Ngày 2 tháng 9 năm 1945, khởi đầu “Đại Họa Mất Nước” hôm nay, do Hồ Chí Minh và Việt cộng gây ra

 

Mường Giang

 

 

          Cả tháng nay, người Việt trong và ngoài nước đều vô cùng phẫn nộ, khi biết tin, Hà Nội đă cố t́nh bưng bít hành động xâm lăng trắng trợn của giặc Tàu, qua cuộc diễn tập quân sự kéo dài từ ngày 1/8 tới 23/8/2017 mới chấm dứt. Lần này giặc Tàu tập trận, đổ bộ bằng đạn thật ngay bên trong lănh hải của VN, bắt đầu từ cửa vịnh Bắc Việt trong tỉnh Hải Ninh phía đông-bắc (biên giới Hoa-Việt), vào tới ngoài khơi Đà Nẵng, chỉ cách bờ chừng 70 km., trong một vùng rộng lớn, gần như bao trùm gần hết biển Đông của nước ta.

 

          Sau đó, v́ bị các phóng viên ngoại quốc hạch hỏi cũng như hằng loạt các hăng thông tấn Âu-Mỹ loan tin cuộc tập trận trên, bộ ngoại giao VC mới miễn cưỡng lên tiếng “phản đối cuội” c̣n phát ngôn nhân đài VC th́ “lắp bắp” thông tin cuội cuộc tập trận “của giặc Tàu”, khi chúng đă kết thúc từ khuya.

 

          Đây không phải là lần đầu tiên, người Việt “đau đớn và xấu hổ” về cái hèn và dối trá của bọn chóp bu, đang cai trị VN bằng bạo ngưọc và súng đạn. Hành động xâm lăng lănh hải VN của bọn cướp biển tàu ô Trung cộng, lần nữa “xác quyết” cộng sản VN qua tập đoàn Nguyễn Phú Trọng, đă đem “chủ quyền Đất Nước và Sinh Mệnh Dân Tộc” bán đứt cho Tàu. Những cuộc thanh trừng đẳm máu giữa phe nhóm Trong, Quang, Hùng, Ngân với Nguyễn Tấn Dũng trước kia hay hiện tại giữa Trọng, Quang, Huynh, Thăng… thực chất không phải là giữa hai phe “thân Tàu hay Mỹ”, mà là một cuộc  “đấu đá nội bộ”, để giành cái ghế “thái thú” tỉnh VN vào năm 2020 như mật ước “Thành Đô” đă kư kết của những tên Linh, Đồng, Mười với Giang Trạch Dân và Lư Bằng vào năm 1990.

 

          Câu chuyện có liên quan tới non nước Việt, bỗng dưng không ngăn được cảm xúc và hăi sợ về vận mệnh của dân tộc sẽ hứng chịu trong gông cùm  của một thời kỳ bắc thuộc sắp tới, khiến chúng ta làm sao quên đưọc “nỗi đau nô lệ” của tổ tiên ḿnh ngày trước?  qua 1000 năm nô lệ giặc phương Bắc, tối tăm ô nhục. Dân tộc Việt đă gánh chịu không biết bao nhiêu điêu linh đói lạnh, đọa đày áp bức của giặc Tàu. Ngày ngày phải vào rừng cao  kiếm ngà voi, xuống biển sâu ṃ ngọc trai, làm tôi mọi cho bọn thái thú vơ vét mang về Tàu.

 

          Hơn bao giờ hết, viễn ảnh VN ngày nay đang trong cơn “đại họa mất nước và diệt vong”  như các nước Măn Châu, Tây Tạng, Hồi Cương, Miêu Tộc..v́ Hồ Chí Minh và tập đoàn lănh đạo đảng Cộng Sản VN, ngay khi vừa “cướp được chính quyền” trong tay người dân Việt ngày 2 tháng 9 năm 1945, th́ đă nghĩ ngay đến việc “bán” chủ quyền quốc gia cho ngoại bang để mưu cầu lợi ích cho cá nhân và đảng. Hành động măi quốc cầu vinh đó, từ Hồ ngày trước hay Trọng ngày nay vẫn không thay đổi, vẫm làm tay sai bán nước cho Nga-Tàu.

 

            Vào thời vua Lư Nhân Tôn nhà Hậu Lư, năm 1075 Đại Tướng Lư Thường Kiệt và Tôn Đản, đem quân sang đánh Tống tại Khâm, Liêm và Ung Châu (Quản Đông, Quảng Tây). Năm 1077, để trả thù Quách Quỳ xua 30 vạn quân tấn công nước ta nhưng đă bị Lư Thường Kiệt ngăn chận tại pḥng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu). Tại đây Ông đă đọc một bài thơ tứ tuyệt có tựa đề “Nam Quốc Sơn Hà” để cổ vơ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ:

 

“Sông núi Nước Nam vua Nam ở,

Rành rành định phân tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!”

 

            Nghe được bài thơ, ba quân tướng sĩ mới an ḷng và cố thủ, bên kia sông giặc hoang mang bất động tới  hết lương, cuối cùng bị quân Đại Việt phản công đánh đuổi chạy về Tàu.

 

            Theo nhận xét của các sử gia, th́ bài thơ trên với nội dung xác quyết sự tồn tại của nước Nam là một nước độc lập với chủ quyền, lănh thổ riêng biệt. Đồng thời cũng cảnh cáo giặc Tàu một cách đanh thép quyết liệt, là chúng sẽ bị đánh bại nếu có “dă tâm xâm lấn Đại Việt”. Tuy bài thơ chỉ có bốn câu đơn giản nhưng ư thơ lại minh bạch hùng hồn, được coi như là chân lư nền tảng của “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” đầu tiên của Đại Việt, từ khi nước ta được Ngô Vương Quyền giải ách nô lệ giặc Tàu vào năm 939 sau Tây Lịch (STL).

 

          Viết về đất Bắc, nơi mà giặc Tàu qua đồng thuận của CS Hà Nội, vừa hoàn thành cuộc diễn tập quân sự trong tháng 8-2017, xưa nay không ai không nhắc tới Bạch Đằng Giang v́ nó đă trở thành một biểu tượng thiêng liêng của dân tộc Việt. Bởi vậy chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi đọc hai câu thơ hào sảng và hùng tráng của Phạm Sư Mạnh đời nhà Trần khi nhắc tới nó “Vũ trụ kỳ quan Dương Cốc nhật. Giang san vượng khí Bạch Đằng thu”. Đây cũng là địa danh mà người anh hùng Ngô Quyền, đă làm nên chiến thắng Bạch Đằng Giang năm 938, chém thái tử Hoàng Tháo và đuổi quân Nam Hán chạy về Tàu, cởi ách nô lệ hơn 1000 năm cho dân tộc Việt.

 

          Năm 981 Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn đă tai tạo một trận Bạch Đằng Giang 2, đánh tan thủy quân Tống trên ḍng sông thiêng này. 300 năm sau, ngày 9-4-1288, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng với tướng sĩ nhà Trần, cũng đă đạt được một chiến công hiển hách lần thứ 3 trên sông Bạch Đằng. Đại Việt đă làm cho giặc Mông-Nguyên kinh hồn tán đởm, bắt sống đại tướng Ô Mă Nhi, đánh đắm hơn 400 chiến thuyền và tiêu diệt hơn 8 vạn quân giặc, khiến cho Thái tử Tàu, Thoát Hoan phải trốn trong ống đồng cùng với đám tàn quân chạy về nước.

 

          Mấy trăm năm sau, đời vua Lê Thần Tôn sứ ta sang Tàu giao hảo. Vua nhà Minh lại đem chuyện Mă Viện dựng cột đồng để chế giểu “Đồng trụ chi kim đài dĩ lục (cột đồng đến nay rêu phủ xanh)” nhưng bị sứ thần Giang Văn Ninh đáp lại “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (sông Bạch Đằng từ xưa máu c̣n đỏ)”. Vua nhà Minh tức giận ra lệnh giết sứ thần VN nhưng vẫn tỏ ḷng kính trọng, nên chôn cất và xây lăng mộ tử tế. Hỡi ơi hào khí của người xưa là thế đó, c̣n đảng CSVN ngày nay th́ từ bé tới lớn, ai cũng đều có thái độ hèn hạ trước giặc Tàu. Lănh đạo đất nước như vậy, VN không bị Tàu đô hộ và cưỡng đoạt lănh thổ mới là chuyện lạ.!

 

            Năm 1406, lấy cớ Hồ Quư Ly cướp ngôi nhà Trần, giặc Minh ồ ạt xâm lăng nước ta. Nhà Hồ bị diệt vong v́ “mât ḷng dân”, đất nước lại đắm ch́m trong nô lệ. Giặc Minh tàn ác dă man, bốc lột đầy đọa đồng bào. Để “Hán hóa” dân tộc Việt, giặc Minh phá huỷ tất cả nền văn hiến Đại Việt được xây dựng qua hai triều đại Lư Trần, tịch thu hết những sách vở của ta đem về nước, quyết tâm biến nước ta thành một quận huyện, đem văn hóa Tống Nho vào thay thế tư tưởng Việt, biến người Việt thành nô dịch của Tàu từ ấy đến nay vẫn không thay đổi.

 

            Mưới năm cả nước nổi dậy chống giặc Minh xâm lược. Cuộc kháng chiến kéo dài tới năm Đinh Mùi (1428), B́nh Định Vương Lê Lợi và Nghĩa Binh Lam Sơn mới đánh đuổi giặc Minh chạy về Tàu. Cũng chính vào thời điểm đó, Nguyễn Trăi thay mặt “quân dân Đại Việt” viết “B́nh Ngô đại cáo” dài 345 câu, được các sử gia coi đó là “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Lần Thứ 2” của nước ta:.

 

            Nguyễn Trăi viết:

 

“việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

quân điếu phạt trước lo trừ bạo

nướng con đen trên ngọn lửa hung tàn

vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

dối trời, lừa dân, đủ muôn ngh́n kế

gây binh kết oán, trải hai mươi năm

bại nhân nghĩa nát cả đất trời

nặng thuế khóa, sạch không đầm núi

người bị ép xuống biển, dùng lưng ṃ ngọc

ngán thay cá mập thuồng luồng

...nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng”

 

            Từ ba cuộc chống Nguyên Mông cứu nước (1254, 1285, 1287) của quân dân nhà Trần, đến mười năm kháng chiến của B́nh Đinh Vương Lê Lợi và Nghĩa Quân Lam Sơn từ năm 1406 chống giặc Minh xâm lược nước ta. Chiến thắng được kẻ thù qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trên, đều nhờ vào sức mạnh của Toàn Dân và sự Đoàn Kết của Quân Dân cả nước. Tóm lại, qua Bản Tuyên Ngôn Độc Lập lần thứ 2 của Đại Việt, Nguyễn Trăi ngoài việc nói lên tư tưởng nhân bản, vốn được đánh giá là đỉnh cao của xă hội VN vào thế kỷ XV, ông c̣n nói đến sự mâu thuẫn của “đại nghĩa và hung tàn”:

 

“Đem Đại Nghĩa Để Thắng Hung Tàn

Lấy Trí Nhân Để Thay Cường Bạo..”

 

            Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đ́nh (Hà Nội), Hồ Chí Minh có đọc một bài diễn văn mà đảng gọi đó là “Bản Tuyên Ngôn Độc Lập” trong đó có nêu ra khẩu hiệu “Độc Lập Hay là Chết!”. Sự linh ứng của lời phát biểu trên, từ cửa miệng của một tên Đại Phản Quốc Hồ Chí Minh, không khác ǵ một lời nguyền rủa, ngày nay đă trở thành sự thực “VN không bao giờ có Độc Lập, nên đất nước và dân tộc chúng ta ngày nay phải Chết! Đó là một chân lư”. Ngoài ra từ ngày 2 tháng 9 năm 1945 tới nay, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, đă có lần nào “đoàn kết” được dân tộc bằng “Đại Nghĩa”? hay tất cả chỉ dựa vào súng đạn, bạo lực hung tàn và sự lừa dối để bắt ép mọi người tuân phục.

 

            Tại Đông Kinh ngày 16-8-1945, Nhật Hoàng đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Tin trên được công bố, làm cho người Việt khắp ba kỳ hân hoan “phấn khởi”. Ai cũng ngỡ, thế là từ đây đất nước sẽ thoát khỏi vũng bùn ô uế của hơn “80 năm” bị thực dân Pháp chà đạp đô hộ. Việt Nam sẽ ngẩng mặt nh́n trời cao đất rộng, như cha ông ta một thời ngang dọc khắp trời Đông Nam Á. Nhưng than ôi, đó chỉ là “mộng mị trăng sao”, v́ vận mệnh của các dân tộc nhược tiểu, thời nào cũng do bọn “thực dân” da trắng da vàng quyết định. Có thoát được hay không đều do sự khôn ngoan, tài trí và ḷng ái quốc của các nhà lănh đạo quốc dân trong cuộc.

 

            Ấn Độ, Miến Điện, Mă Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân lúc đó may mắn, v́ người Anh và Mỹ khôn ngoan, nên theo thời cho các nước trên độc lập. Riêng tại Đông Dương, dù Pháp lúc đó đă bị Nhật hất chân từ tháng 3-1945 nhưng ḷng tham vô đáy của thực dân không dời đổi, nhất là với  tên đại thực dân De Gaulle, lúc đó đang lănh đạo chính phủ lâm thời Pháp, cộng với “dă tâm” của Hồ Chí Minh và cộng đảng đệ tam quốc tế muốn tạo ra  một cuộc chiến tranh mới với Pháp, để có cớ cướp quyền “lănh đạo” cuộc kháng chiến, khiến cho non sông Nước Việt, tưởng rằng sẽ  được hưởng ḥa b́nh hạnh phúc như các lân bang vừa đưọc trao trả độc lập, lại biến thành chiến trường lửa máu, huynh đệ tương tàn, rước giặc về giày mả tổ, gây hận thù suốt 30 năm, cho tới ngày nay vẫn c̣n nguyên vẹn.

 

            Theo các nguồn sử liệu, để giải giới quân Nhật tại Đông Dương, các nước thắng trận quyết định giao cho quân Anh-Ấn và Trung Hoa quốc gia, trách nhiệm hai bên làn ranh vĩ tuyến 16. Quốc gia VN lúc đó do Quốc trưởng Bảo Đại lănh đạo với nội các của chính phủ Trần Trọng Kim.

 

            Nhưng tiếc thay, Bảo Đại trước sau dù là hoàng đế hay quốc trưởng, th́ tựu trung cũng chỉ là một người tầm thường nói không ai nghe. C̣n chính phủ quốc gia lại loạn xà ngầu v́ thành viên đa số là bọn khoa bảng học ở bên Tây về, hám danh chỉ biết có tư lợi và cá nhân. Rốt cục, quyền lực quốc gia bị tan vỡ, thủ tướng Trần Trọng Kim phải từ chức, cả nước như rắn không đầu, đă tạo nên “cơ hội ngàn vàng” cho Việt Cộng, lúc đó trong tay chỉ có vài ba chục khẩu súng với dao găm mă tấu, đă  dễ dàng  “cướp giựt” chính quyền.

 

          Sự mai mỉa lớn nhất của lịch sử VN, cứ quanh đi quẩn lại trùng hợp qua các sự kiện đă xảy ra một cach “bất ngờ”, mà không ai có thể đoán trước đưọc. Năm 1945, trong lúc Hồ Chí Minh và bộ hạ thân cận đang bù đầu tính kế chuẩn bị “tổng khởi nghĩa” tận khu rừng già Tân Trào, Kim Lộng, th́ đâu ai ngờ vào lúc đó tại Hà Nội, cán bộ CS Nguyễn Quyết, Nguyễn Khang.. với vài ba chục súng, dao găm, mă tấu cùng đám âm binh, đă hù ép đưọc  Nguyễn Xuân Chữ giao chính quyền. T́nh trạng cướp giựt này lại lan tới Huế, Phan Thiết và Nam Kỳ.

 

            Tóm lại chỉ không đầy hai tuần lễ sau khi quân viễn chinh Nhật tại VN đưọc lệnh bất động, lá cờ  “máu đỏ sao vàng”, sao chép từ lá cờ mẹ tại Nga-Tàu và cái tên “Hồ Chí Minh” lạ hoắt, mới bắt đầu được thấy nhắc trong dư luận quần chúng thời bấy giờ. Theo sử liệu, th́ đúng 2 giờ chiều ngày 2-9-1945, nhằm ngày 26 tháng 7 năm Ất Dậu, lễ “kư kết đầu hàng” của Nhật đă diễn ra trên soái hạm Missouri ngoài khơi Đông Kinh, th́ cũng là lúc “Hồ Chí Minh” lần đầu tiên xuất hiện, cùng với đám bộ hạ trên khán đài tại Hà Nội.

 

            Khai mạc buổi lễ “cướp chính quyền”, Hồ mượn y chang bản “tuyên ngôn độc lập” của Hoa Kỳ năm 1776 và bản “tuyên ngôn nhân quyền” của Pháp năm 1791, để phát biểu, cùng với những lời “dao to buá lớn”, đưọc coi như thần chú để kêu gọi mọi người theo đảng. Sau rốt kéo nhau đi đập phá các pho tượng Paul Bert, Jean Dupuis.. tại các công viên khắp thành phố Hà Nội.. Diềm xấu như báo trước cảnh “núi xương sông máu” sắp tới, trong đó hầu hết là của những người yêu nước và nạn nhân chiến cuộc. Tất cả đều làm vật lót đường để Hồ Chí Minh cùng một thiểu số bộ hạ thân tín trong đảng cộng sản, toàn thắng vinh quang.

 

            Tất cả như là một định mệnh oan nghiệt đă sắp bày. Pháp theo chân quân Anh-Ấn vào Sài G̣n, cưỡng chiếm Nam va Trung Phần, đồng thời được Hồ Chí Minh cho nhập đất Bắc. Thực dân Pháp và cộng sản “đồng diễn một màn kịch” qua cái gọi là “chin năm kháng chiến”, thực chất là sẽ không bao giờ xảy ra, nếu lúc đó không có sự hiện hữu của Việt Cộng.

 

          Ngày 9-12-1946, ngay khi cuộc chiến bùng nổ, tờ Le Monde của Pháp  đă viết: tất cả hai phía đă châm lửa vào ḷ thuốc súng. Nếu VN là tia lửa, th́ địa ngục khổ đau là do guồng máy chính quyền Pháp lúc đó. Tóm lại trách nhiệm đều do hai phía”. Cái nh́n đó phải chăng là tiếng nấc nghẹn ngào của chúng ta hôm nay, trước những sự thật điếng hồn của lịch sử, càng lúc càng bị phanh phui ra ánh sáng. Tất cả do De Gaulle, một tên đại thực dân của thế kỷ XX, thay v́ vừa thoát được ách nô lệ của Đức, người Pháp sẽ thức tỉnh, xét lại “những quả báo vừa lănh”. Nhưng, De Gaulle đă không biết sám hối, trái lại nuôi ảo vọng tái chiếm lại cái thuộc địa giàu có béo bở nhất tại Đông Dương, trong khối Liên Hiệp Pháp lúc bấy giờ. Để thực hiện cuộc xâm lăng VN lần thứ hai (1945-1954), De Gaulle đă vội bổ ngay đô đốc Thierry d’Argenlieu làm Cao Uỷ Đông Dương, để khôi phục lại chủ quyền nước Pháp tại đây. Điều này đă gây nên nhiều sự tranh căi tại thủ đô Ba Lê, kể cả viên phụ tá của Cao Uỷ Đông Dương là tướng Leclere de Hautelocque, cũng gọi đó là một hành động điên rồ. Rồi cơ hội hiếm có giúp cho phe thực dân đạt được ư nguyện, khi t́nh h́nh nước Pháp đầy xáo trộn, phải thay đổi liên tiếp bốn lần thủ tướng như DE Gaulle, Félix Gouin, Georges Bidault và Léon Blum, đă tạo nên một khoảng trống quyền lực, để phe chủ chiến tự do tự tác mà không bị ngăn cản.

 

            Tại Hà Nội, hai đại bịp “Hồ Chí Minh và Sainteny” đem vận mệnh của đất nước và dân tộc VN ra chiếu bạc tranh hùng. Điều này ngày nay đă được chứng minh bằng một “bức điện mật”, do Sainteny viết ngày 8-12-1946, được lưu trữ trong văn khố Pháp, vừa cho giải mă. Theo đó, “Pháp để cho Hồ Chí Minh phát động lệnh tổng khởi nghỉa, có như vậy Hồ và Đảng cộng sản mới danh chánh ngôn thuận, đứng lên lănh đạo đất nước qua Mặt Trận Việt Minh. Có như vậy, thực dân Pháp mới biện minh lư do tại sao lại có chiến tranh tại VN, trong lúc cả thế giới đang cổ xuư phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu bị áp bức”.

 

          Như thế, rơ ràng qua hai áp lực, quốc dân VN không c̣n sự lựa chọn nào khác hơn, lúc đó là phải “đứng chung” với Việt Cộng, do chúng “lèo lái”, để đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước của ḿnh. Trong tác phẩm “Nền đệ tứ cộng ḥa” xuất bản năm 1959, sử gia Pháp là Jacques Fauvet, gọi chiến tranh Đông Dương 1946-1954 được đề ra, do bọn lănh đạo “ngu dốt”, không phân minh và đầy lừa đảo. V́ cuộc chiếnh tranh đó có thể tránh được, nếu hai phía thực ḷng. Rốt cục đă cướp đi hằng vạn mạng sống con người và tạo cơ hội để Hồ Chí Minh đem “chủ thuyết và cùm xích Mác-Lê-Mao” về giày xéo đất nước và dân tộc ḿnh, tới nay vẫn không ngoi lên khỏi vũng bùn ô uế của cái gọi là “thiên đàng xă nghĩa”, khiến VN phải nhận lănh nhiều thảm họa, trước nguy cơ bị diệt vong và làm nô lệ cho giặc Tàu. 

 

            Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh từ hang Pắc Pó về Hà Nội, thực hiện Bước Đầu Lừa Đảo”Bán Nước và Bán Dân Tộc Việt” cho giặc Tàu. Giấc mộng “Măi Quốc Cầu Vinh” của tên đại phản quốc tới ngày nay, coi như sắp hoàn thành trong ảo giác. Gọi là giấc mộng bởi v́ người VN bây giờ không phải là những con bù nh́n chỉ biết cúi đầu nhận “chỉ đạo” của những con vẹt, qua cái gọi “ủy ban nhân dân”. Họ cũng không c̣n sợ bị bắt bớ, tù đầy, bị thủ tiêu hay trù dập của công an, cán bộ v́ “bộ mặt bán nước” của đảng đă làm thức tỉnh ḷng yêu nước của mọi người,

 

            Ngày tàn của đế quốc đỏ Trung Cộng sắp tới trước sự thù ghét khinh bỉ và xa lánh của nhân loại. Ngày chết của bọn lănh chúa, độc tài, tham ác và bán nước tại Ba Đ́nh, đang diễn ra dồn dập khắp nơi trên đất Việt. “Độc Lập hay là Chết!”. Đó là một Chân Lư nên toàn dân Việt trong và ngoài nước đang liều chết, chống lại kẻ Nội Thù Bán Nước là Việt Cộng, dành quyền Chống Xâm Lăng  Trung Cộng, để được “Sống” có Quyền Làm Người, Làm Chủ Thực Sự Đất Nước riêng của ḿnh. 

 

            Vui mừng biết bao khi nh́n thấy nước Việt hôm nay, đă có “Thế Hệ Con Em” thay thế Cha-Anh, đứng dậy ngẩng mặt Nối Tiếp “Sự Nghiệp Cứu Nước” của Tổ Tiên ngày trước, không hổ danh là Con Lạc Cháu Hồng. Chết vinh hơn sống nhục, sống để mang tiếng là Việt Gian bán nước, th́ sống để làm ǵ?

 

          Chân thành cám ơn Các Con, Các Cháu, Các Em “Việt Nam Anh Hùng “trong và ngoài nước!

 

 

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Ngày 3 tháng 9-2017

Mường Giang

(Lính Già VNCH)

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính