Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 9)

 

 

Về nhận định của Dương Thận về 2 bài Độc Bất KiếnHoàng Hạc Lâu.

 

Có người hỏi Dương Thận (1488 - 1559) về sự cao / thấp giữa bài Độc bất kiến của Thẩm Thuyên Kỳ và bài Hoàng Hạc Lâucủa Thôi Hiệu th́ Dương Thận trả lời:

~ Tống Nghiêm Thương Lương thủ Thôi Hiệu HOÀNG HẠC LÂU thi vi Đường nhân Thất ngôn Luật đệ nhất! Cận nhật, Hà Trọng Mặc, Tiết Quân Thái thủ Thẩm Thuyên Kỳ “gia thiếu ph Uất Kim đường” nhất thủ vi đệ nhất!

 

Nhị thi vị dị ưu liệt! Hoặc dĩ vấn dư, dư viết:

- Thôi thi Phú thể đa, Thẩm thi Tỉ, Hứng đa; dĩ Họa gia pháp luận chi Thẩm thi Phi Ma Thuân, Thôi thi Đi Phủ Tí Thuân dă!

                               Thăng Am Thi Thoại (升菴詩話). Qu. X. Hoàng Hạc Lâu thi  /.

 

~ Nghiêm Thương Lương đời Tống cho Bài thơ HOÀNG HẠC LÂU của Thôi Hiệu là Bài Thất ngôn Luật hay nhất đời Đường! Gần đây Hà Trọng Mặc, Tiết Quân Thái cho là Bài gia thiếu ph Uất Kim đường” của Thẩm Thuyên Kỳ là bài hay nhất!

 

2 bài thơ này không dễ phân hơn kém! Có người hỏi tôi, tôi nói:

- Thơ của Thôi Hiệu thiên về thể Phú, (trong khi) thơ của Thẩm Thuyên Kỳ lại ngả về các thể Tỉ, Hứng. Nếu lấy bút pháp của Họa gia mà luận th́ thơ của Thẩm Thuyên Kỳ là Phi Ma Thuân, thơ của Thôi Hiệu là Đi Phủ Tí Thuân.

 

[Minh Di:

+ Hà Trọng Mặc.

 

Trọng Mặc là tên Tự của Hà Cảnh Minh (1483 - 1521), Văn học gia Minh triều.

 

Đương thời, vào thời Dương Thận, hễ luận thi, b́nh thi th́ không ai ngoài Hà Cảnh Minh và Lư Mộng Dương.

Hà Cảnh MinhLư Mộng Dương là 2 văn học gia trong 7 tác gia trọng yếu vào khoảng trung kỳ Minh triều mà Văn học sử Trung Quốc gọi là Thất tử (七子).

 

Thất tử:

Lư Mộng Dương.

Hà Cảnh Minh.

Từ Trinh Khanh (1479 - 1511).

Biên Cống (1476 - 1522).

Khang Hải (1475 - 1540).

Vương Cửu Tư (1468 - 1551).

Vương Đ́nh Tướng (1474 - 1544).

 

7 tác gia nói trên chủ trương Phục cổ (復古), không noi theo phong cách sáng tác từ sau những triều Tần (221 - 206 tr.Cn), Hán (206 tr. Cn - 220 Cn), Đường (618 - 907) trở đi.

 

Lư Mộng Dương tên Hiệu là Không Đồng Tử (崆峒子), văn học gia tiếng tăm trong khoảng trung kỳ triều Minh, học giới thường gọi ông là Lư Không Đồng.

 

- 2 chữ Không Đồng, bộ Trung Quốc Văn học Phê b́nh Thông Sử (Tập V. Minh đại)  ghi Hán tự là 空同 – tức chữ Không () và chữ Đồng () đều không có bộ Sơn ().

 

Về phương diện sáng tác Lư Mộng Dương nhận định Văn của 2 thời Tần, Hán là mẫu mực người viết văn phải học theo, c̣n về Thi th́ nên học các tác gia thời kỳ Thịnh Đường.

 

Chủ trương “thuyết thực thoại” (說實話), “kư thực sự” (記實事), “thự chân t́nh” (抒真情), tức “nói lời thực”, “ghi việc thực”, “tả chân t́nh”.

 

Về năm sinh năm tử của Lư Mộng Dương có một số thuyết như sau:

[1]. - (1472 - 1529).

Trịnh Chấn Đạc (1898 - 1958).

 

Sáp đồ bản Trung Quốc Văn Học Sử.

[2]. - (1472 - 1530).

(a). Du Kiếm Hoa (1895 - 1979).

 

Trung Quốc Mỹ Thuật Gia Nhân Danh Từ Điển.

(b). Vương Chấn Vũ và Lưu Minh Kim.

 

Trung Quốc Văn Học Phê B́nh Thông Sử (Tập V. Minh đại).

[3]. - (1473 - 1529).

 

Vương Dục Thuyên và Tào Quí Lâm.

 

Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển. Minh Sử.

[4]. - (1475 - 1531).

 

Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển.

[5]. - (1473 - 1530).

 

Từ điển Từ Nguyên].

 

+ Tiết Quân Thái.

Chưa rơ; không thấy tiểu sử của nhân vật này trong bộ Minh Sử - và trong một số bộ Văn học Sử Trung Hoa nổi tiếng. 

 

+ Lư gia thiếu phụ Uất Kim đường.

 

Câu đầu của bài Độc bất Kiến.

 

Bài này Thi tập của Thẩm Thuyên Kỳ (Qu. I) tựa là Cổ ư tŕnh Bổ khuyết Kiều Tri Chi.

(Coi toàn bài thơ này và một số chi tiết về bài thơ tự thuật ở một đoạn sau).

 

~ Thơ của Thẩm Thuyên Kỳ là Phi Ma Thuân, thơ của Thôi Hiệu là Đại Phủ Tí Thuân.

Về đoạn phê b́nh trên đây của Dương Thận, nếu không đọc về Hội họa, cũng như về Lịch sử Hội họa Trung Hoa th́ không thể nào hiểu được nhận định của ông ~ hoặc nói khác đi, không rơ bài Cổ ư và bài Hoàng Hạc Lâubài nào trội hơn bài nào, theo cách nói của Dương Thận.

 

Phi Ma Thuân, Đại Phủ Tí Thuân là những danh từ Sơn Thủy Họa (tranh Phong cảnh).

 

+ THUÂN () là kỹ thuật vẽ Núi, vẽ Đá trong Hội họa Trung Hoa.

 

Khi các đường biên của Núi / đá đă phác xong Họa gia cầm bút theo tư thế nằm ngang để , phết làm cho rơ các nét sáng / tối, trước / sau…. – kỹ thuật này thời cổ được Họa pháp Trung Quốc gọi là Thuân pháp (皴法).

 

Phi Ma Thuân (披麻皴). Thuân pháp này có nét bút thẳng mà dài, kéo suốt từ trên xuống như cành đay (Ma) rủ xuống (Phi).

 

Đại Phủ Tí Thuân (大斧劈皴). Đại Phủ Tí Thuân Tiểu Phủ Tí Thuân là 2 Cách thức biểu hiện của  cùng một kỹ thuật gọi là “Phủ Tí Thuân”. Tiểu Phủ Tí nét thanh hơn, như tên gọi cho thấy.

 

(a). Tiểu Phủ Tí Thuân. Nét bút ở đây nh́n rồi cũng tương tự như đường rạch (Tí) của lưỡi búa (Phủ) xiên xiên trên phiến gỗ, bên dày, bên mỏng.

(b). Đi Phủ Tí Thuân. Nét bút cũng vậy nhưng thô hơn.

 

Sơn Thủy Họa tới thời Đường th́ phân Nam / Bắc 2 Phái: Nam tông Bắc tông.

 

Đổng Kỳ Xương (1555 - 1636), Thư pháp gia và là Họa gia trứ danh mạt kỳ Minh triều viết một Tập Tùy bút tựa là Họa Thiền Thất Tùy Bút ~ tất cả gồm 4 Quyển, nội dung chuyên luận các Bộ môn Nghệ thuật như Thi văn, Thư pháp, Hội họa, bên cạnh đó là một số du kư, kư sự…. và chính trong tập tùy bút này lần đầu tiên Đổng Kỳ Xương đă phân Hội họa Trung Quốc thành Nam tôngBắc tông Họa phái.

 

Nội dung Họa Thiền Thất Tùy Bút.

 

Quyển I. Luận Thư pháp.

Quyển II. Luận Hội họa.

Quyển III. Ghi lại những chuyện du lịch, kư sự…. cũng như b́nh luận Thi / Văn.

Quyển IV. Gồm những ghi chép vụn vặt về nhiều vấn đề.

 

(Tham khảo:

Họa Thiền Thất Tùy Bút (畫禪室隨筆). Qu. II. Họa nguyên. 23). 

 

Bắc tông Họa phái do Lư Tư Huấn (651 - 716), tông thất Đường triều, khai sáng.

 

Nam tông Họa phái khởi từ Thi nhân Vương Duy (701 - 761).

 

Căn cứ phương thức diễn đạt (tức kỹ thuật họa) Bắc tông được gọi là Công bút, c̣n Nam tông được gọi là Ư bút, hay Văn nhân họa.

Bắc tông Họa phái.

 

Bắc tông Họa phái chú trọng đường nét chi tiết, màu sắc tươi sáng rực rỡ. Nét bút của Bắc tông cứng cỏi sắc xảo và lấy Phủ Tí Thuân làm chủ. Chú trọng đường nét tinh tế  chi tiết cho nên Bút pháp của Bắc tông được gọi là Công bút (工筆). 

 

Công bút, như tên gọi, “Công” () nghĩa là “Khéo”, khéo đây tức nói khéo vẽ lại đúng như thể tướng của nhân vật, sự vật…., như mắt nh́n thấy, do đó, chú trọng đường nét tinh tế chi tiết, và chuyên dùng sắc liệu tươi sáng rực rỡ để vẽ - ở đây cái tâm ư, nếu có, cũng chỉ để khiến cho con mắt nhận đúng h́nh thể của những ǵ muốn vẽ, thấy sao vẽ vậy!

 

Nam tông Họa phái.

 

Nam tông, ngược lại, chủ trương đường nét giản phác, thiên về tính tượng trưng, gợi ư cốt sao tả được cái tinh thần của sự vật. Nét bút của Nam tông Họa phái, do đó, đượm sắc thái nhu ḥa, giản phác ~ và lấy Phi Ma Thuân làm chủ. tính gợi ư nhiều hơn do đó Bút pháp của Nam tông được gọi là Ư bút (意筆).

 

Ư bút th́ chỉ phác họa những ǵ cần vẽ nơi sự vật, c̣n lại những ǵ không vẽ ra th́ đó là một khoảng cho cái ư được tự tại chu lưu trong tâm cảnh. Gọi Ư bút là v́ vậy.

 

Tông chỉ của Nam tông có thể được tóm lược trong câu Ư tại Bút tiên, vẫn thường được coi là của Vương Duy. Về sắc liệu để vẽ, Nam tông chuyên vẽ với mực.

 

Càng về sau th́ giới Văn nhân, trí thức theo học Hội họa ngày càng có khuynh hướng ngả hẳn về Nam tông Họa phái, và phần lớn Họa gia trứ danh của Nam tông đều thuộc giới này, bởi vậy mà giới phê b́nh Hội họa đă gọi Họa phẩm của Nam tông Họa phái là Văn nhân họa.

 

Dương Thận khi so sánh bài thơ của Thẩm Thuyên Kỳ với Phi Ma Thuân, bài thơ của Thôi Hiệu với Đại Phủ Tí Thuân là có ư nói 2 bên bên nào cũng có nét độc đáo riêng như Nam tông Họa phái và Bắc tông Họa phái.

 

Có điều là, từ thời Triệu Tống (960 - 1279) trở về sau Nam tông Họa phái ngày càng chiếm ưu thế hơn Bắc tông, ư ngả về Thẩm Thuyên Kỳ của Dương Thận thật quá rơ!

 

Có điều cái “quá rơ” này sẽ chẳng rơ nếu không rơ Lịch sử Hội họa Trung Hoa - từ đó không sao rơ được ư của Dương Thận!

  

Ngoài Đại / Tiểu Phủ Tí ThuânPhi Ma Thuân nói trên, Thuân pháp c̣n có:

 

Quyển vân 捲雲 (Mây cuốn).

Giải tác 解索 (Gỡ mối dây).

Khô lâu 骷髏 (Xương sọ).

Quỉ kiểm 鬼臉 (Mặt quỉ).

Loạn sài 亂柴 (Đống củi loạn).

Chi ma 芝麻 (Hột mè).

Vũ điểm 雨點 (Hạt mưa).

Ngọc tiết 玉屑 (Vụn ngọc).

Kim bích 金碧 (Vàng lục). Dùng kim nhũ và sắc lục để tô, phết.

Đàn oa 彈窩 (Xoáy nước).

Phàn đầu 礬頭 (Đá nhỏ).

Một cốt 沒骨 (Không xương). Dùng bột màu tô, phết – xong bút tích không thấy nữa do đó gọi là Một cốt. Kim bích, Một cốt là kỹ thuật của Bắc tông Họa phái.

 

(Tham khảo:

Thạch Đào Họa Phổ (石濤畫譜). Thuân pháp Chương đệ cửu).

Trên đây là những danh xưng Tượng h́nh. Tô, phết xong thấy h́nh giống vật ǵ th́ lấy

vật đó mà định danh.

(+ Vũ điểm, Đường Đại (1673 - ?) trong Hội Sự Phát Vi nói c̣n gọi là Vũ tuyết [雨雪]).

 

Ngoài ra, Lư Ngư (1611 - 1680) c̣n nêu lên một vài kỹ thuật Thuân pháp nữa, như:

Loạn ma 亂麻 (Mớ mè loạn).

Vân đầu 雲頭 (Đám mây).

Hà diệp 荷葉 (Lá sen).

Quỉ b́ 鬼皮 (Da quỉ).

Ngưu mao 牛毛 (Lông ḅ).

Mă nha 馬牙 (Răng ngựa).

 

(Tham khảo:

Giới Tử Viên Họa Truyện (芥子園畫傳). Đệ nhất Tập. Sơn thủy.

 

Thanh Tại Đường Họa Học thiển thuyết. Kế Thuân).

 

(+ Năm sinh của Lư Ngư ghi theo Trung Quốc Văn Học Phê B́nh Thông Sử, c̣n trong bộ Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (Thanh Sử. Thượng Quyển) ghi là năm 1610).

 

Quách Thiệu Ngu, một tác giả Trung Hoa, khi chú giải câu trên cũng dẫn những ư kiến của Hà Cảnh Minh và Tiết Quân Thái như Dương Thận đă dẫn trên.  

 

Thế nhưng, sau lời b́nh của Dương Thận ~ Thôi thi Phú thể đa, Thẩm thi Tỉ, Hứng đa; dĩ Họa gia pháp luận chi Thẩm thi Phi Ma Thuân, Thôi thi Đi Phủ Tí Thuân dă! ~ ông Quách Thiệu Ngu viết như sau:

~ Thử tắc điều đ́nh phụ họa chi luận.

~ Đây là lời b́nh luận đứng giữa phụ họa.

 

(Tham khảo:

Quách Thiệu Ngu.

Thương Lương Thi Thoại Hiệu Thích. Thi b́nh 44. Thích).

 

Câu nói trên của Quách Thiệu Ngu nếu dịch một cách b́nh dân Việt Nam là:

~ Đây là lời b́nh luận hụ hợ ba phải. 

 

Như vậy, Quách Thiệu Ngu tuy một học giả nhưng v́ không hiểu Hội họa cũng như Lịch sử Hội Họa Trung Hoa cho nên mới nói Dương Thận đứng giữa ph ha.

 

Nếu biết Lịch sử Hội họa Trung Hoa th́ thấy nhận định của Dương Thận rất rơ ràng, và dứt khoát, không hụ hợ ba phải chút nào!

 

Phần nhận định của Dương Thận và chú thích của tôi trên đây tôi đă viết 30 năm trước trong bài Hương quan hà xứ, dẫn lại ở đây tôi có viết thêm một vài đoạn.

 

Về bài Hoàng Hạc Lâu Nghiêm Vũ viết:

~ Đường nhân Thất ngôn Luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu vi đệ nhất.

                                         /  Thương Lương Thi Thoại (滄浪詩話). Thi b́nh. XLIV  /.

~ [Về] Thất ngôn Luật thi đời Đường th́ phải nói bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là đệ nhất.

 

Nghiêm Vũ tức Nghiêm Thương Lương Dương Thận nói ở trên – Thương Lương là tên Hiệu của Nghiêm Vũ.

 

Nghiêm Vũ là nhà Phê b́nh Văn học cuối thời kỳ Nam Tống (1127 - 1279).

 

Tập Thương Lương Thi Thoại của Nghiêm Vũ có ảnh hưởng rất lớn đương thời, và trải các thời sau đó nữa!

 

Về Thi học, Nghiêm Vũ lấy Thiền biện giải Thi, tông chỉ Thi học của Nghiêm Vũ lược thu lại chỉ một chữ thức.

 

Ở đây, điều gọi là thức rồi không ngoài 2 cảnh giới thiềnngộ – tiếng chính xác là diệu ngộ, và nhân “thức đắc ngộ”, để từ ngộ nhập thiền.

 

Thương Lương Thi Thoại là một tác phẩm ngắn, phân 5 Chương:

1). Thi biện.

2). Thi thể.

3). Thi pháp.

4). Thi b́nh.

5). Khảo chứng.

 

Chương cuối có kèm lá “thư trả lời Ngô Cảnh Tiên” (Đáp Ngô Cảnh Tiên thư), nội dung giải thích rơ hơn về Chương “Thi bin”, một Chương mà Nghiêm Vũ đă không che dấu sự tự phụ là Kinh thế tuyệt tục chi đàm.

 

Lấy Thiền biện Thi do đó trong Thương Lương Thi Thoại Nghiêm Vũ có những câu tỉ dụ lấy trong Kinh Điển Phật Giáo, như:

~ Linh dương quải giác, vô tích khả cầu”.

(dê núi móc sừng lên cành, không t́m được dấu vết).

~ thủy trung chi nguyệt, kính trung chi tượng, ngôn hữu tận nhi ư vô cùng”.

(trăng trong nước, h́nh trong gương, lời tận mà ư không cùng).

 

(Tham khảo:

Thương Lương Thi Thoại. Thi biện 5).

 

[Phụ chú.

+ Linh dương quải giốc. Dê núi móc sừng lên cành.

Câu linh dương quải giốc là một Câu rất thường thấy trong các Ngữ Lục Thiền tông, ư nói không t́m cầu, câu chấp vào ngôn ngữ văn tự để đạt giác ngộ. 

 

+ Tỉ dụ “thủy trung nguyệt”, “kính trung tượng” thấy một số trong Kinh Hoa Nghiêm:

Phẩm Hiền Thủ(Phẩm thứ XII).

Phẩm Thập Hồi Hướng(Phẩm thứ XXV).

Phẩm Thập Địa(Phẩm thứ XXVI).

Phẩm Li Thế Gian (Phẩm thứ XXXVIII)].

                                                                          

Tiếp đến là bài Lệ nhân hànhcủa Đỗ Phủ.

 

Bài này gồm 26 câu.

 

Về số câu của bài Lệ nhân hành Dương Thận (1488 - 1559) viết:

~ Lệ nhân hành dật cú.

 

Tùng Giang Lục Tam Thinh Thâm ngữ dư:

- Đỗ thi Lệ nhân hành, CỔ BẢN Chu áp yêu cập (腰衱) ổn xứng thân (穩稱身) hạ hữu Túc hạ hà sở trước []? – Hồng cừ [紅渠] la mạt [羅襪] xuyên đặng [] ngân nhị cú – kim bản vong chi.

 

Hoài Nam Thái Hành Trọng Ngang văn chi kích tiết (擊節) viết:

- Phi duy Nhạc phủ Cổ xúy (鼓吹), kiêm thị Chu Phương (周昉) mỹ nhân họa phổ dă!

                                           /  Thăng Am Thi Thoại. Qu. XIV. Lệ nhân hành dật cú  /.

~ Những câu mất của bài Lệ nhân hành.

Lục Tam Thinh (tên) Thâm ở Tùng Giang nói với tôi:

- Bài Lệ nhân hành của Đỗ Phủ, ở BẢN CỔ dưới câu Chu áp yêu cập ổn xứng thân có 2 câu Túc hạ hà sở trướcHồng cừ la mạt xuyên đăng ngân – (mà) bản hiện nay mất đi (2 câu này).

Thái Hành Trọng (tên) Ngang ở Hoài Nam nghe được th́ gơ nhịp nói:

- Chẳng những là âm điệu của Nhạc phủ mà c̣n là tranh mỹ nhân của Chu Phương!

 

(Minh Di:

+ Câu cuối ư nói 2 câu Túc hạ hà sở trước Hồng cừ la mạt xuyên đặng ngânnói trên có âm điệu du dương sảng khoái như Nhạc phủ, đẹp đẽ quí phái như tranh vẽ đàn bà đẹp của Chu Phương (? - ?) đời Đường (618 - 907).

 

Chu Phương có các tên Tự là Trọng Lăng (仲朗), Cảnh Huyền (景玄), người Trường An.

 

Ông là một Họa gia trọng yếu thời kỳ Trung Đường sau Ngô Đạo Tử (~ 685 - 758).

 

Xuất thân từ gia đ́nh quan chức, Chu Phương qua lại giao du nhiều với giới quyền quí. Sự giao du này có quan hệ mật thiết với khuynh hướng sáng tác của ông. Điểm nổi bật trong sáng tác của Chu Phương là những tranh vẽ nhân vật thuộc giới quyền quí, nhất là phụ nữ Sau này Tống Huy tông (1082 - 1135; tại vị: 1100 - 1125) - cũng là một Thư pháp gia, và là một họa gia tài hoa – sưu tập gom góp được 72 họa phẩm của Chu Phương, trong số này gần phân nửa là tranh vẽ các phụ nữ quyền quí.  

 

Một lần nữa chúng ta lại thấy học giả Trung Hoa có lúc lấy Hội họa để b́nh thi văn.

 

Ở đây, khi Thái Ngang tỷ dụ 2 câu của Đỗ Phủ vớitranh vẽ m nhân” của Chu Phương là có ư nói 2 câu này có tính cách quí phái – v́ “mỹ nhân” ở đây là những người quyền quí).

 

Và như vậy, thêm 2 câu thấy trong Bản cổ Thi tập Đỗ Phủ, chúng ta có:

Đầu thượng hà sở hữu? (Câu 7).

 

Thúy vi (翠為) yểm diệp () thùy tấn thần (垂鬢脣).

 

Bối hậu hà sở kiến?

 

Chu áp yêu cập (腰衱) ổn xứng thân ().

 

Túc hạ hà sở trước [], (Câu 11).

 

Hồng cừ [紅渠] la mạt [羅襪] xuyên đặng ngân [鐙銀]. (Câu 12).

 

Đầu dắt nào những có?

Lá hoa ngọc biếc tḥng tóc bên.

Lưng thắt nào những thấy?

Đai quấn dát ngọc bó gọn thân.

Chân xỏ nào những thứ?

Hài tơ sen đỏ đế bạc lên.

 

(Phụ chú.

 

Hồng cừ là hoa sen đỏ, ở đây nói chị em Dương Quí Phi đi hài tơ màu sen hồng.

 

Đặng () là cái bàn đạp, cái đế của yên, ở ngay dưới giữa bụng ngựa, để kê chân lấy thế lúc lên lưng ngựa).

 

Học giả Vương Phu Chi (1619 - 1692) nhận định về bài Ai Vương tôn như sau:

~ Thế chi vi tả t́nh, sự ngữ giả khổ vu bất tiếu (不肖), duy Đỗ khổ vu bức tiếu (逼肖).

 

Họa gia hữu Công bút (工筆), Sĩ khí (士氣) chi biệt, tiếu xử đại tổn Sĩ khí! Thử tác dịch tiếu thậm (肖甚) nhi Sĩ khí vị tổn, giảo huyết ô du hồn qui bất đắc nhất phái, tự cao nhất cách!

 

               /  Đường Thi B́nh Tuyển. Qu. I. Nhạc Phủ, Ca Hành  /.

 

~ Người đời tả t́nh, tả việc th́ khổ v́ nỗi tả không giống (thực), chỉ có Đỗ Phủ là khổ ở chỗ tả quá giống.

 

Họa gia có sự phân biệt giữa Công bútSĩ khí (Ư) bút, (tả) giống th́ rơi vào chỗ làm tổn hại nặng nề cái ư! Bài này diễn tả cũng cực giống [sự thực] thế nhưng không làm tổn hại cái ư, đại để cùng một gịng với bài huyết ô du hồn qui bất  đắc, tự vút cao thành một phong cách riêng! 

 

Ở đây, Vương Phu Chi lấy danh từ hội họa để nhận định thi ca, mà đây đó cũng thấy các học giả sử dụng, cho nên trường hợp ở đây rồi cũng như những thí dụ đă dẫn, như không đọc hội họa Trung Hoa th́ không hiểu học giả nói ǵ. 

 

(Phụ chú.

+ Công Bút. Sĩ khí bút.

Công bút tức chỉ Bắc tông Họa phái, Sĩ khí bút tức chỉ Nam tông Họa phái.

(Xin coi phần chú thích ở một đoạn trước).

 

Càng về sau, từ thời Triệu Tống (960 - 1279) trở đi giới văn nhân, trí thức theo học Hội họa ngày càng có khuynh hướng ngả về Nam tông, đa số Họa gia trứ danh của Nam tông đều thuộc giới này – cũng lẽ này mà giới phê b́nh Hội họa thời trước đă gọi Họa phẩm của Nam tông là Văn nhân họa – tức điều ở đây Vương Phu Chi gọi là Sĩ khí bút.

 

Minh Di:

Ở đây, nói tả giống là Vương Phu Chi ư nói Thi catả giống như thực th́ cũng như Bắc tông Họa phái vẽ đầy đủ, không để sót một chi tiết nào, điều này tất yếu đưa tới chỗ không có chỗ cho cái ư xen vào.

 

Do đó, ư tại ngôn ngoại , lời tận mà ư vô cùnglà cảnh giới tối cao của thi ca!

 

Đọc lời phê b́nh trên đây của Vương Phu Chi, rồi đọc lại nhận định của Dương Thận về 2 bài Hoàng Hạc Lâu / Độc Bất Kiến trước đây chúng ta sẽ hiểu ngay ư của Dương Thận.

 

+ Bài huyết ô du hồn qui bất đắc, đây là câu thứ 14 của bài Ai giang đầu của Đỗ Phủ.

Vương Phu Chi mượn câu này ám chỉ bài Nhạc Phủ nói trên).

 

Chu Tích Thủ (? - ?) đời Thanh (1644 - 1911) viết:

~ Đường nhân chi thi đa loại danh hoa:

Thiếu Lăng tự Xuân Lan, u phương, độc tú.

 

Ma Cật tự Thu Cúc, lănh diệm, độc cao.

 

Thanh Liên tự Lục ngạc Mai, tiên phong đăi đăng (駘蕩).

Ngọc Khê tự Hồng ngạc Mai, khởi tư (綺思) phiên uyên (便娟).

Vi, Liễu tự Hải hồng, cổ mị (古媚) tại cốt.

Thẩm, Tống tự Tử vi, cân quí (矜貴) hữu t́nh.

Xương Lê tự Đơn quế, thiên hoa sái lạc.

Hương Sơn tự Phù cừ (芙蕖), huệ tướng thanh kỳ.

Đông Lang tự Thiết cạnh Thùy ty (鐵梗垂絲).

Lăng Tiên tự Đàn tâm Khánh khẩu (檀心磬口).

Trường Cát tự Ưu bát đàm (優缽曇), thể vân ủng hộ (擁護). 

Phi Khanh tự Mạn đà la, quỳnh nguyệt ([]) linh lung.

                                                                                /  U Mộng Tục Ảnh (幽夢續影)  /.

 

~ Thơ của người thời Đường như các loại hoa nổi tiếng:

(Thơ) của Thiếu Lăng như Lan mùa Xuân, hương thơm thâm trầm, riêng một vẻ đẹp.

(Thơ) của Ma Cật như Cúc mùa Thu, chịu được sự lạnh lẽo, riêng vẻ thanh cao.

(Thơ) của Thanh Liên như Lục ngạc Mai, có vẻ phóng túng của tiên.

(Thơ) của Ngọc Khê như Hồng ngạc Mai, ư tưởng tươi đẹp, nhẹ nhàng.

(Thơ) của Vi, Liễu như hoa Sơn Trà, vẻ đẹp cổ kính sâu sắc.

(Thơ) của Thẩm, Tống như hoa Tử vi, trang trọng, quí phái, hữu t́nh.

(Thơ) của Xương Lê như hoa Đơn quế, cực đẹp, trong sáng tự nhiên, không câu thúc.

(Thơ) của Hương Sơn như hoa Sen, thanh tịnh kỳ lạ.

(Thơ) của Đông Lang như Thùy ty Hải đường.

(Thơ) của Lăng Tiên như hoa Lạp Mai nhụy hồng lợt.

(Thơ) của Trường Cát như hoa Ưu bát đàm, (có) mây đẹp vây quanh giữ ǵn.

(Thơ) của Phi Khanh như hoa Mạn đà la, như ánh trăng trong ngần.

 

[Minh Di.

+ Chu Tích Thủ. Không rơ năm sinh năm tử (? - ?); ông đậu Cử nhân năm thứ 26 Niên hiệu Đạo Quang (1821 - 1850), tức năm 1846. Từng giữ chức tri huyện].

 

Các thi nhân dẫn trong đoạn văn của Chu Tích Thủ:

+ Thiếu Lăng. Tên Hiệu của Đỗ Phủ - tên Hiệu đầy đủ làThiếu Lăng Dă Lăo.

Bài Ai Giang đầu, câu mở đầu:

Thiếu Lăng Dă Lăo thôn thanh khốc,

Xuân nhật tiềm hành Khúc Giang khúc.

+ Ma Cật. Tên Tự của Vương Duy (701 - 761).

+ Thanh Liên. Tên Hiệu của Lư Bạch.

+ Ngọc Khê. Tức Ngọc Khê Sinh, tên Hiệu của Lư Thương Ẩn (813 - 858).

+ Vi, Liễu. Tức Vi Ứng Vật (737 - ~ 789), và Liễu Tông Nguyên (773 - 819).

+ Thẩm, Tống. Tức Thẩm Thuyên Kỳ (~ 656 - ~ 716) và Tống Chi Vấn (~ 656 - 712).

+ Xương Lê. Tức Hàn Dũ (768 - 824), Xương Lê (tên Quận) là tên Hiệu của ông.

+ Hương Sơn. Tức Hương Sơn Cư Sĩ, tên Hiệu của Bạch Cư Dị (772 - 846).

+ Đông Lang. Tiểu danh (tên gọi trong nhà lúc nhỏ) của Hàn Ốc (844 - 923).

+ Lăng Tiên. Tên Tự của Giả Đảo (779 - 843).

+ Trường Cát. Tên Tự của Lư Hạ (790 - 816).

+ Phi Khanh là tên Tự của Ôn Đ́nh Quân (812 - ~ 870).

 

Các hoa như Lan, Cúc, Phù cừ (Sen)…. th́ nhiều người biết, trong phần chú giải sau đây tôi chỉ nói về hoa Ưu đàm và hoa Mạn đà la.

Trước hết là hoa Ưu đàm.

 

+ Ưu bát đàm. Đúng là Ưu đàm bát [優曇缽], gọi giản lược là Ưu đàm hoa, hay gọn nữa là Đàm hoa. Phiên âm từ Udumbara. Ngoài ra c̣n một số tên nữa, như:

- Ưu đàm bà la hoa, Ưu đàm bạt la hoa, Ưu đàm ba hoa, Ô đàm bát la hoa, Ô đàm la hoa, Úc đàm hoa. Dịch nghĩa là “Linh thụy” (Điềm lành linh thiêng), “Thụy ứng”.

 

Trung Hoa có thành ngữ Đàm hoa nhất hiện để chỉ việc ǵ rất hiếm có, rất hiếm xảy ra.

 

Bộ Thực Dụng Phật Học Từ Điển viết:

~ Pháp Hoa Văn Cú. Qu. IV – Thượng:

~ ƯU ĐÀM hoa giả, thử ngôn LINH THỤY, tam thiên niên nhất hiện, hiện tắc Kim Luân vương xuất.

                  /  Thực Dụng Phật Học Từ Điển (實用佛學辭典). Ưu đàm  /.

 

~ Pháp Hoa Văn Cú. Qu. IV – phần Thượng:

~ ƯU ĐÀM hoa, (tên gọi này) có nghĩa là LINH THỤY (Điềm lành), 3,000 năm xuất hiện một lần, hiện th́ có Kim Luân vương xuất thế.

 

 

C̣n về hoa Mạn đà la.

+ Mạn đà la (曼陀羅).

Dịch ra có nghĩa: “Viên hoa” (圓華), “Bạch đoàn hoa” (白團華), “Thích ư hoa” (適意華), hoặc là “Duyệt ư hoa” (悅意華).

Sách Pháp Hoa Quang Trạch Sớ gọi là “Tiểu bạch đoàn hoa” và “Đại bạch đoàn hoa”.

Ngoài ra Mạn đà la c̣n có các tên:

+ Mạn đà la hoa (曼陀羅花).

+ Mạn đà thù (曼陀殊).  

+ Mạn thù sa hoa (曼殊沙花).

+ Vạn đà (萬陀).

+ Măn na (滿拏), tiếng gọi tắt của Mạn đà la.

+ Nhu nhuyễn hoa (柔軟華).

+ Thiên diệu hoa (天妙華).

 

Sách Pháp Hoa Huyền Tán (Qu. II) của Từ Ân (? - ?) đời Đường viết:

~ Mạn đà la hoa giả, thử vân thích ư, kiến giả tâm duyệt cố.

 

~ Hoa Mạn đà la, tên này có nghĩa thích ư, người ta thấy (hoa này) th́ trong ḷng cảm thấy vui vẻ, v́ vậy mà có tên gọi này.

(Dẫn trong Phật Học Đại Từ Điển (佛學大辭典) của Đinh Phúc Bảo [1874 - 1952]).

 

Tự thuật lúc Đức Phật thuyết pháp tại núi Kỳ Tha Khột (Kỳ Xà Quật), thành Vương Xá, cho các Bồ tát và A La Hán…. Kinh Diệu Pháp Liên Hoacó bài kệ có mấy câu:

 

Mạn đà la,

Mạn thù sa hoa,

Chiên đàn hương phong,

Duyệt khả chúng tâm.

[Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. I. Tự Phẩm].   

                                             Mưa hoa Mạn đà,

                                             Hoa Mạn thù sa,

                                             Ngát hương chiên đàn,

                                             Sảng khoái mọi ḷng.

 

Ư nghĩa của các loài hoa như Lan, Cúc, Liên hoa (Hoa Sen), … th́ nhiều người biết.

 

Riêng 2 loại hoa Ưu đàmMạn đà la th́ là Phật tử hay không là Phật tử mà không có hứng thú với Kinh điển Phật giáo th́ không rơ Chu Tích Thủ nói ǵ khi so sánh thi ca của các thi nhân như Lư Trường Cát và Ôn Đ́nh Quân.

 

Chu Tích Thủ nói thơ của Lư Trường Cát như hoa Ưu đàm nói tài hoa hiếm có.

 

Nói thơ của Ôn Đ́nh Quân như hoa Mạn đà la là có ư nói thơ của ông làm người ta vui vẻ sảng khoái. 

 

V́ vậy mà tôi có hơi dài gịng về 2 loại Hoa này].

 

Sau cùng:

Chu Tích Thủ kể các thi nhân tùy tiện, không theo thứ tự niên đại, và ông đặt Đỗ Phủ ở hàng đầu là có ư đề cao Đỗ Phủ hơn các thi nhân khác, trên cả Lư Bạch.

 

Nói “thơ của Trường Cát như hoa Ưu bát đàm, có mây đẹp vây quanh giữ ǵn, nói thơ của Phi Khanh như hoa Mạn đà la, như ánh trăng trong ngần”, đây là lối so sánh ngầm nhiều lúc người ta thấy trong phê b́nh thi, văn của học giả những thời trước. [.…++4].

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính