Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 8)

 

Ở một đoạn khác, bộThủy Kinh Chú viết:

~ Giáp trung hữu Cù Đường, Hoàng Long nhị than, Hạ thủy hồi phục, duyên tố sở kỵ!

 

Cù Đường than thượng hữu Thần miếu vưu chí linh nghiệm, Thích sử, Nhị thiên thạch kinh quá giai bất đắc minh giốc, phạt cổ. Thương lữ thượng, hạ khủng xúc thạch hữu thanh năi dĩ bố khỏa cao túc. Kim tắc bất năng nhĩ, do hưởng tiến bất triệt!

 

Thử Giáp đa viên – viên bất sinh Bắc ngạn, phi duy nhất xứ; hoặc hữu thủ () chi, phóng trước Bắc sơn trung, sơ bất văn thanh.

                                  /  Thủy Kinh Chú. Qu. XXXIII. Giang thủy 1  /.

~ Trong Hẽm có hai băi Cù Đường, Hoàng Long, mùa có những luồng sóng nước đập vào Băi rồi giật trở lại, những người xuôi ngược qua lại Hẽm này vốn (rất) sợ!

 

Trên Băi Cù Đường có Miếu Thần rất linh thiêng, quan Thích sử và các chức trấn thủ Quận qua đây đều không được thổi kèn gióng trống; giới thương buôn xuôi ngược qua đây sợ cây sào chống thuyền chạm vách đá núi gây ra tiếng động nên lấy vải bọc đầu sào lại - Hiện nay th́ Miếu đă hết linh thiêng, thế nhưng (người ta) vẫn cúng tế không thôi!

 

Hẽm núi này có nhiều vượn – vượn không sống ở phía bờ Bắc, (cũng) không chỉ sống ở một vùng; có người bắt vượn đem thả ở vùng núi Bắc, từ đó mới hết nghe tiếng vượn hú.

 

 

Theo số liệu thời cận đại th́ 3 Hẽm Núidài vào khoảng 193 cây số - trong đó 90 cây số có ḷng Hẽm hẹp, và 103 cây số c̣n lại ḷng Hẽm rộng răi.

 

3 Hẽm núi th́ Hẽm Tây Lăng dài 120 cs., Hẽm Vu Sơn 40 cs.

 

Hẽm Cù Đường 33 cs., ḷng Hẽm chỗ hẹp nhất chưa tới 50 thước.

 

Thủy thế Trường giang ở vùng 3 Hẽm núi rất hiểm ác, nước chảy gấp, sóng lại lớn và dữ - thời cổ, nếu có việc phải đi thuyền qua vùng này th́ đây là việc bất đắc dĩ!

 

Hẽm Cù Đường thế nước hung hiểm hơn hết, thuyền bè vào Hẽm Cù Đường th́ chỉ có thể đi từng chiếc một, và phải chờ chiếc trước đi chừng vài cây số th́ chiếc kế tiếp mới bắt đầu vào Hẽm được!

 

Về mặt Thủy lộ, Hẽm Cù Đường là Cửa ngơ vào đất Thục (Tứ Xuyên). Vào đất Thục theo đường sông th́ không thể không đi qua Hẽm núi này - bởi vậy, về mặt chiến lược, đây là điểm mà Quân sự gia thời nào cũng cố tranh chiếm cho được! Bài thứ nhất trong 2 bài thơ có tựa Trường giang Đỗ Phủ có câu “Cù Đường tranh nhất môn”.

 

(Phụ chú.

2 bài Trường Giang nói trên ở Quyển XII trong tập Đỗ Thi Kính Thuyên).

 

+ Bách Lao Quan.

Quan ải cổ ở mé Tây nam huyện Diễn (沔縣) tỉnh Thiểm Tây.

 

Triều Tùy (581 - 618) cho xây Bạch Mă Quan tại đây - về sau v́ ở huyện Lê Dương (黎陽) tỉnh Hà Nam có Cửa ải tên Bạch Mă Quan cho nên đổi tên lại là Bách Lao Quan.

 

Bộ Địa chí Thái B́nh Hoàn Vũ Kưchép:

~ Bách Lao Quan.

Tùy Khai Hoàng trung trí; dĩ Thục lộ hiểm, cố viết Bách Lao Quan (百牢關) - nhất vân trí tại Bách Lao Cốc.

      / Thái B́nh Hoàn Vũ Kư. Qu. CXXXIII. Sơn Nam Tây đạo. Tây huyện  /.

~ Bách Lao Quan.

Được xây trong khoảng Niên hiệu Khai Hoàng thời Tùy; v́ đường xá xứ Thục hiểm trở nên gọi là Bách Lao Quan - có thuyết nói thành được xây ở Bách Lao Cốc.

 

[Phụ chú.

- Khai Hoàng (581 - 600). Tên Niên hiệu của Tùy Văn đế (541 - 604; tại vị: 581 - 604), ông vua khai sáng Tùy triều (581 - 618)].

 

Ngược lên câu thứ nhất, “Trung Ba chi Đông Ba Đông sơn”.

Chữ Ba() nguyên nghĩa là “loài rắn lớn” (đại xà), tức loài trăn.

Thời cổ, đất Thục (tỉnh Tứ Xuyên ngày nay) có nhiều trăn, cho nên sau này người ta dùng chữ “BA” để phiếm chỉ đất Thục. Trung Ba có nghĩa là miền trung đất Thục.

 

Tiếng Ba sơn chỉ chung vùng núi non xứ Thục.

 

Câu này có nghĩa “Ở mặt Đông đất Thục là vùng núi non của miền Đông xứ Thục”.

 

Trở lại vấn đề áo thể thi của Đỗ Phủ.

Ngô Hăng (? - ?) thời Tống viết:

~ Nhiên thi tài áo (纔拗) tắc kiện nhi đa kỳ, nhập Luật tắc nhược, vi nan công.

(Hoàn Khê Thi Thoại [環溪詩話]. Qu. Trung).

 

(Dẫn từ:

Đỗ Phủ Quyển. Thượng Biên. Đường Tống chi Bộ. Đệ tam Sách. – Ngô Hăng).

 

~ Thế nhưng, thơ làm theo áo thể th́ (lời thơ) mạnh mẽ nhiều vẻ kỳ lạ, (cùng bài) làm theo Luật thi th́ yếu, khóhay.

(Hoàn Khê Thi Thoại. Qu. Trung).

 

Diệp Thích (1150 - 1223) viết:

~ Đỗ Phủ cương tác (強作) cận thể, dĩ công lực khí thế yểm đoạt (掩奪) chúng tác, nhiên đương thời vi Luật thi giả bất phục, thậm hoặc tuyệt khẩu bất đạo!

 

Chí bản Triều sơ niên, Luật thi đại hoại, Vương An Thạch, Hoàng Đ́nh Kiên dục kiêm dụng nhị thể, thiện () kỳ sở trường, nhiên chung bất năng thứ kỷ (庶幾) Đường nhân!

 

(Tập Học Kư Ngôn [習學記言]. Qu. XLIX).

 

(Dẫn từ:

Đỗ Phủ Quyển. Thượng Biên. Đường Tống chi Bộ. Đệ tam Sách. – Diệp Thích).

~ Đỗ Phủ làm thơ trái với Luật thi, dựa vào tài hoa cao xa của ḿnh (để rồi) phần nhiều vận dụng thể (mới) này trong sáng tác, thế nhưng người sáng tác Luật thi thời bấy giờ không  phục, thậm chí có người im lặng không nói ǵ tới!

Đến những năm đầu của bản Triều th́ Luật thi sa sút nhiều, Vương An Thạch, Hoàng Đ́nh Kiên muốn kiêm dùng cả 2 thể, rồi chuyên cái sở trường của ḿnh, nhưng rốt cục đă không sao bằng được người thời Đường!

(Tập Học Kư Ngôn. Qu. XLIX).

 

Minh Di:

+ Cương tác. Chữ [] ở đây đọc âm cương, không đọc là cưỡng [miễn cưỡng], và có nghĩa là cố chấp, là không thuận – hoặc nói khác đi là trái với

+ Nói cái công lực khí thếtức nói cái tài năng (làm thơ) của Đỗ Phủ.

+ Yểm đoạt chúng tác. Che lấp, lấn lướt các sáng tác.

 

Câu này ư nói Đỗ Phủ phần nhiều sáng tác theo thể thơ mới này.

 

Và thể thơ mới Đỗ Phủ vận dụng nói ở đây tức chỉ áo thể thi, chỉ luật thi biến thể, tùy theo cách nói của từng tác gia trong các tập Thi thoại. 

 

Cũng không rơ có phải v́ lư do Diệp Thích nêu ra trên đây hay không mà rồi một số tuyển tập Đường thi của chính người đời Đường tuyển, cùng thời hay sau Đỗ Phủ một chút, đă không đưa thơ Đỗ Phủ vào Tuyển tập của ḿnh, như:

 

(1). Đường Tả Bản Đường nhân tuyển Đường thi. Dật danh (Người tuyển không rơ).

(2). Hiệp Trung Tập (篋中集). Nguyên Kết (719 - 772) tuyển.

(3). Hà Nhạc Anh Linh Tập (河嶽英靈集). Ân Phan (? - ?) tuyển.

(4). Quốc Tú Tập (國秀集). Nhuế Đỉnh Chương (? - ?) tuyển.

(5). Ngự Lăm Thi (御覽詩). Lệnh Hồ Sở (765 - 836) tuyển.

(6). Trung Hưng Nhàn Khí Tập (中興間氣集). Cao Trọng Vũ (? - ?) tuyển.

(7). Cực Huyền Tập (極玄集). Diêu Hợp (775 - ~ 854) tuyển.

(8). Hựu Huyền Tập (又玄集). Vi Trang (~ 836 - 910) tuyển

(9). Tài Điệu Tập (才調集). Vi Cốc (? - ?) tuyển.

(10). Sưu Ngọc Tiểu Tập (搜玉小集). Dật danh (Tên người tuyển không rơ).

 

(Tham khảo:

Đường Nhân Tuyển Đường Thi (Thập Chủng). 

+ Trong 10 tuyển tập Đường thi kể trên mỗi Hựu Huyền Tập (Quyển Thượng) của Vi Trang là tuyển 7 bài luật thi của Đỗ Phủ - 5 bài ngũ ngôn và 2 bài thất ngôn:

1/. Tây giao (西郊). [Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. VIII].

2/. Xuân vọng (春望). [Qu. III].

3/. Vũ Miếu (禹廟). [Qu. XII].

4/. Sơn tự (山寺). [Qu. VI].

(Đỗ Phủ c̣n 1 bài ngũ ngôn Cổ thi cũng có tựa là Sơn tự Qu. X).

5/. Khiển hứng (遣興). [Qu. VII].

6/. Tống Hàn thập tứ Đông qui Cấn tỉnh (送韓十四東歸覲省). [Qu. VIII]. Thất ngôn.

7/. Nam lân (南鄰). [Qu. VII]. Thất ngôn.

 

Mấy trăm năm sau, khoảng đầu triều Nam Tống (1127 - 1279), Vưu Mậu (1125 - 1194) trong tập Toàn Đường Thi Thoại – luận b́nh tất cả 308 thi nhân thời Đường – cũng đă gạt tên Đỗ Phủ ra ngoài, không nói ǵ tới!

 

Ngoài ra, chú thích cuối bài thứ 6 trong Hí vi lục Tuyệt cú Dương Luân có đoạn viết:

~ Đương công chi thế, kỳ bài để (排詆) dịch bất thiểu hĩ!

~ Vào thời ông những lời hủy báng thơ ông cũng không phải ít!

 

Về áo thể thi nói chung và trong thơ của Đỗ Phủ nói riêng tôi đă tŕnh bày khá đầy đủ trong bài viết Đường Thi Một vài - đă đưa lên diễn đàn trước đây mấy năm - nhất là trong cuốn tuyển dịch thơ Đỗ Phủ của tôi ~ gồm 169 bài thuộc đủ thể loại, cũng đă tạm hoàn tất vào năm ngoái (2015) – có tựa là Đỗ Phủ. nghèo, bệnh, cô độc… một đời.

 

(Trong khi chưa đưa lên diễn đàn – hoặc chưa ấn hành, trong khả năng có thể, tôi vẫn tiếp tục bổ túc, dịch thêm một số bài thơ, sửa vài chữ trong một vài bài thơ đă dịch mà  tôi chưa vừa ư, cũng như duyệt xét lại, t́m những lầm lẫn, thiếu sót).    

 

Hoặc gặp những câu nào lạ lùng như 4 câu đầu bài Hoàng Hạc Lâu, không biết họ liền đổ cho áo thể thi, một thể thi mà họ cũng ấm ớ, chẳng biết qui luật ra sao - như cái ông được gọi là “học giả” Lê Hữu Mục, đă nói, ở Canada. 

 

Những người cứ tưởng những bằng bằng, trắc trắcghi trong các sách giáo khoa là tất cả Luật thơ Đường, để từ căn bản này mà luận Đường thi th́ không ǵ sai lầm hơn!

 

Tiếp đến, tôi nói về cái biên khảo của bà Huệ Thu.

 

Bà viết:

- Bài Hoàng Hc Lâu đưc kể như bài thơ hay nhất của Trung Hoa.

 

Xin hỏi bà Huệ Thu:

Học giả nào, thi nhân nào nói Hoàng Hạc Lâu bài thơ hay nhất của Trung Hoa?

 

Kế đến, nhận định này (“Hoàng Hạc Lâu là bài thơ hay nhất của Trung Hoa”) được đưa ra trong sách nào, tác phẩm nào của người đưa ra nhận định trên?

 

Đă gọi là biên khảo th́ nói phải có chứng cứ!

 

Lại nữa, bà Huệ Thu đă không biết rằng về bài Thất ngôn Luật thi hay nhất thời Đường thi nhân, học giả (hồ hết cũng là thi nhân) các thời nhận định rồi không giống nhau.

 

Nghiêm Vũ (? - ?) triều Nam Tống (1127 - 1279) trong Tập Thương Lương Thi thoại cho rằng bài Hoàng Hạc Lâu là Bài thất ngôn Luật thi hay nhất xưa nay!

 

Về bài Hoàng Hạc Lâu Nghiêm Vũ viết:

~ Đường nhân Thất ngôn Luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu vi đệ nhất.

                                         /  Thương Lương Thi Thoại (滄浪詩話). Thi b́nh. XLIV  /.

~ [Về] Thất ngôn Luật thi đời Đường th́ phải nói bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu là đệ nhất.

 

Nhưng Dương Thận lại nhận định bài Độc bất kiến của Thẩm Thuyên Kỳ rồi hay hơn bài Hoàng Hạc Lâu.

(Coi lời nhận định của Dương Thận ở một đoạn sau).

 

Trong khi đó th́ học giả Hồ Ứng Lân (1551 - 1602) cuối triều Minh (1368 - 1644), trong tập Thi Tẩu (詩藪), nhận định Bài Đăng cao của Đỗ Phủ là:

~ Cổ kim thất ngôn Luật thi chi quán.

~ Bài thất ngôn Luật thi hay nhất xưa nay.

(Dẫn trong Đường Thi Đại Quan).

 

Sau đây tôi dịch 3 bài thơ nói trên của Thẩm Thuyên Kỳ, Thôi Hiệu và Đỗ Phủ.

 

Độc Bất Kiến. 獨不見.

Lư gia thiếu phụ Uất Kim Đường (鬱金堂),

Hải yến song thê (雙棲) đại muội lương (玳瑁梁).

Cửu nguyệt hàn trâm (寒砧) thôi mộc diệp,

Thập niên chinh thú ức Liêu dương.

Bạch Lang (白狼) hà Bắc âm thư đoạn,

Đơn Phụng (丹鳳) thành Nam thu dạ trường.

Thùy vị hàm sầu độc bất kiến?

Cánh giao (更教) minh nguyệt chiếu lưu hoàng (流黃)!

[Thẩm Thuyên Kỳ Tập. Qu. I. Cổ ư tŕnh Bổ khuyết Kiều Tri Chi].

 

                                     Họ Lư dâu ở Uất Kim Đường,

                                     Rường khắc đồi mồi cặp én nương.

                                     Tháng chín hơi thu làm lá héo,

                                     Mười năm đồn thú nhớ Liêu Dương.

                                     Bạch Lang sông Bắc tin thư tuyệt,

                                     Đơn Phụng thành Nam thu dạ trường.

                                     Ai nói ôm sầu kiếp lẻ bóng?

                                     Đến cho trăng sáng ánh phai vàng!

 

                                     (Minh Di).

 

Bài này Thi tập của Thẩm Thuyên Kỳ (Qu. I) tựa là Cổ ư tŕnh Bổ khuyết Kiều Tri Chi.

 

Tựa nói trên thấy trong các Tổng tập Đường thi:

Đường Âm Thống Thiêm. Ất Thiêm. Qu. LIV.

Toàn Đường Thi. Qu. XCVI.

 

Các tựa khác trong các tuyển tập Đường thi:

Đường Thi B́nh Tuyển. Qu. IV. (Thất ngôn Luật) Độc bất kiến.

 

Đường Thi Biệt Tài Tập. Qu. XIII. (Thất ngôn Luật thi) Cổ ư.

 

Các bản tuyển Đường thi thường ghi tựa bài này là Cổ ư(古意) - tức ngắt lấy 2 chữ đầu của tựa bài thơ ghi trong Thi tập của Thẩm Thuyên Kỳ, như có thể thấy; trong khi đó trong các tuyển tập về Nhạc phủ th́ ghi tựa là Độc bất kiến - tức lấy 3 chữ cuối của câu 7

Trong Đường Thi Biệt Tài Tập (唐詩別裁集) - Quyển XIII, Thẩm Đức Tiềm (1673 - 1769) dẫn Nhạc phủ nói “Uất Kim Đường” phải là “Uất Kim Hương (鬱金香)”.

Chữ “Uất” c̣n đọc âm “Úc”.

 

[Chú thích.

+ Uất Kim Đường (鬱金堂).

Nhà giàu sang lấy cỏ Uất kim hương trộn với bùn trát vách pḥng của phụ nữ cho thơm.

Lương Vũ đế (464 - 549; tại vị: 502 - 549), trong bài Hà thủy chi trung ca, có 2 câu:

Lư gia lan thất (蘭室) quế vi lương,

Trung hữu Uất kim, Tô hợp hương.

(Lan thất là danh xưng đẹp đẽ chỉ chỗ ở của phụ nữ).

 

+ Hàn trâm (寒砧).

Trong thi từ cổ Trung Hoa thường dùng 2 chữ này để chỉ cảnh Thu tiêu điều hiu hắt, do đó sau này tiếng Hàn trâm được dùng để chỉ mùa Thu.

Thời cổ ở Trung Hoa người ta giặt quần áo trên 1 tảng đá, tảng đá này được gọi là TRÂM.

 

Bài Thu hứngthứ nhất của Đỗ Phủ, 2 câu cuối:

                        Hàn y xứ xứ thôi đao xích,

                        Bạch Đế thành cao cấp mộ trâm.

 

Bài Từ Đảo Luyện Tử của Phùng Diên Tỵ (903 - 960) thời Ngũ Đại (907 - 960):

             Thâm viện tĩnh, tiểu đ́nh không,

             Đoạn tục hàn trâm (寒砧) đoạn tục phong.

 

+ Liêu Dương.

Tên một huyện thời Hán (206 tr. Cn - 220 Cn), thuộc Quận Liêu Đông, trị sở cũ của huyện hiện nay ở về phía Tây bắc của Thị xă Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh.

 

+ Bạch lang hà (白狼河).

Tức Đại Lăng hà ở tỉnh Liêu Ninh hiện nay.

 

Sách Thủy Kinh Chú viết:

~ Đại Liêu thủy xuất tái () ngoại vệ (外衛) Bạch B́nh (白平) sơn, Đông nam nhập tái, quá Liêu Đông Tương B́nh huyện Tây…..; hựu Đông nam quá Pḥng huyện Tây….. Liêu thủy hữu () hội Bạch Lang thủy, thủy xuất hữu () Bắc B́nh Bạch Lang huyện.

                                                                        /  Thủy Kinh Chú. Qu. XIV. Đại Liêu thủy  /.

 

~ Đại Liêu thủy bắt nguồn ở núi Bạch B́nh ở mé ngoài quan ải, đổ vào ải ở phía Đông nam chảy qua mé Tây huyện Tương B́nh (quận) Liêu Đông….; rồi theo hướng Đông nam, chảy qua mặt Tây của Pḥng huyện….. Liêu thủy ở mặt Tây nhập sông Bạch Lang – (sông này) bắt nguồn từ phía Tây núi Bắc B́nh ở huyện Bạch Lang.

 

 + Đơn Phụng thành (丹鳳城).

Tức thành Trường An, Kinh đô Đường triều.

 

Cổng Nam của Cung Đại Minh trong thành Trường An tên là Cổng Đơn Phụng (Đơn = đỏ). Do đó sau này tiếng Đơn Phụng được dùng để phiếm chỉ Kinh thành Trường An.

 

Trong bài Tống Đàm nhị Phán quan Đỗ Phủ có 2 câu (5 / 6):

                  Tiễn nhĩ bạch đầu nhật,

                  Vĩnh hoài Đơn Phụng Thành.

                  (Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XIX).

                                                      Tiễn cháu lúc đầu bạc,

                                                      Nhớ hoài Đơn Phụng Thành.

(Về xưng hô, các tiếng nhĩ(), nhữ () là những tiếng người trên gọi người dưới).

 

+ Lưu hoàng (流黃).

Từ điển Từ Nguyên nêu 4 nghĩa của tiếng lưu hoàngnhư sau:

(a). Màu vàng sậm (Hạt hoàng sắc 褐黃色).

(b). Những phẩm vật có sắc vàng sậm. (Hạt hoàng sắc đích vật phẩm).

(c). Lưu huỳnh (hoàng). [Sulfur].

(d). Một loại hương.

 

Trong Thẩm Thuyên Kỳ. Tống Chi Vấn tập Hiệu chú [Thượng sách. Thẩm Thuyên Kỳ. Quyển I. Cổ ư tŕnh Kiều Bổ khuyết Tri Chi - chú thích số (5) Đào Mẫn và Dịch Thục Quỳnh chú giải tiếng lưu hoàng ở câu cuối là:

~ Hoàng hạt sắc, thử chỉ hoàng hạt sắc chức vật.

~ Màu vàng sậm, ở đây chỉ vải vóc màu vàng sậm.

 

Minh Di:

Chú giải như Đào Mẫn và Dịch Thục Quỳnh tức ư nói thiếu phụ, con dâu nhà họ Lư, bận áo màu vàng sậm, ánh trăng chiếu trên áo màu vàng sậm đó.

Chú giải như thế th́ không mấy thơ cho lắm! Chữ thơ có nhiều lúc rồi không là thứ chữ với nghĩa cứng chết trong Tự điển.

 

Ở đây, tiếng lưu hoàng chỉ ánh trăng th́ đúng hơn!

 

Màu vàng tối ở đây là sắc trong tâm tưởng - trăng thu ở đây có thể rất trong, sáng, nhưng trong ḷng sầu muộn của thiếu phụ rồi biến thành vàng úa].

 

 

Vương Phu Chi (1619 - 1692), trong tập Đường Thi B́nh Tuyển, ghi tựa bài thơ trên của Thẩm Thuyên Kỳ là Độc bất kiến”, và ông b́nh như sau:

~ Ṭng Khởi nhập Hàm (), linh dương quải giốc; ṭng Hàm nhập Phúc (), độc kiển trừu ty. Đệ thất cú Sư hống (獅吼) Tuyết sơn, Long ngâm thu thủy, hợp thành y nỉ (旖旎) thiều thái (韶采) kinh nhân. Cổ kim suy vi tuyệt xướng đương bất vu ()!

Kỳ sở dĩ như đại biện tài nhân thuyết cổ kim sự lư, vị hữu dự lập chi , nhi hồng tiêm nhất trí, nhân đản hâm hâm vu kỳ chu ngọc.

                                                 /  Đường Thi B́nh Tuyển. Qu. IV. Thất ngôn Luật  /.

 

~ Từ 2 câu Khởi nhập 2 câu Thừa, (th́ như) dê núi móc sừng lên cành; từ 2 câu Thừa nhập 2 câu Chuyển, (th́ như) con tằm cô độc nhả tơ. Câu 7 (th́ như) Sư tử rống giữa Tuyết Sơn, (như) Rồng ngân mặt nước thu, hợp thành một vẻ nhẹ nhàng dịu dàng (và) một tư thái mỹ lệ động ḷng người. Cổ kim tôn là bài thơ hay nhất chẳng phải hư dối!

 

Sự thể cũng như người đại hùng biện thuyết giảng sự lư cổ kim, lúc cái của sự việc chưa hiện th́ đă thấy suốt tới chỗ nhỏ nhặt của sự việc, người ta chỉ sướng thích mà thưởng ngoạn những châu cùng ngọc.

 

[Chú thích.

+ Linh dương quải giốc. Dê núi móc sừng lên cành.

Câu linh dương quải giốc là một Câu rất thường thấy trong các Ngữ Lục Thiền tông, ư nói không t́m cầu, câu chấp vào ngôn ngữ văn tự để đạt giác ngộ.

Hồ Chấn Hanh viết:

~ Thịnh Đường chư Công, duy tại hứng thú, linh dương quải giốc, vô tích khả cầu, cố kỳ diệu xứ thấu triệt linh lung, bất khả sắc tướng, ngôn hữu tận nhi ư vô cùng.

 

Nhược văn tự vi thi, tài học vi thi, nghị luận vi thi, phù khởi bất công, khứ chi dũ viễn!

 

Thi Pháp vân: Đường nhân dĩ thi vi thi, Tống nhân dĩ văn vi thi; Đường nhân chủ tính, t́nh cố ư Tam bách thiên vi cận; Tống nhân chủ nghị luận cố ư Tam bách thiên vi viễn.

                                                 /  Đường Âm Quí Thiêm. Qu. II. Pháp vi 1. Thống luận  /.

~ Các thi gia lớn thời Thịnh Đường, (làm thơ) chỉ chỗ hứng thú, (thơ của các vị rồi như) con dê núi móc sừng cành cây, không có dấu tích để lần t́m được, do đó chỗ kỳ diệu ngân vang tới tận cùng, không thể lấy sắc tướng mà thấy được, lời tận mà ư vô cùng.

Nếu lấy chữ nghĩa làm thơ, lấy tài học làm thơ, lấy nghị luận làm thơ, (cứ như đây) lẽ nào thơ lại không khéo, nhưng như vậy th́ rất xa với cái kỳ diệu của thơ!

 

Thi Pháp nói: Người đời Đường lấy thơ làm thơ, người đời Tống lấy văn làm thơ; thơ của người thời Đường chủ tả tính, t́nh, v́ thế gần với Kinh Thi, thơ của người thời Tống chủ về nghị luận, do đó xa rời Kinh Thi)]. 

 

Đăng cao.

 

Phong cấp thiên cao viên tiếu ai,

Chử thanh sa bạch điểu phi hồi. (1).

Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,

Bất tận trường giang cổn cổn lai. (2).

Vạn lư bi thu thường tác khách,

Bách niên đa bệnh độc đăng đài. (3).

Gian nan khổ hận phiền sương mấn,

Lạo đảo tân đ́nh trọc tửu bôi. (4).

 

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XVII).

 

                                   Gió rát trời cao vượn hú sầu,

                                   Bến trong cát trắng chim quay đầu. (đối 1).

                                   Vô biên lá rụng veo veo xuống,

                                   Bất tận sông dài cuộn cuộn lưu. (đối 2).

                                   Vạn dặm buồn thu thường kiếp khách,

                                   Một đời nhiều bệnh độc lên lầu. (đối 3).

                                   Gian nan khổ hận bờ đầu trắng,

                                   Trầm trệ vừa ngưng chén rượu ngầu. (đối 4).  

 

                                   (Minh Di).

 

Lư Đông Dương (1447 - 1516) đời Minh viết trong Lộc Đường Thi Thoại (麓堂詩話):

~                        Vô biên lạc mộc tiêu tiêu hạ,

                          Bất tận Trường Giang cổn cổn lai.

                          Vạn lư bi thu thường tác khách,

                          Bách niên đa bệnh độc đăng đài!

Cảnh thị hà đẳng cảnh, sự thị hà đẳng sự?

Tống nhân năi dĩ Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang vi Luật thi tuyệt xướng, hà gia?

Lộc Đường Thi Thoại. 102  /.

 

~                                      Vô biên lá rụng vèo vèo xuống,

                                        Bất tận Trường Giang cuộn cuộn trôi.

                                        Vạn dặm buồn thu thường kiếp khách,

                                        Một đời nhiều bệnh độc lên lầu!

 

Cảnh là cảnh ǵ đây, việc là việc ǵ đây?

 

Người đời Tống th́ nói Cửu nhật Lam Điền Thôi thị tranglà bài Luật thi hay nhất, là sao vậy?

 

Minh Di:

+ Câu “Cảnh là cảnh ǵ đây, việc là việc ǵ đây?”.

 

Ư nói cảnh ǵ mà mênh mang trong khi con người th́ quá nhỏ, kiếp người th́ quá ngắn. Việc th́ ngổn ngang rối bời, sự đời 10 việc 9 chẳng như, không ǵ là chẳng khổ!

 

Thấy gió lộng, trời cao, vượn hú thê thiết dạ rồi bùi ngùi, thấy chim bay trở lại th́ buồn cho kiếp xa nhà, nh́n lá đổ miên man, sông nước mênh mang trôi không cùng tận mà tâm tư bồi hồi, một đời thân bệnh là khổ, thân người rồi không ǵ là chẳng khổ!

 

+ Câu cuối, ư của Lư Đông Dương cho rằng bài Đăng cao là bài Luật thi hay nhất của Đỗ Phủ, thế nhưng không hiểu sao người đời Tống (chỉ thi nhân đời Tống) lại cho rằng bài Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang - cũng của Đỗ Phủ, là bài Luật thi hay nhất?

 

Ngoài văn chương Lư Đông Dương c̣n sở trường Thư pháp, các thể Triện thư, Lệ thư và Thảo thư – về Thảo thư th́ ông tự thành một phong cách riêng.

 

Sử gia, mà cũng là Văn học gia trứ danh, Vương Thế Trinh (1526 - 1590) luận:

~ Lăo Đỗ tập trung ngô thậm ái “phong cấp thiên cao” nhất chương, kết dịch vi nhược.

                                                                           Nghệ Uyển Chi Ngôn. Qu. IV. 26 /.

~ Trong Thi tập của Đỗ Phủ tôi rất thích bài Đăng cao”, đoạn kết cũng hơi yếu.

 

Minh Di:

2 chữ hơi yếu ở đây là nói tinh thần của Đỗ Phủ, không nói về nghệ thuật sáng tác.

 

Khi đọc bài Đăng cao Hà Xước (1661 - 1722) đời Thanh đă viết như sau:

~ Viễn khách bi thu, hựu dĩ lăo bệnh chỉ tửu, kỳ vô liêu khả tri!

Thiên tự vạn đoan, vô thủ vô vĩ, sử nhân vô xứ tróc mạc, thử đẳng thi như hà khả học!

                              /  Nghĩa Môn Độc Thư Kư. Qu. LIV. Đỗ Công Bộ Tập. Cận thể  /.

~ Khách xa nhà buồn Thu, lại nỗi già bệnh phải bỏ rượu, nỗi buồn phiền rồi có thể rơ! 

Ngàn đầu vạn mối, không thấy đầu không thấy đuôi, làm cho người ta không có chỗ để suy đoán, nắm bắt, thơ như thế này làm sao học được đây!

 

Dương Luân b́nh cuối bài thơ:

~ Cao hồn nhất khí, cổ kim độc bộ, đáng vi Đỗ tập thất ngôn Luật thi đệ nhất.

~ Toàn một giọng chân t́nh thanh cao, xưa nay vượt trên tất cả, đáng là bài thất ngôn    Luật thi hay nhất trong thi tập của Đỗ Phủ.

 

   

Và sau cùng:

 

Hoàng Hạc Lâu (黃鶴樓).

 

Tích nhân dĩ thừa bạch vân khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tái không du du.

T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

 

                                 Người xưa đă cỡi mây trắng khuất,

                                 Quạnh quẽ nơi đây Hoàng Hạc Lâu.

                                 Hoàng Hạc đă khuất chẳng trở lại,

                                 Trắng mây ngàn thuở trôi đâu đâu.

                                 Hán Dương lớp lớp cây mờ biếc,

                                 Anh Vũ xanh xanh cỏ ngát màu.

                                 Bóng ngả, quê nhà đâu đó hỡi?

                                 Trên sông khói sóng khiến người sầu!

 

                                 (Minh Di).

 

Câu mở đầu, bạch vân khứ đúng, câu Hoàng hạc khứ sai!

Vấn đề này tôi đă phân tích biện luận rất rơ trong bài Hương quan hà xứ, với  những chứng cứ không thể chối căi! (Sẽ đăng lại bài này).

 

Minh Di:

3 BàiĐộc Bất Kiến, Hoàng Hạc Lâu, Đăng Cao - về phương diện nghệ thuật, đă đạt cảnh giới tối cao của thi ca.

 

Thế nhưng, tại sao nhận định của mỗi tác gia lại mỗi khác?

 

Tất cả rồi tùy tâm tưởng, tùy cảm nhận bản thân mà mỗi tác gia, thi gia, mỗi học giả có nhận định khác nhau; tâm tưởng, cảm nhận ứng hợp với bài thơ nào th́ cho bài thơ đó là hay nhất! Nhưng, cũng cần nhắc lại ở đây, tùy ǵ th́ tùy trước hết tự thân bài thơ phải có phong cách nghệ thuật tuyệt cao!

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính