Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

 

(KỲ 7)

 

 

 

Từ 2 bài “dịch” bài Hoàng Hạc Lâu của bà Huệ Thu và bài dịch bài Khúc Giang (2) của ông Tản Đà trên đây có 2 vấn đề: dịch thơ và áo thể thi.

 

A. Dịch thơ.

 

Đường thi khó dịch, nhất là thơ của những tác gia lớn.

 

Khó dịch kiến thức của những thi nhân nói trên rất uyên bác, nếu không có công phu đọc sách nào đó th́ nhiều lúc đến không hiểu thi nhân nói ǵ, đoán ṃ, để rồi dịch sai!

 

Lấy 2 thí dụ của 2 người dịch thơ Đường:

(1). Câu cuối bài Đăng Cao của Đỗ Phủ:

Lạo đảo tân đ́nh (新亭) trọc tửu bôi!

 

Lê Nguyễn Lưu, trong tập Đường Thi Tuyển Dịch(in trong nước), dịch như sau:

                             Chén rượu Tân Đ́nh chếnh choáng lâu.

 

Khi viết hoa 2 chữ Tân Đ́nh th́ có thể thấy ngay Lê Nguyễn Lưu hiểu 2 chữ này tên riêng, tên của 1 thứ rượu, 1 loại rượu nào đó, trong khi 2 chữ này chỉ giản dị có nghĩa là mới ngưng (bỏ rượu)” – đă bỏ rượu, không được uống rượu th́ làm thế nào mà chếnh choáng lâu cho được đây?

 

Lê Nguyễn Lưu dịch tầm bậy, sai hoàn toàn!

 

(Minh Di.

 

+ Trường hợp Đỗ Phủ ở đây là v́ bệnh phổi nặng, phải cử rượu.

 

Đă cử rượu th́ sao chếnh choáng” – lại chếnh choáng lâu nữa!

 

Lê Nguyễn Lưu rồi chưa thông Hán văn! Đă không hiểu th́ xin đừng dịch ẩu, chết người!

 

+ Chữ tân () có nghĩa là “mới, vừa”, chỉ thời gian, chữ đ́nh () có nghĩa là “dừng lại”.

 

Chữ (chỗ người đi đường xa dừng chân để nghỉ ngơi, ăn uống….) và chữ (dừng lại) dùng thay thế cho nhau được, tức trong Văn tự học Trung Hoa gọi là chữ GIẢ TÁ).  

 

Tiếp đến là tiếng chếnh choáng, có lẽ Lê Nguyễn Lưu dùng 2 chữ này để mà dịch 2 chữ lạo đảo của nguyên tác?

Từ điển Từ Nguyên giảng nghĩa 2 chữ lạo đảo như sau:

 

[Lạo đảo]. (2). Sa đà (蹉跎) thất ư, h́nh dung suy đồi.

 

[Lạo đảo]. (2). Lỡ thời, không xứng ư, h́nh dung tiều tụy.

 

Đây là chưa kể Lê Nguyễn Lưu đă lờ đi, không dịch 3 chữ trọc tửu bôi - nghĩachén rượu đục, có hiểu đâu mà dịch, từ đó rồi thấy được 2 chữ tân đ́nh phải có nghĩa khác.

 

(2). Hai câu đầu bài Trà Ca (tức Thất uyển Trà ca) của Lư Đồng (795 - 835):

Nhật cao trượng ngũ thụy chính nùng,

 

Quân tướng đả môn kinh Chu công.

                                Trời lên trượng rưỡi giấc đương nồng,

                                Quân tướng gơ nhà kinh mộng hồn. 

 

Vũ Thế Ngọc (ở Mỹ), trong cuốn Trà Kinh (trang 67) của ḿnh, đă dịch như sau:

Trời cao năm trượng vẫn ngủ say,

Quan quân đập cửa khinh động lăo Chu.

 

(a). Trượng ngũ (trượng rưỡi) có tuyển bản Đường thi chép là ngũ trượng, căn cứ  bản này cho nên Vũ Thế Ngọc dịch là năm trượng!

Ở đây, tiếng trượng rưỡi đúng hơn.

 

1 trượng thời Đường = 3.11 m, như vậy, trượng rưỡi = ~ 4.66 m.

 

Mặt trời lên mới khoảng 4.66 m tức chưa lên cao lắm, tức tương đối c̣n sớm, giấc ngủ đương ngon do đó mà nói giấc đương nồng”!

 

C̣n khi mặt trời đă cao tới 15.55 m (5 trượng) th́ đă trễ, người đă thức giấc từ lâu, cứ lư th́ không thể nói thụy chính nùng được!

 

Dĩ nhiên, 2 số 4.66 m15.55 m chỉ là những con số tỷ dụ, so sánh mặt trời c̣n thấp hay đă lên cao, không nhất định chỉ độ cao chính xác theo chỉ định của số.

 

(b). Tiếp đến, tiếng Chu công dịch là lăo Chu hàm hồ, lăo Chulăo Chu nào?

 

Vũ Thế Ngọc không giải thích, v́ lẽ giản dị là ông ta chẳng hiểu Lư Đồng nói cái ǵ?

 

Thế th́, những độc giả không biết Hán văn của ông làm sao hiểu Lư Đồng nói cái ǵ?    

 

Minh Di:

Chu công đây tức Chu Công Đán (? - ? tr. Cn), con thứ 4 của Chu Văn vương (? - ?) - em của Chu Vũ vương (? - ?; tại vị: 1121 - ? tr. Cn), là nhân vật có công lớn trong việc giúp Vũ vương lật đổ Thương triều.

2 chữ Chu công ở đây chỉ giấc mộng, tức giấc ngủ:

~ Tử viết: - Thậm hĩ ngô suy dă, cửu hĩ ngô bất phục mộng kiến Chu công!

                                                      /Luận Ngữ. Thuật Nhi. 05  /.

~ Thầy nói: - Ta suy quá rồi, đă lâu lắm ta không mộng thấy Chu công!

 

Chữđiển tích Lư Đồng dùng ở câu thứ 2 xuất từ đó, từ sách Luận Ngữ!

 

Câu đầu, Nhật cao trượng ngũ thụy chính nùng, cho biết mặt trời chưa lên cao lắm cho nên tác giả (Lư Đồng) vẫn c̣n ngủ say.

 

Đang ngủ say th́ “Quân tướng đả môn kinh Chu công” ~ do đó, ở đây, dầu có không rơ xuất xứ điển tích đi nữa th́ với chút suy nghĩ, nối kết ư của câu trước và câu sau, để từ đó mà hiểu câu “kinh Chu công” là nói kinh động giấc ngủ của tác giả (Lư Đồng).

 

Lư Đồng ngủ mà “kinh động (giấc ngủ của) lăo Chu, làm ǵ có cái lư này?

 

Đâu đó tôi c̣n thấy một vài người cũng để nguyên chữ “Chu Công”, không dịch – cũng v́ không rơ điển tích tôi dẫn trên!

 

Cũng chung quanh Vũ Thế Ngọc và chuyện Đường thi.

 

Vũ Thế Ngọc có viết cuốn VƯƠNG DUY chân diện mục.

 

Ở cuối Cuốn Sách nói trên, trong phần “THƯ MỤC CHỌN LỌC” (THI TẬP – trang 185) Vũ Thế Ngọc viết: 

       ~ Tôi dùng sách “Vương Hữu Thừa Tập Chú” 王右丞集注 của Triệu Độ Thành (趙殿成) gồm hai cuốn trong Tứ Bộ Yếu in năm 1736.

(Sách trên do NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP HỒ CHÍ MINH xuất bản năm 2006).

 

+ Nếu như Vũ Thế Ngọc thực sự “dùng sách”Vương Hữu Thừa Tập Tiên Chú trong bộ tùng thư Tứ Bộ Bị Yếu như ông ta nói trong câu dẫn trên th́ ông ta không thể nào sai những lỗi - và là lỗi rất nặng, sau đây:

 

1/. Viết thiếu tên tựa sách là Vương Hữu Thừa Tập Chú, thay v́ tên đầy đủ của tựa sách là Vương Hữu Thừa Tập Tiên Chú (王右丞集箋注), tức thiếu chữ Tiên.

Kế đó, tác giả bản chú giải thi tập của Vương Duy ở đây là Triệu Điện Thành (趙殿成) đời Thanh (1644 - 1911).

Và, điều rất đáng nói ở đây là không biết ông ta đọc mặt chữ, tra từ điển ra làm sao mà chữ  Điện (殿) đọc ra âm Độ, để tên Triệu Điện Thành viết là Triệu Độ Thành!

 

2/. Tiếp đến, lại thêm 1 cái sai nặng khi Vũ Thế Ngọc viết Tứ Bộ Yếu

Viết vậy là không chính xác, danh xưng chính xác là Tứ Bộ Bị Yếu (四部備要) - tức chữ Bị (Bi + nặng)Yếu, không là chữ (Bi + sắc)Yếu.

Viết như thế cho thấy là ông Vũ Thế Ngọc chẳng biết về Bộ Tùng thư nổi tiếng này mà bất cứ người hơi biết về Cổ học Trung Hoa ai cũng biết.

 

Từ 2 điểm nêu trên th́ rơ Vũ Thế Ngọc đă chép những điều trên từ một cuốn sách in trong nước, sách này sai, ông ta cứ nhắm mắt mà chép lại! 

Riêng về năm xuất bản bộ Vương Hữu Thừa Tập Tiên Chú th́ tôi chưa rơ có phải là năm 1736 như ông Vũ Thế Ngọc, đúng hơn là một cuốn sách nào đó trong nước, chép hay không? V́ đây là năm đề tựa của tác phẩm.

 

Cuối phần Tự (Đề tựa) cho bản chú giải trên Triệu Điện Thành ghi:

~ Càn Long nguyên niên, tuế tại Bính Th́n, Chinh nguyệt vọng nhật.

~ Năm đầu Niên hiệu Càn Long, năm Bính Th́n, ngày rằm tháng Giêng.

 

Minh Di:

Năm Bính Th́n Triệu Điện Thành ghi ở câu trên là năm 1736.

 

Triệu Điện Thành (? - ?) đă mất 8 năm, từ năm 1728 cho tới năm 1736, mới chú thích xong cuốn Vương Hữu Thừa Tập Tiên Chú nói trên.

Bản chú giải này được Trung Hoa Thư Cục (HC) in lần đầu vào năm 1972 – sau đó được in lại [trùng ấn] năm 1975. Bản tôi có trong tay là Bản trùng ấn này.

 

Bộ Tùng thư này đầu tiên do nhà xuất bản Trung Hoa Thư Cục tuyển chọn, sưu tập thư tịch Cổ điển thuộc 4 loại Kinh. Sử. Tử. Tập – bởi vậy mà được gọi là Tứ Bộ, và bắt đầu từ năm 1936 đă lần lượt ấn hành trên dưới 400 tác phẩm.  

 

Những tác phẩm trong bộ Tùng thư này phần lớn được chọn từ những bản chú giải và hiệu đính của học giả Thanh triều (1644 - 1911).

 

Sách b́a cứng (tinh trang bản), màu lá cây sậm - chữ in ngoài b́a sách và ở gáy sách màu vàng kim - khổ sách: 19 cm x 13.4 cm. Chữ in dùng mẫu chữ đời Tống, cỡ lớn.

 

Trước năm 75 tôi mua được một số sách về Sử học trong bộ Tứ Bộ Bị Yếu này.

 

Ở trên tôi nói Vũ Thế Ngọc chẳng biết ǵ về bộ Tùng thư Tứ Bộ Bị Yếu, nói khác đi là Vũ Thế Ngọc đă dối gạt độc giả. Tôi khẳng định như vậy!

 

Tại sao tôi lại dám khẳng định như vậy, đây là điều tôi chứng minh sau đây.

 

Nếu Vũ Thế Ngọc có Bản chú giải thi tập Vương Duy của Triệu Điện Thành được tập trong bộ Tùng thư Tứ Bộ Bị Yếu th́ ông ta phải biết những chi tiết sau đây:

Bộ Tùng thư Tứ Bộ Bị Yếudo nhà xuất bản Trung Hoa Thư Cục giữ bản quyền.

 

Những tác phẩm trong bộ Tùng thư nói trên được nhà xuất bản kể trên ấn hành đều có mẫu tŕnh bày như sau:

~ Sau tờ b́a trước tác phẩm:

 

Tờ thứ 1 thường là tờ giấy trắng, không in chữ.

 

Tờ thứ 2, mặt trước (trang trước) ghi tên tác phẩm, mặt sau in chữ như sau:

 

[Tứ Bộ Bị Yếu]. B́nh trang bản (b́a mềm). Khổ: 13.1 x 18.9 cm.

 

Bản chú giải Lăo Tử của Vương Bật (226 - 249) triều Ngụy (220 - 265) khoảng sơ kỳ thời Tam Quốc (220 - 280).

 

Hàng chữ ở lề trái trang, mé dưới: “Bản quyền sở hữu bất hứa phiên ấn”.

Chúng ta thấy, ở bên mặt trang, ở cái khung bên trong là 4 chữ “TỨ BỘ BỊ YẾU”.

 

Nếu có Bản chú giải của Triệu Điện Thành th́ Vũ Thế Ngọc phải đọc, và ghi chính xác tên bộ Tùng thư. Không lẽ chữ “BỊ” () mà Vũ Thế Ngọc đọc không ra?

Trong một cuốn sách của ông ta, chừng như là viết về tiếng Hán Việt th́ phải, tôi được biết Vũ Thế Ngọc từng là giảng viên dạy chữ Hán ở Đại học Vạn Hạnh trước 75.

 

Dạy chữ Hán ở Đại học, dầu là Đại học tư đi nữa, mà như vậy sao?

 

Ở b́a sau cuốn VƯƠNG DUY chân diện mục có mấy gịng như sau:

- … Cho đến tận ngày nay Đường thi vẫn là loại thơ được chính giới thi sĩ Việt Nam mến chuộng hơn bất cứ một loại thi ca nào khác… Tuy nhiên chúng ta vẫn bị thời đại vượt qua thành một khoảng trống lớn: Nếu hồi đầu thế kỷ XX, một người trí thức Việt Nam có thể thưởng thức được nền văn chương Hán tự y hệt như bất cứ một nhà trí thức Trung Quốc nào khác th́ cho đến ngày nay, những năm đầu của thế kỷ XXI, phần lớn người Việt Nam đă không c̣n có thể đọc được Hán văn nữa.

 

Nói như Vũ Thế Ngọc th́ chỉ cần đọc được chữ Hán là thưởng thức được Đường thi?

 

Đọc được chữ Hán chưa đủ, phải có kiến thức, tức phải đọc nhiều mới nhận ra được cái ư vị của Đường thi, nhất là của các thi gia lớn như Đỗ Phủ, Lư Bạch, Vương Duy….

 

Cứ trường hợp Vũ Thế Ngọc đây th́ rơ.

 

Vũ Thế Ngọc biết Hán tự đấy - c̣n biết nhiều hay ít, thâm, thiển ra sao, tới đây, có lẽ mọi người đă thấy. Một câu thơ với một điển tích xuất từ một cuốn sách loại Kinh điển như Luận Ngữ đây Vũ Thế Ngọc c̣n mơ màng như trong giấc mộng th́ người đọc không hiểu Hán văn làm sao mà rơ được ông ta “thưởng thức” Đường thi như thế nào? hướng dẫn người khác thưởng thức ra làm sao? Và, như thế th́ sự thưởng thức ở đây rồi ở cái chỗ nào? - Không phải dễ đâu!

 

Tổng kết về việc dịch thơ:

Người ta thường nói tới 2 lối dịch: ~ dịch sát và dịch thoát.

 

Nói cho chính xác th́ chỉ có một lối mà thôi: dịch thoát mà không hiểu, hay hiểu lơ mơ ư nghĩa của nguyên tác, ĺa ư nghĩa của chữ, để từ đó suy đoán càn, chuyển dịch bậy!

 

Không hiểu chữ nghĩa th́ không “THOÁT” ngă nào được hết! 

 

B. Áo thể thi.

 

ÁO () có nghĩa là “không thuận miệng”, “không thuận theo”.

 

Áo thể thi là thể thơ mà thanh điệu b́nh / trắc không y theo thường cách của Luật thi.

 

Áo thể thi là một thể Luật thi riêng, có những luật riêng, tách khỏi Luật thi nguyên thủy.   Đỗ Phủ sáng tác theo thể thi này rất nhiều, ngũ ngôn cũng như thất ngôn, kể cả bát cú cũng như tuyệt cú ông đều có. Trong cuốn sách về Đỗ Phủ đă nói ở một đoạn trước - tôi tuyển dịch vài chục bài về thể Luật thi đặc biệt này.

 

Khi nói Luật thi của Đỗ Phủ th́ chủ yếu là nói về áo thể Luật thi này.

 

Tôi từng nghe nhiều người khi nói đến Đỗ Phủ th́ đều nói - làm như ḿnh rành lắm, là Đỗ Phủ là vua Luật thi! Thế nhưng, khi gặp phải những bài áo thể thi của ông tất cả đều không biết đây là luật ǵ, để rồi suy đoán là phá cách, hoặc không th́ lặng thinh! V́ lẽ rất giản dị là những người này chỉ biết cái Luật thi giáo khoa như bà Huệ Thu đây!

 

Không biết áo thể thi th́ rất ngỡ ngàng, để rồi cho đây là Luật thi phá cách, hay bất cứ tiếng nào họ biết được! 

 

Về áo thể thi (拗體詩) của Đỗ Phủ, cuốn Đường Đại Thi Học viết:

~ Đỗ chi Tuyệt thi Áo thể cư thập phân chi cửu.

                             /  Đường Đại Thi Học. III. Thịnh Đường. Lư, Đỗ tỷ giảo – Đỗ Phủ.

                                                        (2). Thanh điệu – Giáp. Cổ thể  /. 

~ Thơ Tuyệt cú của Đỗ Phủ th́ Tuyệt cú Áo thể chiếm 9 phần 10.

 

Và ở một đoạn sau nữa cuốn Đường Đại Thi Họcdẫn trên cho biết:

~ Đỗ sinh b́nh cái dĩ áo thể vi chính cách, như:

                                  Hoàng Tứ Nương gia hoa măn khê,

                                  Thiên đóa vạn đóa áp chi đê (壓枝低).

                                  Lưu liên (流連) hí điệp thời thời vũ,

                                  Tự tại kiều oanh cáp cáp đề (恰恰啼).

 

Hựu như:

               Giang sơn phi hoa năo bất triệt (惱不徹),

               Vô xứ cáo tố không điên cuồng.

               Tẩu mịch Nam lân ái tửu bạn,

               Kinh tuần (經旬) xuất ẩm độc không sàng.

 

Hựu “Yến tử” viết:

                             Thục tri (孰知) mao trai (茅齋) tuyệt đê tiểu,

                             Giang thượng yến tử cố () lai tần (來頻).

                             Hàm nê điểm ô () cầm thư nội,

                             Cánh tiếp phi trùng đả trước nhân.

 

Hựu “Qú Châu” viết:

                                Trung Ba (中巴) chi đông Ba Đông sơn (巴東山),

                                Giang thủy khai quan lưu kỳ gian,

                                Bạch Đế cao vi Tam Giáp trấn,

                                Cù Đường hiểm quá Bách Lao Quan.

 

Bắc Tống Hoàng Sơn Cốc, Kim Nguyên Di Sơn, Minh Lư Mộng Dương quân học thử điệu.

minh kỳ Cổ điệu tắc Luật điệu dị minh liệu hĩ.

                                                               /  Sđd. Mục thứ đă dẫn /. 

 

 

~ Đỗ Phủ một đời lấy áo thể thi làm chính cách, như:

                             Hoa khắp khe nhà Hoàng tứ nương,

                             Ngàn đóa, vạn đóa trĩu oằn cành .

                             Chờn vờn bướm lượn thường thường múa,

                             Tự tại oanh tươi tíu tít lừng.

 

Và như:

            Non sông hoa bay khổ chẳng dứt,

            Không chỗ thổ lộ tâm điên cuồng.

            Chạy tới xóm Nam kiếm bạn rượu,

            Mười ngày uống suốt để giường không.

 

Lại như bài tả “chim én”:

                                      Ai hay nhà tranh quá là nhỏ.

                                      Trên sóng én đó tới bao lần.

                                      Ngậm bùn vấy dơ nơi đàn sách,

                                      Lại nữa sâu bay đập bám thân.

 

Lại như bài về “Qú Châu”:

                                          Bên đông Trung Ba, Ba Đông Sơn,

                                          Đầu ải sông trôi luồn qua non.

                                          Bạch Đế cao trên Tam Giáp trấn,

                                          Cù Đường hiểm quá Bách Lao Quan.

 

Hoàng Sơn Cốc đời Bắc Tống, Nguyên Di Sơn đời Kim, Lư Mộng Dương đời Minh đều học theo điệu này. 

 

Đă hiểu thanh điệu Cổ thi th́ thanh điệu Luật thi rồi dễ hiểu.

 

[Chú thích.

 

2 bài thất tuyệt đầu tiên,Hoàng tứ nương gia, Giang sơn phi hoa…” dẫn trong đoạn trên đây là 2 bài trong 7 bài Giang bạn độc bộ tầm hoa thất tuyệt cú

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. VIII). 

 

(1). Bài đầu “Hoàng tứ nương gia….” là bài thứ 6.

Câu 1: “Hoàng tứ nương gia hoa măn khê”, chữ “khê” (), nghĩa là “khe suối”.

Bản chú giải Đỗ Thi Kính Thuyên ghi là “hề” (), nghĩa là “con đường nhỏ”.

Hoàng tứ nương là một bà hàng xóm nào đó của Đỗ Phủ - Hoàng là tên họ, tứ là thứ bậc trong nhà, nương là tiếng dùng chỉ đàn bà.

 

(2). Bài kế, “Giang sơn phi hoa….” là bài thứ nhất.

 

Câu 1: “Giang sơn, Đỗ Thi Kinh Thuyên ghi là “Giang thượng.

 

Câu 2: không điên cuồng”, Đỗ Thi Kinh Thuyên ghi chỉ điên cuồng”.

 

(3). Bài tuyệt cú thứ 3 Thc tri mao trai….” dẫn ở trên là bài thứ 3 trong 9 bài tuyệt cú có tựa đề là Tuyệt cú mạn hứng cửu thủ (Qu. VIII).   

 

(4). Bài tuyệt cú thứ 4 Trung Ba chi đông…” nói trên là bài thứ nhất trong 10 bài tuyệt cú có tựa là Qú Châu Ca thập tuyệt cú. (Qu. XIII).

Bài này:

 

Câu 1 Trung Ba chi đông Ba Đông sơn toàn chữ b́nh thanh,

 

Câu 2, “Giang thủy khai quan lưu kỳ gian”, gồm 6 b́nh một trắc.

Thế nhưng nghe vẫn êm tai].

 

Và như thế, Luật thi thời kỳ đầu tới Đỗ Phủ th́ có những biến hóa, thay đổi, biến thể để thành 1 Luật thể mới, nói rơ hơn, thơ của Đỗ Phủ là 1 h́nh thức Luật thi mới.

 

Cho nên, đọc thơ Đỗ Phủ th́ cần cẩn thận, đừng lấy cái khung Luật thi giáo khoa mà b́nh, mà luận tán loạn như bà Huệ Thu đây! 

 

Minh Di:

Một vài chú thích về các bài tuyệt cú dẫn trên.

+ Bài Giang sơn phi hoa.

Câu 2. “Vô xứ cáo tố không điên cuồng”.

 

Câu này nghĩa là không có chỗ để thổ lộ, để trút cho hết những nỗi khổ, những nỗi khổ đến điên cuồng.

 

Chữ không () ở đây có nghĩa là “tận, hết”.

Do đó mà “tới xóm Nam kiếm bạn rượu”, do đó mà “uống suốt 10 ngày liền”.  

 

+ Bài Trung Ba chi Đông Ba Đông sơn.

Câu 2. “Giang thủy khai quan lưu kỳ gian”.

 

Giang thủy tức chỉ Trường Giang (cũng gọi Đại Giang); quan (ải) tức chỉ Thành Bạch Đế ở câu kế tiếp.

 

Câu 3 – 4. “Bạch Đế cao trên Tam Giáp trấn – Cù Đường hiểm quá Bách Lao Quan”.

+ Bạch Đế Thành nằm trên Bạch Đế Sơn.

Hứa Hồng Bàn (1757 - 1837) chép trong bộ Phương Dư Khảo Chứng (方輿考證):

~ Bạch Đế Sơn. Tại Phủ Đông thập tam lư.

~ Thủy Kinh Chú viết:

- Bạch Đế sơn (白帝山). Bắc Lục Mă Lănh (綠馬嶺), tiếp Xích Giáp sơn (赤岬山), Tây nam lâm Đại Giang, khuy () chi huyễn mục (眩目), duy Mă Lănh tiểu sai (小差) uy di (逶迤), do Trảm Sơn (斬山) vi lộ, dương trường (羊腸) số tứ nhiên hậu đắc thượng.

 /  Phương Dư Khảo Chứng. Ngự () 32.

                                                 Qu. LXVIII. Tứ Xuyên 4. Qú Châu phủ. Sơn xuyên  /.

~ Bạch Đế Sơn. Ở phía Đông Phủ thành (Qú Châu) 13 dặm.

~ Sách Thủy Kinh Chú viết:

- Bạch Đế Sơn. Ở phía Bắc ngọn núi Lục Mă, tiếp giáp núi Xích Giáp, mặt Tây nam day ra Đại Giang, (cảnh tượng) coi mờ mịt, chỉ có dăy Mă Lănh đường núi hơi ngoằn ngoèo, theo ngă Trảm Sơn mà lên, đi qua 4 con đường ruột dê th́ mới lên tới nơi được. 

 

Đỗ Phủ có một số bài thơ về Bạch Đế Thành, nêu một vài bài:

 

Thướng Bạch Đế Thành. 3 bài ngũ ngôn luật thi

Bồi chư công thướng Bạch Đế Thành, yến Việt Công Đường chi tác. 1 bài ngũ luật.

Bạch Đế Thành tối cao lâu. Thất ngôn luật thi.

 

Tham khảo:

 

Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XII.

Dương Luân chú thích tên Bạch Đế dẫn sách Toàn Thục Tổng Chí(全蜀總志), viết:

~ Bạch Đế Thành tại Qú Châu phủ trị Đông ngũ lư, hạ tức Tây Lăng giáp khẩu, Đại giang băng bành bái, tín Sở, Thục yết hầu.

                                                       /  Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XII  /.

~ Thành Bạch Đế vị trí ở cách trị sở phủ Qú Châu 5 dặm về phía Đông, ở mé dưới là cửa Hẽm Tây Lăng, Đại giang sóng lớn xô đập vào nhau ầm ầm, đúng là yết hầu của các vùng Sở, Thục.

 

+ Cù Đường, tức Cù Đường giáp.

 

+ Cù Đường giáp (瞿唐峽) là 1 trong 3 hẽm núi ở mạn thượng du Trường giang được gọi chung là Tam Giáp (三峽). Giáp có nghĩa là vùng nước sông chảy qua giữa núi.

 

Tam Giáp đây tức chỉ Cù Đường giáp, Vu giáp (巫峽), Tây Lăng giáp (西陵峽) - 3 Hẽm Núi nằm liền nhau ở mạn thượng du Trường giang, ở khoảng giao giới giữa 2 tỉnh Tứ Xuyên và Hồ Bắc.

Nằm ở đầu dăy 3 Hẽm núi này là Hẽm Cù Đường (cũng gọi là Hẽm Quảng Khê [廣溪]), ở cách huyện Phụng Tiết tỉnh Tứ Xuyên hơn 7 cây số về phía Đông.

 

Tiếp đến là Hẽm Vu Sơn, ở phía Đông huyện Vu Sơn, tỉnh Tứ Xuyên - phía Tây của huyện Ba Đông tỉnh Hồ Bắc.

 

Cuối dăy là Hẽm Tây Lăng (cũng gọi là Hẽm Di Lăng [夷陵]) nằm cách huyện Nghi Xương tỉnh Hồ Bắc hơn 14 cây số về phía Tây bắc.

 

3 Hẽm Núi này nối tiếp nhau, trải dài 700 dặm, ghềnh đá chập chùng, chớn chở, và có chỗ vách núi cao chất ngất, che khuất cả bóng trời trăng - vào những đêm trăng sáng phải chờ tới giữa khuya, trăng lên giữa trời, ánh trăng mới rọi tới mặt sông.

 

Lịch Đạo Nguyên (469 - 527) tự thuật trong bộ Thủy Kinh Chú(水經注):

~ Tự TAM GIÁP thất bách lư trung lưỡng ngạn liên sơn, lược vô khuyết xứ, trùng nham điệp chướng, ẩn thiên tế nhật, tự phi đ́nh ngọ, dạ phân, bất kiến hi (), nguyệt.

                                      Thủy Kinh Chú. Qu. XXXIV. Giang thủy 2  /.

 

~ Trong khoảng 700 dặm của vùng 3 HẼM NÚI th́ 2 bên bờ núi non liên tiếp, nói chung là không hở khoảng nào, với ghềnh đá chập chùng, vách núi chớn chở, san sát, che khuất cả mặt trời, không tới giữa trưa, hoặc nửa đêm, th́ không thấy mặt trời, mặt trăng.

 

[Phụ chú.

1 dặm thời Lịch Đạo Nguyên = 539.46 m, tức 0.53946 cây số.

700 dặm nói trên = 700 x 0.53946 cs = 377.622 cây số].

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính