1910 - 2010: Hậu chứng 100 năm

Nguyễn Tất Thành tới xin ăn tại trường Dục Thanh, Phan Thiết

                                                                                                  

Mường Giang

 

 

Hồ Chí Minh là con của Nguyễn Sinh Sắc, quê làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Sau khi cha mẹ qua đời, Sắc được Đồ Dương đem về nuôi và gả con là Hoàng thị Loan, sinh được ba con Nguyễn thị Thanh (1884-1954), Nguyễn Sinh Khiêm hay Tất Đạt (1888-1950) và Nguyễn Sinh Cung tức Tất Thành. Gia đ́nh nghèo khổ lại thêm đường khoa hoạn long đong, nên Sắc phải đi khắp đó đây để dạy kèm độ nhật. Do trên năm1894 vừa đậu cử nhân, ông đă xin đi làm quan ngay, với chức hành tẩu bộ lễ tại kinh đô Huế vào năm 1895. Đổ phó bảng trong kỳ thi hội năm 1901 chung với Nguyễn Thừa Hiến và Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc làm Thừa Biện bộ lễ từ 1903-1909, sau đó thăng chức tri huyện B́nh Khê, tỉnh B́nh Định từ tháng 5-1909 tới 17-9-1910, th́ bị triều đ́nh sa thải, băi chức v́ can tội đánh chết một phạm nhân trong tháng 1-1910, giữa lúc Sắc say rượu. Thay v́ bị xử phạt 100 trượng, Sắc được ân giảm hạ bốn cấp quan và sa thải. Từ đó, mộng công hầu tan vỡ, ông ta lang thang phiêu bạt vào Nam kiếm sống bằng đủ mọi nghề, từ Hàm Tân, Lộc Ninh, Sài G̣n và cuối cùng từ trần ngày 29-11-1929 tại làng Hội Ḥa An, Sa Đéc. Chính con trai là Nguyễn Tất Thành, tại New York ngày 15-12-1912 cũng đă viết thư năn nỉ với ṭa khâm sứ Pháp tại Trung Kỳ, xin ban cho cho cha ḿnh chút quan nhỏ để nuôi sống. Chứng cớ như vậy, nên chuyện “đảng” nói cha bác “Hồ” v́ có ḷng ái quốc, chống Pháp mới bị cách chức, chỉ là bịa đặt tuyên truyền, làm cho những trang sử của “đảng” cọng sản, vốn đă đen và tanh máu người v́ ḍng nào cũng có chém giết, lai càng thêm tanh tưởi hơn bởi những câu chuyện bịa xạo, không biết đâu mà ṃ.

 

Đó chính là một trong những bức xúc chết người của bộ môn khoa học và nhân vân, là đối tượng “người” mà các nhà nghiên cứu phải rờ mó, mổ xẻ khi đụng tới. Đây là một khuyết điểm lớn của bộ môn này, v́ khi làm việc, các nhà nghiên cứu cũng là một phần của đối tượng “người”, nên làm sao không ít nhiều lệch lạc trong nhận thức. Đấy cũng là nét yếu của sử học v́ thông thường, nhất là theo quan niệm của người VN xă nghĩa, th́ ai đă trải qua một thời gian trông thấy biến cố theo cuộc đời ḿnh, th́ tự cho là đă biết sử và khi nắm được quyền trong tay, th́ buộc người khác phải tin theo ư ḿnh. Những biến động của lịch sử nước nhà từ năm 1945 tới nay, đă mang tới hậu quả chưa giải quyết được, đó là t́nh trạng phân chia hai phía của hai ḍng ư thức hệ trong tâm thức VN qua nhiều đời, làm tác động đến truyền thống văn hiến của Hồng Lạc, vốn lấy tinh thần Văn Lang và hợp quần làm trọng tâm xử thế và chống giặc ngoại xâm. Cho nên sau ngày 30-4-1975 kết thúc chiến tranh, rốt cục với phe thua phe thắng nhưng thấy vậy mà không phải vậy, v́ càng lúc sự mâu thuẫn giữa hai đối cực càng chát chúa, chỉ chờ có cơ hội là chạm nổ. Tất cả cũng đều có nguyên nhân và cái sử tính mà người viết sử nhắc tới, đó là sự “hố” lớn của những người cọng sản thắng trận, lúc nào cũng tự xưng ḿnh là chính thống, chà đạp tất cả mọi người, chẳng những trong hành động, mà c̣n muốn nói ǵ th́ nói khi viết lách, đă vậy c̣n kéo theo sự phụ họa của một số người mơ mộng phù thịnh hồ đồ. Phe bại trận, tuy bị mất mát lớn lao, thậm chí phải bỏ quê hương ra xứ người lánh nạn, nhưng họ chưa mất tất cả, v́ quá khứ đă có một lănh thổ nữa nước, một chính quyền hợp pháp tồn tại suốt 20 năm, có riêng màu cờ sắc áo, t́nh tự dân tộc và trên hết là một chỗ đứng rực rỡ trong ḍng lịch sử dân tộc VN từ 1955-1975, cả đến sau khi bị bại trận và muôn đời măn kiếp, nếu VN c̣n tồn tại.

 

Rồi th́ nhân danh để bao chiếm tất cả những ǵ muốn được, vô t́nh đă làm cho người cả nước té ngửa khi sáng mắt nh́n được cái chất cướp đoạt cưỡng chiếm của “đảng”, ngay trong thời b́nh. Trong đầu đă có sẵn tính xâm lăng cầu sinh, th́ sau khi chiến thắng, từ trên xuống dưới, “đảng” ăn theo “đảng”, công an khu vực, bộ đội cán bộ, qua cái đầu óc được giáo dục, coi người miền Nam VN là tay sai bán nước, không phải là người Việt của Xă nghĩa thiên đường, th́ quyền cướp bóc, chếm đoạt, đày đoạ con người miền Nam, là hợp pháp theo chân lư, có ǵ phải sợ.

 

Riêng những tầng lớp cao của chế độ đương thời, qua cái gọi văn nhân, nghệ sỹ, sử gia, nhà khoa học xă hội chủ nghĩa, chẳng những trước nỗi đau ḷng chung của đất nước, phải tỏ thái độ ngăn cản nếu không muốn phản kháng. Nhưng than ôi thật là tệ, chúng chẳng những tán dương phụ họa cho một chế độ thực dân Hà Nội, mà c̣n dùng cái tri thức sẵn có, để tô trét phấn son cho Hồ Chí Minh và các lănh tụ, nhằm mục đích biện minh sự ăn cướp công lao và sự nghiệp của kẻ khác. Hay nói một cách huỵch toẹt, chính những người viết lịch sử cọng sản, đă nặn lên một h́nh tượng từ Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc tới Hồ Chí Min.trở nên một nhân vật lịch sử trong ḍng sử cận đại VN từ 1910-1969.

 

Tuy vua chúa có quyền sinh sát mọi người nhưng ngược lại chính sử gia, thị phi, bia miệng mới có quyền phê phán và quyết định lịch sử. Bởi vậy Durkheim đă định nghĩa rằng tất cả những đối tượng của xă hội học, chỉ là sự vật (comme des choses), cho nên những nhà viết sử chân chính xưa nay như Tư Mă Thiên, Ngô Sĩ Liên hay gần đây có Chánh Đạo, Hứa Hoành, Trần Gia Phụng, Tạ Chí Đại Trường, Phạm Phong Dinh.. khi viết sử đă vô tư xếp sắp bọn vua chúa, lănh tụ thời đại trong đo có Hồ Chí Minh tuy được cho đứng trên tượng đài ṿi vọi nhưng lô nhô bao quanh là một lũ lăn dưa đá cá, thảo khấu lèng èng, biểu tượng của tính khôi hài, cười ra nước mắt.

 

Đây cũng chỉ là chuyện thông thường trong thời đại văn minh, dân chủ. Phương chi các huyền thoại xa lắc về cọng sản, Hồ Chí Minh và cách mạng tháng chín mùa thu lá bay, cũng là những câu chuyện cổ tích hoang đường, sau khi bí mật bị lột trần tận tuyệt. Ngày nay, vấn đề c̣n lại để dọn sạch những tàn dư bịp láo, những rác rưởi trên đường, đó là nhận thức mặt thật chuyện đời, không phải của riêng người viết sử, mà là chung cho hết mọi người. Phải nhổ tận gốc, những h́nh tượng cọng sản, cứ tưởng ḿnh là thành phần siêu việt, bách chiến bách thắng, ưu tú của cái gọi là chủ nghĩa Mácxít, nay đă lố bịch lỗi thời, chẳng những đối với dân tộc VN mà c̣n khắp thế giới văn minh tiến bộ.

 

Bây giờ là lúc măn cuộc, hạ màn trên sân khấu, để cho những người cọng sản đệ tam quốc tế rửa sạch lớp phân son ḷe loẹt, thay áo đổi quần b́nh thường, để không c̣n là những h́nh cây buổi trước, cứ dùng quyền hành lượm được trong những chiếu bạc may mắn, rồi cứ hoang tưởng khinh miệt xương máu của đồng đội, đồng bào và kẻ thù của ḿnh. Rốt cục nh́n lại chẳng c̣n giống một ai, qua cái bộ mặt phi nhân, giữa một thiên đàng tồi tệ, ô uế mà cứ cố nghĩ đó là sự nhân bản chính danh. Hơn ai hết, chúng ta phải nghĩ một điều xác thực là cọng sản dù đang là kẻ thắng trận, th́ cũng là con người VN như bao triệu người VN khác, cho nên cũng có tốt xấu hư được.

 

Hồ Chí Minh cũng vậy, không thể loại trừ hay ưu tiên nâng bốc, v́ Hồ cũng là người như bao nhiêu người trần gian kim cổ. Do trên chúng ta hôm nay, trước nổi đời trăm miệng, phải thẳng thắn xác nhận sự sai đúng bằng vô tư, khi vẽ lại ḍng lịch sử VN cận đại. Chiến thắng liên tiếp từ năm 1945 tới nay, dù là công lao của người khác nhưng đă làm cho “đảng” mang nặng cái ư thức tự tôn, một thứ Narcicism huênh hoang kỳ cục, ăn sâu trong phế thận người cọng sản. Cho nên nay cứ nói đổi mới, nhưng thật sự cái tư tưởng lỗi thời trên chẵng hề thay đổi. Nó vẫn sống với “đảng” qua báo chí, sách vở, tuyên truyền, lăng Hồ, bảo tàng và trăm thứ, trong đó vô duyên nhất là cái di tích lăng nhách “trường Dục Thanh-Phan Thiết”, nơi anh thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học, trước khi xuất dương t́m đường cứu nước. Tóm lại, tất cả được bày biện hiện diện để khỏa lấp những xấu xa của chế độ bị bịt kín nhiều năm, nay bỗng dưng x́ hơi xẹp lép như tờ giấy vụn, bay lăn lóc lả tả bên đường.

 

Cái khinh tởm ghê gớm nhất hiện nay, là cọng sản đă hoàn toàn đem chủ nghĩa Mao Trạch Đông vào đồng hóa dân tộc Việt. Những bắt chước gần như sao chép nguyên vẹn thói hư tật xấu các thời đại vua chúa Tàu, trong cung cách suy tôn Hồ Chí Minh, đă nói lên cái ư nghĩa độc tài phong kiến, cái chiêu bài trước đó, được dùng để khích động ḷng người. Cho nên đâu có ai lạ ǵ về yêu nước là yêu xă nghĩa, yêu đông phương hồng, môi lỡ răng lạnh. Quá khứ xa, quá khứ gần, khiến chúng ta càng mù mịt khi đi t́m tung tích của những trang sử cũ, vừa bị hoang tàn qua cuộc chiến, lại thêm nhức mắt khi ngó tới những ngụy tạo què quặt thảm thê, đến mức độ cứ tưởng là ta đang ở trên trời rớt xuống.

 

Nếu sông Đuống chảy nghiêng, đưa Hoàng Cầm vào văn học sử, qua tâm sự của một người lính trẻ, ôm súng đợi giặc mà ḷng vẫn nhớ tới người con gái “môi đỏ huyết trầu” bên kia vùng giặc đóng:

 

“Đêm giao thừa đứng gác

rền rĩ tiếng côn trùng

tuởng chừng nghe vợ hát

lời êm ru như bông.”

 

hay nhớ tới Đổ Nhuận về ḍng sông Thao, giống như Văn Cao trên Lô Giang đốt tàu giặc. Sông làm ngựi nổi tiếng nhưng người cũng tạo cho sông bất tử với thời gian. Sông Mường Mán tại Phan Thiết, không giống như Hương Giang đă đem tự hào đến cho kinh thành Huế, làm cho thiên hạ phải tốn nhiều giấy mực. Trên sông Mường cũng không có những con đ̣ hát dạo, được đóng theo kiểu ngự thuyền thon dài, mũi cong, mui tṛn, với năm mănh ván mỏng manh lắp ghép. Sông Mường quê tôi c̣n được gọi qua cái thân thương là Cà Ty, để chỉ khúc sông chảy qua thành phố, từ Mă Lở, Làng Thiềng, Cồn Cỏ, Cồn Chà ra tới cửa Thương Chánh. Sông nhỏ và ngắn, không có diễm phúc chuyên chở những tiếng chuông chùa sớm tối v́ ḍng sông chỉ lẩn khuất giữa núi rừng, đồng ruộng, nương dâu và những xóm nhà chồ ven sông, bây giờ nghe nói đă không c̣n thấy nữa.

 

Là thế đó, chính những con người thuở 300 về trước, từ muôn phương kéo về đây, đă chắp cánh, tạo nên hương sắc đôi bờ sông Mương bay xa. Có thể nói những dấu ấn lịch sử của một thời như Vân Thánh, Thắng Kiều, Cầu Quan, Lầu Nước kể cả cái cồn cát nhỏ mọc đầy cỏ dại, nằm giữa con sông hai bờ Phú Tài-Đức Nghĩa, được dùng để gọi cả một thôn xóm, nằm trên bến Trưng Nhị, là xóm Cồn Cỏ. Lại nhắc đến những con người làm nên sự nghiệp tại B́nh Thuận như Phan Trung, Ung Chiếm, Cao Hành, Bùi Đảng, Tống Hưng Nho, Nguyễn Đăng Giai và nhất là Nguyễn Thông, tuy không chôn nhau cắt rún tại Phan Thành, nhưng từ năm 1867 tới ngày qua đời, ngoại trừ những lúc phải bôn ba v́ công vụ, hầu như đời ông đă gắn liền mật thiết với quê hương miền biển mặn.

 

Ngọa Du Sào là nơi nhà thơ Nguyễn Thông đă sống trong phần đời c̣n lại, với nhiều di tích và kỷ vật lưu niệm của một đấng anh hùng. Nằm cạnh bờ sông, sáng chiều buông thả tâm hồn lăng du theo con nước ṛng, nước lớn, đă giúp ông phần nào vơi bớt nỗi muộn phiền trước cảnh quốc phá gia vong. Thơ của Nguyễn Thông phần lớn là loại thơ chiến đấu, ái quốc nhưng không phải v́ vậy mà tâm hồn thi nhân băng lạnh. Bằng chứng qua cái tên Ngọa Du Sào, đă nói lên nỗi bức xúc của một tâm hồn u uất. Người thơ bên sông ngóng đ̣, đứng buồn trong cảnh trăng lặn, xa đưa tiếng quạ kêu sương, có khác ǵ cảnh đời giữa cơn ly hận. Trên sông ngược xuôi le lói bóng lửa thuyền chài, tiếng chèo khua nước, chỉ đủ làm rụng những cánh hoa phượng đă chín.

 

“êm đềm một giải nước mây

quan hà man mác, khuây khuây nổi ḷng

chiếc buồm thuận gió thẳng dong

giọt sương gieo nặng, cánh hồng thướt tha

rừng thâu tiếng khách thoảng qua

bến xa văng vẳng khúc ca bạn chài

đêm nay ta thấy như vầy

ngày mai rồi nữa chẳng hay thế nào?

(Hải Thương Lăn Ông)

 

Tất cả chỉ c̣n là một câu hỏi, như tiếng gọi đ̣ bên sông trong đêm vắng. Người xưa đâu có ngờ được một trăm năm sau, cũng ở nơi này, hồn là hồn Nguyễn Thông, c̣n cỏ cây tượng đá và cơ nghiệp của một ḍng họ, lai mang tên tuổi của một kẻ bán nước hại đời. B́nh Thuận là đất cổ kính dù chỉ mới hoà nhập vào Mẹ VN chừng ba thế kỷ. Người Phan Thiết trong tỉnh nói riêng rất chí t́nh, trọng nghĩa, luôn mở rộng ṿng tay ôm ấp muôn người. Cho nên không lạ ǵ, khi nhà thơ Hàn Mạc Từ và người đẹp Mộng Cầm, từ một cơi nào tới Lầu Ông Hoàng ḥ hẹn thi văn, rồi sau đó chốn xưa bị chiến tranh tiêu hủy chỉ c̣n lại một đống gạch hoang tàn, thế nhưng có ai quên đâu, tới nay vẫn c̣n nhắc nhở.

 

Người Chàm vong quốc hằng mấy trăm năm, nhưng những đền tháp, kút làng vẫn c̣n đó, không ai động tới. Như vậy, tại sao từ trăm năm trước, nói rằng nơi đất Phan Thành, đă có một ngôi trựng danh tiếng vang vọng ba miền, cỡ Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội và Trí Đức học xá của Đông Hồ Lâm Tấn Phát tại Hà Tiên. Đó là trường Dục Thanh, lại không được nhắc tới một ḍng nào trong văn học sử hay cửa miệng của người Phan Thiết, trước ngày 30-4-1975, kể cả những gia đ́nh bao đời sống tại Cồn Cỏ, đối mặt với Ngọa Du Sào, trên bến Trưng Nhị.

 

Sau này có một vài người giải thích, v́ rằng trường bị Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh ghé dạy và báo chí cọng sản thời đó, cứ đem các ông chủ Liên Thành ra làm bung xung nhân chứng, để bảo đảm lư lịch thượng đẳng của họ Hồ trong lịch sử “đảng”. V́ vậy chính phủ VNCH v́ mục tiêu chính trị, đă cho trường Dục Thanh ch́m xuồng. Lời biện minh đó, nếu trước đây khi bí mật của Hồ chưa bị khai quật hay Hồ Tá Khanh không xác nhận, th́ chúng ta c̣n có thể tin phần nào nhưng hôm nay, th́ chắc khó chấp nhận.

 

Tuy nhiên việc Phan Thiết đầu thập niên của thế kỷ XX, có mở một trường tư nho nhỏ, cỡ trường sơ cấp bây giờ, để dạy vỡ ḷng chữ quốc ngữ cho một số con em những nhà giàu mới, phần lớn là chủ vựa cá, chủ ghe bầu hay nhà sản xuất nước mắm, những con cháu của lớp lưu dân Đại Việt từ miệt ngoài tới B́nh Thuận lập nghiệp và nhờ trúng cá ṃi cá nục, nên phát và muốn đổi mới cho lớp con cháu ḿnh, là chuyện có thật. Nhưng về việc xác nhận, trường có mở mà ai đă đến học, như tài liệu của “đảng” sau năm 1975, là rằng học tṛ anh Thành, có tận Đồng Tháp, Sa Đéc tới học. Như vậy hồi đó chắc họ đi bằng hia bảy dặm, trong khi măi tới năm 1945, sự giao thông giữa Phan Thiết-Phan Rí-Mũi Né, vẫn c̣n là một vấn đề, nói chi tới chuyện ra vào trong tỉnh.

 

Cũng liên quan tới sự học, theo tài liệu c̣n lưu trữ th́ những người cùng đứng ra mở trường Dục Thanh, gồm có Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quư Anh, Trần Lê Chất, Huỳnh văn Đẩu. Như vậy, trong tư cách là một nhân chứng hay đúng hơn là đồng chủ nhân khai lập trường, tai sao Hồ Tá Bang (1875-1943), viết bài phú “Tế Thu Tiền Lỗ Vận” có chua tiếng Pháp là “Lettré à la Résidence Phan Thiết” dù không có ghi ngày tháng, với nội dung chán nản về cái học nơi bản địa, sau khi có trường Dục Thanh;

 

Hỡi ơi! quan muốn để dài, chuỗi c̣n cột thắt

 

Sống cũng trêu ngươi, chết đi khuất mắt

 

Lắm lúc rũ quyên tập học, nói hao hơi chẳng lọt vào tai; nhiều khi mời hiệp cổ khai thương, t́m khắp chốn không hề thấy mặt.

 

Nhớ linh nay;

 

Ngoài ngó phong lưu; trong thời lau sắc

 

Nghe cháu gởi mấy kỳ tân báo, lỗ miệng lầm bầm, thấy con mua ít bộ tân thư, cái đầu lúc lắc.

 

Miễn cho đặng cửa cao rào kín, đậu đôi chum, mè ít hủ, kẻ buôn người học trối thây, miễn cho đặng bạc chục tiền trăm, ḅ mười cặp, trâu dăm con, cháu dại con khờ cũng mặc.

 

Thương thay! người mà đến thế th́ thôi, ta dẫu nín đi cũng mặc

 

Gặp lúc hồn quốc xiêu lạc, đáng lẽ phải một người kêu, trăm người ứng, tay kia bưng máu nóng rưới vào; đường khí ví vừa khai, có đâu lại lên nhà dưới xuống nhà trên, ḷng nọ tợ tro than lạnh ngắt.

 

Cũng tưởng nhiều tay vổ nên bập, lo mà xây so nóng thành vàng; ngờ đâu ăn mắm lại mút ḍi, chỉ biết nương chuông tủ sắt.

 

Sao không nghĩ cơ nghiệp đó, giàu út ăn khó út chịu, lẽ nào từ gánh nặng đường xa, sao không nghĩ nước non ta sống gởi nạc, thác gởi xương, đi đâu khỏi ngọn rau tấc đất.

 

Ôi thôi thôi! ṇi giống dẫu không c̣n, của tiền nào giữ được.

 

Sách có câu “kiến nghĩa bất vi vô dơng” đó đừng để cám treo heo nhịn đói, xin đưa ra một ít gọi là, luật có chữ tri gian bất tố dữ đồng, đây sợ e mũi dại, lái chịu non, nên phải tỏ đôi lời dè đặt.

 

Ô tô! ai tai! thượng kỳ lai thực.

           

Trường Dục Thanh nổi tiếng, lại nằm ngay trong trung tâm thị xă, vậy mà sau đó không thấy một ai lên tiếng trước tháng 4-1975, để ca tụng, giải thích, thanh minh, đính chính, dù lúc đó tại Phan Thiết-Phan Rí-Sài G̣n, có rất nhiều người liên hệ. Hay là định mệnh? Nay th́ cũng gần một trăm năm trôi qua, chỉ có “đảng” kể chuyện ngôi trường mà như đang nghe chuyện cổ tích. Tất cả chỉ c̣n lại trên trang giấy, từ những người bỏ tiền, bỏ công, thầy giáo học tṛ. Rốt cục chỉ có tướng cướp Nguyễn Tất Thành làm cây đa cổ thụ, tượng đá vô hồn, đứng sáng chiều giỡn mặt với sông nước Mường Mán, thay “đảng” nghe miệng người bừng bừng nguyền rủa.

 

Những biến cố trong và ngoài nước vào đầu thế kỷ XX, đă thúc giục các nhà cách mạng VN, ư thức được đường lối đấu tranh chống lại thực dân Pháp, giải phóng dân tộc bằng con đường Duy Tân. Ư chí đó đă được thể hiện qua c/c phong trào cải cách rầm rộ tại Quảng Nam và trường Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội vào đầu thập niên thế kỷ. Lúc đó, có hai phong trào yêu nước cùng xuất hiện, đó là Đông Du và Duy Tân, do hai lănh tụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh cầm đầu. Theo Tự Phán của PBC, th́ trên lư thuyết, cả hai phong trào tuy đồng ư nhau về một vài điểm nhưng thực chất hành động th́ gần như khác biệt. Thoát thai từ những hoạt động cải cách theo đường hướng của phong trào Duy Tân từ năm 1904 tại Quảng Nam, lan rộng tới Hà Nội, nở rộ trường Đông Kinh nghĩa thục, do các nhân sĩ trí thức Bắc Phần thời đó lănh đạo như Lương văn Can, Nguyễn Quyền vào năm 1907.

 

Năm 1905, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quư Cáp lần đầu tiên vào Nam, để thăm dọ dân t́nh. Theo kể lại, th́ khi tới B́nh Định gặp lúc đang có cuộc thi khảo hạch, cả ba qua bút danh “Đào Mộng Giác” vào ứng thí. Phan Chu Trinh đă làm bài thơ đường luật “Chí thành thông thái”, c̣n Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quư Cáp làm chung bài “Lương ngọc danh sơn”, đại ư móc ḷ cái thái độ “vào luồn ra cúi”, cam chịu sống kiếp nô lệ của bọn quan lại Nam Triều, quen thói hống hách thượng đội hạ đạp, bóc lột dân đen. Đồng thời bài xích luôn lối thi cử hủ lậu, chỉ tạo nên cái đám sâu dân mọt nước mà thôi. Cũng qua cái sự kiện lừng lẫy của các nhà cách mạng trên, Tôn Quang Phiệt trên báo “đảng”, cũng phịa ra câu chuyện “bác” trên đường vào Nam cứu nước, tới Qui Nhơn, nhân gặp kỳ thi tổng sự, vào thi và đổ đầu nhưng sau đó viên Công Sứ B́nh Định là Fires biết “bác” nên gạch tên trong danh sách trúng tuyển.

 

Rời Quy Nhơn, trên đường vào Nam, ghé Phan Rí thăm Trương Gia Mô, trước khi tới Phan Thiết. Sau đó, hai ông Kháng và Cáp theo ghe bầu chở hàng trở ra Trung, c̣n Phan Chu Trinh v́ bệnh nên phải ở lại nhà Hồ Tá Bang. Nhân đó, mới cùng các nhân sĩ địa phương bàn chuyện phát động phong trào Duy Tân, cải cách theo cuộc sống mới, hớt tóc ngắn, mặc Âu phục, học chữ Quốc Ngữ và mở mang thương hiệu, tiệm buôn, để tự ḿnh làm chủ. Do trên, tại Phan Thiết ra đời Liên Thành thi xă do Nguyễn Hiệt Chi đảm trách vào tháng 5-1906. Thi xă ngoài việc xướng họa trao đổi thi văn, c̣n phổ biến các tân thư đương thời của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Trung Hoa), J.J Rousseau, Montesquieu (Pháp). Ngày 6-6-1906, công ty Liên Thành, một cơ sở kinh doanh đầu tiên của người Việt tại B́nh Thuận, chính thức mở cửa.

 

Sau khi VC cưỡng chiếm được toàn thể VNCH, đă tịch thu toàn bộ công ty Liên Thành, qua mỹ từ “hiến tặng” cho nhà nước. Đồng thời “đảng” c̣n chơi xỏ, khi cột chặt tên tuổi những nhân vật một thời trong công ty này với anh thanh niên Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh, như một bảo đảm vàng ṛng, trước một nhân vật lịch sử, bắt đầu sự nghiệp “bán nước” tại trường Dục Thanh và công ty Liên Thành, Phan Thiết.

 

Về vị trí của trường Dục Thanh, th́ không có một tài liệu nào xác nhận, kể cả công ty Liên Thành hay là báo Đảng. Chỉ thấy nói là trường được khai trương năm 1907 tại nhà của người con trai lớn Nguyễn Thông là Nguyễn Trọng Lợi cho mượn. Nhưng nhà của Nguyễn Thông lúc đó rất bề thế, rộng lớn với nhiều lớp nhà ngang dăy dọc. Ngoại trừ hai chốn tôn nghiêm là từ đường họ Nguyễn và Ngọa Du Sào, là căn gác mà thuở sinh tiền Nguyễn Thông sinh sống, trong đó có đủ bàn, ghế, tủ, phản, liễn đối, án thư, bộ chén sứ uống trà, giá để sách, tráp đựng văn thư, nghiên mài mực... được coi như những bảo vật trân quư, không ai được đụng tới, vậy mà báo “đảng” nói, khi anh Thành được mời tới dạy học, đă xử dụng những thứ này?

 

Theo giáo sư NMĐ cháu bốn đời ḍng họ Nguyễn, th́ trước năm 1945 phía sau vườn, nay là dăy nhà trên đường Đội Cung có nhiều nhà gạch, nhưng đă bi chiến tranh tàn phá, c̣n Trần Duy Chánh cho biết, trước khi vào Sài G̣n năm 1945 gia đ́nh ông v́ bà con với bác sỹ Nguyễn Quư Phầu, nên được ở một trong những nhà gạch phía sau, mà người trong nhà nói là lớp học của Trường Dục Thanh. Riêng Trần Huỳnh Châu cho biết mỗi lần tới nhà của Nguyễn Thông chơi, thường ra phía vườn sau để được ngồi trên một chiếc xe rương lớn đă rỉ sét, nằm lăng lóc sát bờ tường, mà người trong nhà bảo đó là giường ngủ của Nguyễn Tất Thành, trong thời gian tới đây dạy học. Như vậy qua các nhân chứng, ta có thể biết rằng trường Dục Thanh ngày trước tọa lạc trong khuôn viên tư thất của Nguyễn Thông, nay không c̣n nữa v́ lư do bom đạn, và khu đất đó cũng bị gia đ́nh họ Nguyễn bán cho người khác.

 

Tóm lại Nguyễn Trọng Lội, có cho mượn nhà làm trường, Huỳnh văn Đẩu tặng 10 mẫu đất hạng nhất đẳng điền, để thu hoa lợi làm chi phí nhà trường. Ngoài quốc ngữ, chương tŕnh lúc đó c̣n có dạy chữ Pháp và Hán, với các môn khoa học, địa lư, cách trí, vệ sinh, toán, việt văn và thể dục. Các ông Trương Gia Mô, Hồ Tá Bang, Nguyễn Quư Anh, Trần Lê Chất.. phụ trách việc giảng huấn. Sau năm 1975, một vài người như Nguyễn Đăng Lầu (1897-1978).. xác nhận Nguyễn Tất Thành nhờ Trương Gia Mô, bạn của Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc.. giới thiệu vào dạy trường Dục Thanh, từ năm 1910 nhưng đă dạy lóp mấy, môn ǵ, bao lâu th́ không có một tài liệu nào xác nhận nổi.

 

C̣n Huy Sô trong bài “thầy giáo tôi”, th́ cho biết có 6 giáo viên dạy lúc đó là các thầy Cung, Hải, Anh và Nguyễn Tất Thành, dạy lớp ba, nh́, thỉnh thoảng dạy thêm lớp tư và lớp nhất và dạy Hán, Pháp cùng tất cà các môn học kể cả môn thể dục. Tóm lại cũng theo sách báo “đảng”, th́ thầy Thành c̣n kiêm luôn việc hướng dẫn, những buổi sinh hoạt ngoài trời với học sinh tại Thương Chánh, đ́nh làng Thiềng Đức.. từ đó gieo vào tâm trí học sinh tư tưởng yêu nước.

 

Cuối cùng định mệnh bắt người Phan Thiết-B́nh Thuận, qua sự cưu mang một tên lăng tử, để rồi bị cột vào một cách lăng nhách, trong cái sách lược vẽ vời của “đảng”, về những bước chân của Hồ, để tăng bổ cho một h́nh tượng Hồ Chí Minh, siêu phàm vĩ đại trong ḍng lịch sử dân tộc. Cho nên, tất cả đều được chuẩn bị một cách khuôn phép, từ lúc “bác” c̣n để chỏm ở Làng Sen, đă biết đối thơ với các bậc nho học tiền bối, rồi là liên lạc viên của “đảng” Cần Vương, cưu học sinh Quốc Học Huế bị đuổi v́ tham gia phong trào chống thuế tại miền Trung năm 1908, giáo viên truờng Dục Thanh Phan Thiết,.kể cả cái mốt đồng chí với Trương Gia Mô, Phan Chu Trinh, Hồ Tá Bang.. trước khi làm cậu bồi Ba xuất dương cứu nước. Với những lá chắn an toàn như vậy, không trách ǵ đă có một số người đem hiện tượng biến thành mặt thật, về câu chuyện anh thanh niên Nguyễn Tất Thành dạy học tại Phan Thiết, rao bán tới tận hải ngoại, làm nhiều người điếc đui tưởng thật nên hănh diện mừng.

 

Trước hết cứ tạm nhận những điều ở trên là thật, vậy th́ cớ ǵ một ông giáo dạy học, rồi v́ trở thành lănh tụ, nên phải cướp giựt nhà cửa đất đai của dân chúng, để làm nhà lưu niệm, viện bảo tàng cho Hồ. Hành động ngang ngược cướp bóc trắng trợn này, quả thật suốt ḍng lịch sử, duy nhất chỉ có “đảng” Việt Cộng mới làm. Ba trăm năm qua, tại B́nh Thuận-Phan Thiết, đă không đếm được những anh hùng, liệt nữ, đại quan, công nhân viên, cán bộ, giáo chức, binh sĩ và ngay cả dân chúng địa phương, đă hiến ḿnh cho quê hương B́nh Thuận. Những đại danh như Nguyễn Thông, Ung Chiếm, Bùi Hàng, Cao Hành, Nguyễn Đăng Giai, Tống Hưng Nho kể cả Nguyễn Hữu Cảnh, Ngô Đ́nh Diệm, Lưu Bá Châm, Vũ Anh Khanh, Lê Tá, Nguyễn Văn Cung, Đặng Vũ Tiển.. công trạng và đức độ của họ to lớn đến mức nào, vậy mà người địa phương cũng chỉ ghi nhớ trong tâm trí và sự thành kính mà thôi.

 

 Cuối cùng thử hỏi, thực chất Nguyễn Tất Thành cùng những người cọng sản đă làm ǵ cho quê hương miền biển mặn, từ năm 1910-2010?. Ông Ngô Đ́nh Diệm, trước khi trở thành Thủ Tướng rồi Tổng Thống Đệ Nhất VNCH (1955-1963), đă từng là Tri Huyện Ḥa Đa và Tuần Vũ B́nh Thuận. Thế nhưng Ông đă không bắt buộc chính quyền địa phương làm ǵ cho ông cả, ngoài sự ông chỉ tới Phan Thiết lúc c̣n sinh tiền, vào dịp lễ Giáng Sinh hoặc Tết Nguyên Đán khi có dịp, để viếng mộ người bạn thân là Hoàng Tỷ. nằm ở ngă ba Nguyễn Hoàng, Trần Hưng Đạo, kế nhà máy xây lúa, gần cầu Sở Muối.

 

Hăy nghe Bạch Vân, một nhân chứng tại PhanThiết có nhà kế trường Dục Thanh, kể lại những bi hài có liên quan tới chuyện dài ngôi trường trên. Theo tác giả, th́ năm 1980, t́nh h́nh hữu nghị Việt-Trung đă xuống dốc, “đảng” sợ những di tích của “bác” tại Hà Nội và miền bắc bị tên bá quyền nước lớn phá hủy. Do trên, Phan Thiết lúc đó đang xơ xác qua những trận đ̣n đánh tư bản mại sản, nưóc mắm, kinh tế mới th́ được chính phủ trung ương, ưu ái quyết đinh cần phải chỉnh trang gấp, để duy tŕ kỷ niệm của “bác”.

 

Thế là VC địa phương lấy Ngọa Du Sào của Nguyễn Thông, gọi là nơi “bác” đă dạy học và trọ ở đây. Báo hại gia chủ và những căn nhà lân cận, phải hoan hỉ kư tặng dâng “đảng” tất cả nhà cửa, sản nghiệp bao đời do mồ hôi máu thịt làm ra, để có một khu đất rộng lớn. Công tác xây cất thật quy mô, nào tường hào, cổng tam quan, nhà ngang nhà dọc, cây kiểng, giếng nước, bàn ghế học tṛ... mọi thứ đều tân tạo theo trí tưởng tượng đă được đúc khuôn từ trung ương đảng. Phía bên ngoàợi, một số nhà lại bị đuổi thêm để làm đường, công viên, nhà bảo tàng lịch sử rất qui mô vĩ đại. Trong khuôn viên cái được chỉ định là trường Dục Thanh, nhiều cây ăn quả như xoài, mận, sa-bo-chê được trồng khẩn với các ṿi nước tưới suốt đêm ngày, nên chóng lớn, ai không biết cứ tưởng cây đă có từ lâu đời. Khu di tích xây dựng thật lâu nhưng chưa hoàn thành, chắc c̣n cần nhiều đồ trang trí bên trong. Do trên các cán bộ đi hỏi những người quanh vùng, và đều được trả lời là “không nhớ ǵ hết, kể cả ông nội tui sống lại”. Mặc cho dân chúng tẩy chay ra mặt, “đảng” vẫn ĺ lợm bịa đủ mọi cách, trong đó có các tấm h́nh cảnh Phan Thiết với ghi chú “băi biển Thương Chánh, nơi “bác” dẫn học tṛ đi dạo mỗi chiều”; “ngọn đồi này là nơi “bác” cùng học tṛ ngắm cảnh và ngâm thơ yêu nước”; Trường Dục Thanh nơi “bác” giảng dạy tinh thần yêu nước; cây trái chính tay “bác”trồng. Thậm chí c̣n có h́nh chụp giếng nước và cái gầu múc nước mới toanh với ghi chú “bác” dùng chiếc gầu này để tưới cây. Những người Phan Thiết xem h́nh chào thua và gia đ́nh con cháu Nguyễn Thông nay trở về, chắc cũng biết đâu mà ṃ. Vậy mà vẫn có những cháu ngoan của “bác” từ miền bắc vào tham quan, đă cầm gầu khóc sụt sùi bên những gốc cây ăn trái “mới toanh”.

 

Trước tháng 4-1975, cứ mỗi lần tới ngày “vinh danh nhà giáo”, đồng bào B́nh Thuận từ Tuy Phong vào tới Thiện Giáo, Hải Long, Hàm Thuận.. lại lăn ra chết tức tưởi v́ bộ đội của “bác” được lệnh lập công dâng “đảng”. Hởi ôi “bác” chỉ v́ đói nên ghé Phan Thiết kiếm cơm vài ba tháng nhưng đă để lại hậu chứng chết người cho người dân bản địa suót trăm năm qua. Vậy mà tới giờ “đảng” vẫn chưa chịu buông tha cho mọi người.. tuy rằng mấy chục năm qua đă vơ vét tận tuyệt những ǵ có tại đây… kể cả những băi tha ma cũng không chừa.

 

 

Viết từ Xóm Cồn Hạ uy Di

Cuối tháng 3-2010

Mường Giang

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính