tiếp “Sự Nghiệp Cứu Nước” của Tổ Tiên ngày trước, không hổ danh là Con Lạc Cháu Hồng. Chết vinh hơn sống nhục, sống để mang tiếng là Việt Gian bán nước, th́ sống để làm ǵ?

 

 

Xóm Cồn Ha Uy Di – Tháng 2/2014

Mường Giang

 

 

 

 

Trang Chính     Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Phỏng Vấn     Văn Học Nghệ Thuật     Tham Khảo