Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 6)

 

 

Cuối thời Đông Hán (25 - 220), Hoàng Dịch (? - ?), con trai lớn của Hoàng Tổ (? - ?) - Thái thú đất Giang Hạ, tổ chức đại hội tại Cù lao này, có người tới tặng chim két.

 

Trong số tân khách có Nễ Hành (173 - 198) - vốn là 1 danh sĩ đương thời, Hoàng Dịch nhân đó yêu cầu Nễ Hành viết bài cho Phú Anh Vũ, để sau bài Phú này cù lao được đặt tên là Anh Vũ.

 

Ít lâu sau đó, chỉ v́ một câu nói nghịch ư mà Hoàng Tổ giết Nễ Hành, và cho chôn ngay trên Cù Lao Két này!

 

Về việc Nễ Hành làm Bài Anh Vũ Phú Sử học gia Phạm Việp (398 - 445) ghi lại trong cuốn Hậu Hán Thư (後漢書) như sau:

~ Nễ Hành, Tự Chính B́nh…. Giang Hạ Thái thú Hoàng Tổ….

 

Tổ trưởng tử Dịch () [âm Dịch ] vi Chương Lăng Thái thú….

 

Dịch thời đại hội tân khách nhân hữu hiến anh vũ giả, Dịch cử chi (舉卮) ư Hành viết:

 - Nguyện tiên sinh phú chi dĩ ngu () gia tân.

 

Hành lăm bút nhi tác, văn vô gia điểm, từ thái thậm lệ.

                               /  Hậu Hán Thư. Qu. LXXX – Hạ. Nễ Hành truyện  /.

~ Nễ Hành tên Tự là Chính B́nh….Thái thú Quận Giang Hạ Hoàng Tổ….

Con trai lớn Hoàng Tổ, (Hoàng) Dịch () [đọc âm Dịch], là Thái thú Chương Lăng…

 

(Hoàng) Dịch mở đại hội mời khách, dịp này có người dâng chim két, Hoàng Dịch cầm ṿ rượu đưa Nễ Hành, nói:

- Mong tiên sinh làm bài phú (về việc tặng chim két này) để giúp vui khách quí.

 

Nễ Hành cầm bút viết ngay, văn không thêm được điểm nào, lời văn cực đẹp.

 

(Phụ chú.

+ Chữ “” này vốn đọc âm “XẠ” - có nghĩa là “bắn cung”; các dịch giả Việt Nam trước đây khi dịch cuốn tiểu thuyết Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa đều đọc là “XẠ”, v́ thế đă ghi sai tên con trưởng của Hoàng Tổ là Hoàng Xạ!

Như chú thích trong Hậu Hán Thư dẫn trên th́ chữnày phải đọc âm Dịch, tên của  nhân vật này, do đó, phải là “Hoàng Dịch”.).

 

Sau hết, trong câu thứ 6 này không có một chữ nào có nghĩa là “nhớ thương” cả như bà Huệ Thu suy diễn tầm bậy.

 

Câu này, và câu liền ở trên, Thôi Hiệu thuần tả cảnh, không tự thuật t́nh cảm, do đó chẳng có nhớ, chẳng có thương ǵ ở đây hết!

 

Câu 7. Nhật mộ hương quan hà xứ thị?.

Bà Huệ Thu dịch: ~ “Sớm chiều nhắc măi quê hương”.

 

Trước hết, ở đây chỉ có “chiều”, không có “sớm” như bà Huệ Thu dịch ẩu.

 

Ở đây, ở câu này, Thôi Hiệu tả cảnh trời chiều trên Đại giang – trời chiềutrời chiềulúc này đây, tâm t́nh là tâm t́nh vào thời điểm này đây.

Nói “sớm chiều” là nói cả 3 thời quá, hiện, vị lai, là nói một sự kéo dài trong thời gian.

 

Lại nữa, như tôi đă phê b́nh Tản Đà ở trước, đây là một câu nghi vấn mà bà Huệ Thu lại chuyển “dịch” ra câu khẳng định. C̣n ǵ là nhạc điệu của nguyên tác!

 

Câu 8. Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

 

Bà Huệ Thu dịch”: ~ “Trên sông khói sóng giăng buồn trời ơi!”.

 

Ở đây, Thôi Hiệu nhớ nhà, 1 nỗi nhớ man mác, nhẹ nhàng, đâu có la làng “trời ơi” như bà Huệ Thu dịch!

 

Tóm hết lại, cái hại của chuyện lấy đồ của người xào lại là thế!

 

(b). Thực tế.

Và điểm thứ 2 là thực tế.

 

Bà Huệ Thu rồi sao biết được rằng trước khi Thôi Hiệu tới Lầu này th́ không lúc nào Lầu không tấp nập người tới lui - sau khi Thôi Hiệu tới đây ngắm cảnh - đề thơ Lầu Hoàng Hạc rồi càng tấp nập hơn!

 

Trước Thôi Hiệu (? -754?) hơn 200 năm, vào thời Nam Bắc triều (420 - 589), là thời kỳ Đạo giáo rất thịnh; thời kỳ này Lầu Hoàng Hạc là nơi phụng thờ, tế tự Lữ Động Tân - c̣n gọi theo tên hiệu Thuần Dương, Lữ Thuần Dương - một vị tiên trong Đạo giáo có ảnh hưởng rất sâu rộng trong dân gian Trung Hoa. Trải các thời Lầu Hoàng Hạc được tu bổ sửa sang nhiều lần trong việc này công sức, tài vật của tín đồ Đạo giáo bỏ ra không ít; người tới lầu này cầu cúng không lúc nào ngơi; khói hương, do đó, không nói cũng rơ, không lúc nào ngớt!

 

 

Tiếp xuống một đoạn dưới bà Huệ Thu viết:

- Trong bài Hoàng Hạc Lâu Thôi Hiệu viết :   

   Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Chữ thừa thất luật.

 

[Bên lề.

Cũng về bài Hoàng Hạc Lâu:

Trong bài “Đọc Thăng Long Hoài Cổ bà Huyện Thanh Quan” bà Huệ Thu có đoạn viết:

Bài Hoàng Hạc Lâu được kể như bài thơ hay nhất của Trung Hoa, bài thơ ấy phá hết niêm luật :

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

 

Mới câu đầu đă thất luật,

 

Thử địa không du hoàng hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du   

 

Hai câu 3 và 4 không đối].

 

Phê b́nh 2 điểm bà Huệ Thu nêu trên đây.

 

1/. Mới câu đầu đă thất luật.

Bà Huệ Thu rồi không biết rằng 4 câu đầu bài Hoàng Hạc Lâu được làm theo thể mà Thi học Trung Hoa gọi là tản điệu biến cách, Cú pháp hoàn toàn là Cú pháp của thể Cổ thi - đă là Cổ thi th́ làm ǵ có Luật để mà thất luật như bà Huệ Thu nói?

 

Trước đây, nhiều năm trước, cái ông được gọi là học giả tên Lê Hữu Mục ở Canada cũng đă chú thích…. cạc cạc về mấy câu này trong cuốnVang Bóng Hạc Vàng của Lê Đức Hiển.

 

Đây cũng chính là cái người ta (người Pháp) gọi là thơ xuôi (poème en prose).

 

Bà Huệ Thu đọc đoạn sau đây cho tầm mắt rộng ra để đừng ngồi ở bàn viết khư khư ôm lấy cái khung Luật thi Giáo khoa và mớ kiến thức kém cỏi về thơ Đường của bà mà suy diễn, nhận định lung tung, tán loạn….

 

Tập Thương Lương Thi Thoại viết:

~ Hữu thập tứ tự cú.

                              /  Thương Lương Thi Thoại. Thi thể. 5  /.                                

Chú thích câu trên, Quách Thiệu Ngu dẫn phần <ÁN NGỮ> của Hứa Ấn Phương trong tập Thi Pháp Túy Biên về 4 câu đầu của bài Hoàng Hạc Lâu, có đoạn viết:

~ Thử cử tiền bán Tản, Hành, dụng Cổ điệu tác Luật thể giả. (Chú thích [87]).

 

~ Cả nửa phần trước bài thơ này là thể Tản, Hành, dùng Cổ điệu làm Luật thể.

 

Chú thích bài Kim Lăng Phụng Hoàng Đài của Lư Bạch, Vương Kỳ đời Thanh, đề cập  bài Hoàng Hạc Lâu, nói “hậu bán thủ biệt thị nhất Luật, tiền bán tắc Cổ tuyệt dă” - nghĩa là “nửa bài sau hoàn toàn là Luật thi, nửa bài trướcCổ thi tuyệt cú.

 

Bà Huệ Thu hạ bút nhận định về câu đầu bài Hoàng Hạc Lâu:

- Mới câu đầu đă thất luật,

 

Và tôi cũng nói rằng:

~ Mới hạ bút bà Huệ Thu đă cho thấy cái kiến thức nông cạn của bà về Đường thi.

 

Bà Huệ Thu và ông Lê Hữu Mục đă không có 1 suy nghĩ hợp lư tối thiểu để thấy rằng làm thế nào đến đỗi một thi nhân lớn như Thôi Hiệu lại có thể thất luật đến như vậy? Làm thế nào mà nhiều thế hệ văn nhân, học giả, thi nhân Trung Quốc từ trước đến nay lại xếp bài Hoàng Hạc Lâu vào mục “Luật thi”?

 

Nói rơ hơn, cả ông và bà trên đây bà th́ không, ông th́ chẳng đọc cho tới nơi tới chốn mà chỉ viết theo suy đoán. Suy đoán hướng nào đi nữa mà không có kiến thức th́ cũng chỉ là ăn ốc mà thôi!

 

Ở một đoạn trước bà Huệ Thu nói là bài “Nhớ Quê Hương” của bà bị NTND nào đó nói câu đầu là “trật niêm luật”, bà “trả lời” và chê bà NTND:

- Nếu hiểu theo cách học của nhà trường lúc mới vỡ ḷng về thơ th́ câu ấy sai luật chứ không sai niêm.

 

Bà Huệ Thu chê người khác chỉ mới vỡ ḷng về thơ Đường, thế nhưng, cho tới đây tôi thấy thật rơ rồi chính bà Huệ Thu mới là vỡ ḷng hơn ai hết – đọc qua những ǵ bà viết về Đường thi cho tới đây sợ c̣n chưa được là vỡ ḷng nữa là!

 

đoạn trước, trong bộ Đường Âm Quí Thiêm Hồ Chấn Hanh (1569 - 1645) nói rằng 1 bài luật thi hoặc giả 1 vài điểm bất hợp cách luật – tức c̣n dấu vết cổ thi, th́ nên theo qui cách cổ để bảo tồn cái cổ mà không lấy cách luật để xét nét.

 

Điều này giải thích tại sao bài Hoàng Hạc Lâu, với 4 câu đầu làm theo Cổ thi, theo thể Ca hành, trong các tuyển tập Đường thi Trung Hoa lại được xếp vào mục Luật thi.

 

Nghiêm Vũ (? - ?) trong Thương Lương Thi Thoại gọi Bài này là Luật thi.

 

Kim Thánh Thán (1608 - 1661) đời Thanh cũng đưa bài Hoàng Hạc Lâu vô tác phẩm phê b́nh Luật thi của ông là Thánh Thán Tuyển Phê Đường Tài Tử Thi….

 

Tóm lại, muốn biết Luật thi đời Đường th́ phải coi thi gia đương thời quan niệm như thế nào về vấn đề, qua các sáng tác của họ, như trường hợp bài Hoàng Hạc Lâu.

 

2/. Hai câu 3 và 4 không đối.

Trước hết, như đă nói, 4 câu đầu của bài Hoàng Hạc Lâu làm theo thể Cổ thi ~ mà trong Cổ thi th́ đối cũng được mà không đối cũng được.

 

Tiếp đến, cho dầu là Luật thi nữa th́ 2 cặp 3-4, 5-6 không nhất thiết phải đối, thậm chí có bài không có câu đối nào.

 

Sự hiểu biết của bà Huệ Thu về thơ Đường tới chỉ quanh quẩn cái Luật thi bà đọc trong các sách Giáo khoa trước đây, hoặc hơn nữa cũng chỉ từ những cuốn tuyển dịch Đường thi của một số người dịch trước 75, và cả sau này nữa!

 

 

Trong thơ Đường, như đă nói trong bài Đường thi một vài, có những bài Luật thi rồi không có câu đối nào, chẳng hạn 2 bài ngũ ngôn:

- Chu trung hiểu vọng (舟中曉朢) của Mạnh Hạo Nhiên. (Thi Tập. Qu. I).

 

- Dạ bạc Ngưu Chử hoài cổ (夜泊牛渚懷古) của Lư Bạch. (Toàn Tập. Qu. XXII).

 

(2 bài thơ dẫn trên tôi đă dịch trong bài Đường Thi Một Vài).

 

Vương Kỳ (? - ?) đời Thanh (1644 - 1911) - chú thích bài Dạ bạc Ngưu Chử hoài cổ viết:

~ Thái Bạch “Ngưu Chử Tây giang dạ” chi thiên giai văn ṭng, tự thuận, âm vận khinh tương, bát cú giai vô đối ngẫu.

 

Triệu Hoạn Quang viết:

– Luật bất thủ Đối, như Lư Bạch “NGƯU CHỬ TÂY GIANG DẠ” vân vân, Mạnh Hạo Nhiên “Quải tịch Đông nam vọng” vân vân, nhị thi nhấtchúc Đối nhi điệu tắc nhất tự bất Luật, cố điệu Luật tắc Luật, chúc đối phi Luật dă!.....

 

Dương Dụng Tu vân:

~ Ngũ ngôn luật bát cú bất đối, Thái Bạch, Hạo Nhiên hữu chi, năi thị b́nh trắc ổn niêm Cổ thi dă.

 

Dương mậuĐối vi Luật, dịch thiển chi hồ quan Luật hĩ!

 

Cổ thi tại cách dữ ư nghĩa, Luật thi tại điệu dữ thanh vận, như tất thủ đối tắc Lục triều toàn đối giả, chính tự đa dă, hà bất tức hô Luật thi hồ?

 

            /Lư Thái Bạch Tập. Qu. XXII /. 

 

~ Bài “Ngưu Chử Tây giang dạ” của Thái Bạch văn từ êm xuôi, âm vận du dương, cả 8 câu không có câu đối nào.

 

Triệu Hoạn Quang nói:

- Luật thi không có câu Đối, như bài “NGƯU CHỬ TÂY GIANG DẠ..... của Lư Bạch, bài “Quải tịch Đông nam vọng..... của Mạnh Hạo Nhiên, 2 bài thơ không có 1 Câu đối nào  nhưng nói về (thanh) điệu th́ không 1 chữ nào mà không hợp Luật, do đó (thanh) điệu hợp Luật th́ đây là Luật, câu đối không phải là (cái làm nên) Luật....

Dương Dụng Tu nói:

- Ngũ ngôn bát cú Luật thi mà không có đối, Thái Bạch, Hạo Nhiên có, đây là Cổ thi có niêm bằng trắc ổn thỏa.

 

Dương (Dụng Tu) đă sai lầm khi cho rằng đối ngẫu Luật (của Luật thi), đây cũng là nhận định thiển cận trong quan niệm về Luật thi!

 

Cổ thi (cốt lơi) là ở cáchư nghĩa, Luật thi (cốt lơi) ở điệuthanh vận, nếu như cứ lấy đối là Luật th́ (thơ) thời Lục triều (có những bài) toàn đối cũng nhiều, thế th́ tại sao không gọi đây là Luật thi?

 

(Đoạn trích dẫn trên tôi đă dẫn trong bài Đường Thi Một Vài).

 

Tóm lại về trường hợp vô đối trong Luật thi.

 

Tập Thương Lương Thi Thoại nói:

~ Hữu Luật thi triệt thủ vĩ bất đối giả.

                               /Thương Lương Thi Thoại. Thi thể. 5  /.

 

~ Có Luật thi từ đầu tới đuôi không có câu đối nào.

 

Chú thích câu trên, Quách Thiệu Ngu viết:

~ Mạo Xuân Vinh Thậm Nguyên Thi Thuyết, Quyển nhất:

 

- Luật thi hữu toàn thủ câu đối giả - Lăo Đỗ đa thử thể; hữu toàn thủ câu bất đối giả - Thái Bạch đa thử thể.

Giai thuộc biến cách, hoặc gián xuất nhi dụng chi.

                                         /  Sđd. Chú thích [68]  /.

~ Cuốn Thậm Nguyên Thi Thuyết, của Mạo Xuân Vinh, Quyển I:

Luật thi có những bài toàn bài (các cặp) đều đối – Đỗ Phủ có nhiều bài thơ làm theo thể này; có những bài toàn bài không đối – Thái Bạch có nhiều bài làm theo thể này.

 

Tất cả (những bài này) đều là biến cách, thỉnh thoảng có người cũng dùng thể này.

 

Vấn đề đối ngẫu trong Đường thi của người thời Đường rất đa dạng.

 

Trong một bài Luật thi 8 câu, ngũ ngôn cũng như thất ngôn, có khi có 2 cặp đối, có lúc có 3 cặp đối – và rồi có những bài có tới 4 cặp đối, tức toàn đối – như 2 bài thất ngôn Luật thi Đăng cao (登高), Đông Chí (冬至) của Đỗ Phủ.

 

Lại nữa, vị trí của các cặp đối cũng không nhất định, như trường hợp một bài thơ có 2 cặp đối th́ có thể là 4 câu đầu, có 3 cặp đối có thể là 6 câu đầu hoặc 6 câu sau….

 

Về sắc thái đa dạng của đối ngẫu trong Luật thi - cả Ngũ ngôn lẫn Thất ngôn, có lẽ thi nhân nào bằng thơ Đỗ Phủ. Nhưng, đây không phải là tất cả thi tài của Đỗ Phủ, như Vương Ứng Khuê (1683 - 1760) viết:

~ Nhiên tắc, Thiếu Lăng chi sở dĩ độc cao thiên cổ dịch vị tất chuyên vu ngẫu cú kiến trường dă!

              /  Liễu Nam Tùy Bút. Qu. III. 03  /.

~ Thế nhưng, Thiếu Lăng sở dĩ (tài) cao hơn hết ngàn đời cũng không hẳn mỗi ở chỗ sở trường về câu đối!

              

Về đối ngẫu trong thơ Đỗ Phủ trong cuốn Đỗ Phủ. nghèo, bệnh, cô độc… một đời. tôi có nói tương đối cặn kẽ, có điều phần này khá dài nên tôi không trích dẫn ở đây.     

 

Tới đây tôi nói về bài dịch Khúc giang thứ 2 trong Khúc giang nhị thủ của Tản Đà bà Huệ Thu trích dẫn ở một đoạn trước:

 

Khỏi bệ vua ra cố áo hoài

Bến sông say khướt, tối lần mai

Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?

Sống bảy mươi năm đă mấy người ?

Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn

Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi

Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi

Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.

 

Có vẻ như bà Huệ Thu phục ông Tản Đà lắm, v́ bài dịch của một số bài Đường thi cực nổi tiếng như Hoàng Hạc Lâu, rồi bài Khúc giang dẫn trên đây của ông ta đă được bà Huệ Thu trích dẫn trong bài viết của bà.

Thế nhưng, không thông hiểu Hán văn cho nên Bà Huệ Thu rồi đă không thấy được những cái dở, cái tào lao, cũng như cái sai của ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu này.

 

Bây giờ chúng ta phân tích bài thơ dịch trên đây của Tản Đà.

 

Câu 2. Câu này nguyên tác là “Mỗi nhật Giang đầu tận túy qui”.

 

Dịch sát nghĩa là: ~ Ở bến sông bữa nào cũng uống tới say lúy túy mới về.

Tản Đà dịch: Bến sông say khướt tối lần mai.

 

Câu “tối lần mai” tối ṃ ṃ! Tối lần maitối ra làm sao? 

 

Câu dịch không đúng với ư nghĩa của chữ trong nguyên tác - nếu không muốn nói là SAI hoàn toàn!

 

Tản Đà đă gieo vậnoai bởi thế phải kiếm tiếng đồng vận, nhưng rồi cứ măi loay hoay ông ta lại không t́m được chữ thích đáng. Kết cục một câu có ư nghĩa rất giản dị, rất dễ mà ông ta lại dịch rất ngây ngô như vậy! Tản Đà đă bị cái vầnvật!

 

Câu 5. ~ Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện,

Tiếng thâm thâm mà Tản Đà dịch là phơ phất th́ không ǵ sai hơn!

 

Câu 6. ~ Điểm thủy thanh đ́nh khoản khoản phi.

Tiếng khoản khoản Tản Đà dịch là lửng lơ th́ cũng không có ǵ lầm hơn!

 

Tiếng lửng lơ có nghĩa đứng yên một chỗ ở lưng chừng tĩnh, lặng - c̣n ở đây nguyên tác diễn tả một động tác, chầm chậm, ĐỘNG, chứ không TĨNH. 

 

+ Thâm thâm. Khoản khoản.

Từ điển Từ Nguyên giảng tiếng thâm thâm như sau:

~ [Thâm thâm]. Thâm nhi hựu thâm, do ngôn cực thâm.

~ [Thâm thâm]. Sâu lại sâu hơn, cũng như nói cực sâu.

 

Sách Trang Tử , thiên “Đại tông sư” nói:

~ Cổ chi Chân nhân kỳ tẩm bất mộng, kỳ giác vô ưu, kỳ thực bất cam, kỳ tức thâm thâm.

~ Chân nhân thời cổ, ngủ th́ không mộng, tâm t́nh th́ không lo âu, ăn uống th́ không thấy vị ngon, hơi thở th́ cực sâu.

 

Tiếng thâm thâm trong câu của Đỗ Phủ có nghĩa xa xa – bươm bướm bay ngoài mé xa xa nh́n không rơ, lại thêm luồn qua lại trong đám hoa, lúc ẩn lúc hiện.

 

Tiếng khoản khoản, cũng Từ điển Từ Nguyên giảng như sau:

~ [Khoản khoản]. 2. Từ hoăn mạo.

~ [Khoản khoản]. 2. Vẻ chậm răi.

 

Câu 7.Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển”.

Tản Đà dịch: Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi.

 

Câu này tả phong cảnh bên bờ Khúc Giang – như xa xa bươm bướm bay qua lại luồn trong khóm hoa, chuồn chuồn chầm chậm bay, lúc lên lúc xuống trên mặt nước – kèm theo đó là suy tư của Đỗ Phủ về cuộc đời.

 

Câu này Tản Đà dịch hàm hồ!

~ “nhắn cho quang cảnh thường thay đổi”.

 

Nhắn cho cảnh vật trước mắt, hay nhắn cho chúng ta – người đọc?

Dĩ nhiên là nhắn chúng ta, v́ “quang cảnh” làm sao nghe được mà nhắn?

 

Ngoài ra, dịch như Tản Đà sẽ đưa tới kết luận:

Cảnh trước mắt đây nếu không thưởng thức th́ sẽ biến mất, không tồn tại! - Sai!

 

Dầu thân Đỗ Phủ mất đi th́ cảnh “bươm bướm xuyên hoa, chuồn cuồn điểm thủy vẫn diễn ra, không thay đổi! Sự vật th́ luôn thay đổi [biến dịch] thế nhưng lẽ biến dịch rồi bất dịch! Cảnh “bướm luồn khóm hoa”, “chuồn chuồn chấm nước”… trước mắt đây nếu không nh́n ngắm sợ rồi không có dịp ngắm lại.

 

Tản Đà không hiểu 2 chữ lưu chuyển đây chỉ phong cảnh bên bờ Khúc giang, như đă nói, cộng với suy nghĩ của Đỗ Phủ, cả 2 được lưu chuyển cho chúng ta, độc giả.

 

Đây là chưa nói câu thứ 7 này Đỗ Phủ vận dụngáo thể, với chữ thứ 6, chữ lưu, là một áo tự (拗字), đổi trắc thành b́nh: ~ Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển.

 

+ Và theo nguyên tắc áo thể, ở đây, khi chữ thứ 6 đổi trắc thành b́nh th́ chữ thứ 5 phải là thanh trắc – nói khác đi, luật nhất, tam, ngũ bất luận không áp dụng ở đây.

 

Đổi như vậy Tản Đà đă làm mất đi âm điệu tác giả muốn dùng để diễn tả tự tâm tư, và ở đây là tâm tư phiền muộn! - và từ việc đổi chữ thứ 2 từ trắc (ngữ) thành b́nh (cho) cho thấy rằng Tản Đà vốn không hiểu, không biết ǵ về áo thể thi.

 

Liền ngay dưới tựa Bài Sầucủa Đỗ Phủ, Dương Luân (? - ?) đời Thanh (1644 - 1911) dẫn cuốn Đỗ Ức của Vương Tự Thích (1566 - 1648) đời Minh (1368 - 1644), nói:

~ Đỗ Ức:

- Công hung trung hữu ức uất bất b́nh chi khí, mỗi dĩ Áo thể phát chi.

                                                    /Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XV  /.

 

~ Sách Đỗ Ức (viết):

- Lúc trong ḷng có điều uất ức, bất b́nh, ông thường dùng Áo thể để phát tiết.

 

Đă nói thơ tâm của nhạc, thanh điệu phải theo tâm, tâm không thể bị g̣ bó trong những qui luật về thanh điệu, áo thể thi của Đỗ Phủ chính là thể hiện quan điểm này.

 

Bà Huệ Thu đă không thấy được những sai lầm kể trên trong bài dịch của Tản Đà, mà thực ra cũng không có khả năng để thấy!

(Minh Di.)

 

+ Sách Đỗ Ức (杜臆), Vương Tự Thích (王嗣奭) cuối đời Minh soạn.

Vương Tự Thích (1566 - 1648) tên Tự là Hữu Trọng, đậu Cử nhân trong khoảng Niên hiệu Vạn Lịch  (1573 - 1620), giữ chức Tri châu Bồi Châu. Minh triều sụp đổ (1644) ông về quê.

 

Quân binh Thanh triều tiến xuống Nam bức bách, chiêu dụ quan chức, nhân sĩ Minh triều ở các làng quê tới Hàng Châu triều kiến, Vương Tự Thích nhất định không chịu đi – ngoài ra lại nhất quyết không dóc tóc, không phục sức như phong tục Thanh triều.

 

Lúc đầu Vương Tự Thích nghiên cứu Kinh Dịch, tới năm 43 tuổi ông mới nghiên cứu về Đỗ Phủ, tới năm 80 tuổi th́ soạn xong tác phẩm chú giải thơ Đỗ Phủ là Đỗ Ức.

 

Ông nghiên cứu kỹ về con người Đỗ Phủ để từ căn bản này suy (ức) ư chỉ của thơ Đỗ Phủ và nhờ phương pháp này ông đưa ra được những kiến giải độc đáo về thơ Đỗ Phủ.

 

Cừu Triệu Ngao (1638 - 1713+) trong Đỗ Thiếu Lăng Tập B́nh Chú, là tập chú thích b́nh giải về thơ Đỗ Phủ rất uyên bác - cho nên cũng được gọi là Đỗ Thi Tường Chú, đă trích dẫn khá nhiều ư kiến trong cuốn Đỗ Ức của Vương Tự Thích).

 

Khúc giang. Nhị thủ.

 

Kỳ nhị (其二).

Triều hồi nhật nhật điển () xuân y,

Mỗi nhật giang đầu tận túy qui.

Tửu trái (酒債) tầm thường hành xứ hữu,

Nhân sinh thất thập cổ lai hi!

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện,

Điểm thủy thanh đ́nh khoản khoản (款款) phi.

Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển,

Tạm thời tương thưởng mạc tương vi (相違).

 

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. IV).

 

                                   Triều về bữa bữa áo cầm đây,

                                   Mỗi bữa đầu sông về khướt say

                                   Nợ rượu sự thường đâu cũng có,

                                   Đời người bảy chục hiếm xưa nay!

                                   Luồn hoa cánh bướm xa xa hiện,   

                                   Chấm nước chuồn chuồn chậm chậm bay.

                                   Theo những cảnh đây với lời nhắn,

                                   Tạm thời cùng hưởng trái chi này.

 

                                   [Minh Di].

 

Bài Khúc Giang thứ 2 này và bài Khúc Giang thứ 1 Đỗ Phủ sáng tác vào năm đầu Niên hiệu Càn Nguyên (758 - 760) dưới triều Túc tông (711 - 762; tại vị: 756 - 761).

 

Các bản chú giải thơ Đỗ Phủ, Tiền Chú Đỗ Thi của Tiền Khiêm Ích (1582 - 1664), và bản Độc Đỗ Tâm Giải của Phố Khởi Long (1679 - ?) cho biết:

+ Câu 5. Chữ cuối, chữ hiện(), có bản chép (), nghĩa là múa.

+ Câu 6. Hai chữ khoản khoản(款款), có bản chéphoăn hoăn (緩緩) - cũng có nghĩa là chầm chậm.

(Tham khảo

Tiền Chú Đỗ Thi. Qu. X. Cận thể thi).

Độc Đỗ Tâm Giải. Qu. IV. Thất luật).

 

 

Cừu Triệu Ngao chú giải bài thơ này dẫn Vương Tự Thích nói:

~ Sơ bất măn thử thi, quốc phương đa sự, thân vi gián quan khởi nhân thần hành lạc chi thời, nhiên độc kỳ trầm túy liêu tự khiển (聊自遣) nhất ngữ, hoảng nhiên (恍然) ngộ thử nhị thi - cái ưu phẫn nhi thác () chi hành lạc giả. Công tuy thụ () nhất quan nhi chí bất đắc triển, trực phù danh (浮名) nhĩ, hà dụng dĩ thử bạn () thân tai! Bất như “điển y” cô tửu (沽酒), nhật du túy hương (), dĩ tống thử hữu hạn chi niên. Thời () dĩ mộ xuân, chí lục nguyệt toại xuất vi Hoa Châu duyện (), kỳ thi vân: “Di quan (移官) khởi chí tôn?”, tri thử thời dĩ hữu tiềm () chi giả.

Nhị thi năi ưu sàm (憂讒) úy cơ (畏譏) chi tác dă!

                                              /  Đỗ Thi Tường Chú. Qu. VI  /.

 

~ Lúc đầu (tôi) bất măn bài thơ này, gặp lúc Quốc gia xảy ra nhiều việc, thân là chức quan can gián vua th́ lẽ nào đây là lúc bậc bề tôi vui chơi hành lạc, nhưng đọc những lời say sưa để kư thác nỗi ưu tư th́ (tôi) bất chợt bừng hiểu ra 2 bài thơ này – đây là do ưu phẫn kư thác tâm sự trong sự hành lạc. Ông tuy nhận một chức quan mà cái chí không giải bày được, mà rồi đây chỉ là cái danh phù phiếm, việc chi phải lấy đây để trói buộc tấm thân! Sao bằng cầm áo mua rượu, suốt ngày vui trong men say, cho qua kiếp người ngắn ngủi. Bấy giờ đă vào cuối xuân, đến tháng 6 th́ ông về Hoa Châu giữ một chức quan phụ tá, thơ của ông nói (về việc này): “Dời quan lệnh của vua?”, cứ đây th́ rơ lúc này ông đă có ư thoái ẩn.

2 bài thơ này là sáng tác nói lên nỗi ưu tư về sự sàm nịnh, nỗi sợ về sự chê trách.

 

Minh Di:

+ Tháng 6 nói trong đoạn dẫn trên tức tháng 6 năm đầu Niên hiệu Càn Nguyên (758 - 760) triều Đường Túc tông (711 - 762; tại vị: 756 - 761), con trai thứ 3 của Huyền tông. 

 

+ Đỗ Phủ về Hoa Châu giữ chức Tư công Tham quân (司功參軍) – gọi tắt là Tư công.  Trách nhiệm của Tư công là trông coi việc tế tự ở các vườn triều đ́nh (quan viên), lễ nhạc, học hiệu, tuyển cử, biểu, sớ, y dược, bói toán, khảo hạch, tang sự.

 

(Tham khảo:

Thông Điển. Qu. XXXIII. Chức quan 15. Tổng luận. Quận tá).

+ Câu “Di quan khởi chí tôn?” là câu thứ 6 của bàiṬng Tả thập di di Hoa Châu duyện , một bài ngũ ngôn Luật thi. (Qu. V). - Bài này nguyên tựa là: “Chí Đức nhị tái, Phủ tự Kinh Kim Quang Môn xuất gián đạo qui Phụng Tường. Càn Nguyên sơ, ṭng Tả Thập Di di Hoa Châu duyện, dữ thân cố biệt nhân xuất thử Môn hữu bi văng sự.

 

Bản nghĩa của chữ duyện () nghĩa là “phụ tá”.

 

+ Nói “sợ sự chê trách” là sợ thiên hạ nói ông lúc Quốc gia có việc mà ông cứ măi say sưa.

 

Minh Di:

Câu 1: Triều hồi nhật nhật điển xuân y.

Qui chế Đường triều: ~ Mỗi tháng 2 ngày, mồng 1 (sóc) và ngày rằm (vọng) th́ các quan vào triều nghị sự.

(Tham khảo Vương Phổ (922 - 982):

Đường Hội Yếu. Qu. XXIV. Sóc, Vọng triều tham).

 

Do đó, 2 chữ nhật nhật  ở câu 1, và mỗi nhật ở câu 2 tức chỉ ngày mồng 1ngày 15 nói trên, mỗi ngày trong 2 ngày này mà không là mỗi ngày trong suốt một tháng.

Từ đó th́ rơ câu này chỉ có nghĩa sau mỗi lần đi họp ở triều về Đỗ Phủ đều ra Khúc Giang uống rượu, không phải mỗi lần họp về đều cầm áo. Mỗi tháng có 2 ngày họp triều, lễ phục khi vào triều Đỗ Phủ đến chỉ có một, hai bộ, có đủ đâu mà đem cầm để mua rượu uống!

Và, khi đă hết áo cầm th́ chúng ta mới rơ ra chuyện nợ rượu sự thường đâu cũng có là chuyện thường đối với Đỗ Phủ.

 

“Điển” () nghĩa là cầm cố, thế chấp một vật ǵ để lấy tiền, hay đổi lấy việc ǵ.

Lữ Tổ Khiêm (1137 - 1181) viết:

~ Điển y thường Tửu trái.

Ngô Tôn Quyền chi thúc Tế thị tửu (嗜酒), bất trị sản nghiệp, thường () túy khiếm nhân tửu mân (酒緡), nhân giai tiếu chi, Tế di nhiên tự nhược, vị viết:

- Tầm thường hành tọa xứ khiếm nhân tửu trái, dục hóa thử uẩn bào (縕袍) dĩ thường nhĩ!

Cố Cổ thi vân “Điển tận xuân y vô khả nại, Tầm thường hành xứ khiếm nhân tiền”.

(Thi Luật Vũ Khố Hậu Tập. Qu. I).

(Dẫn trong:

Đỗ Phủ Quyển. Thượng Biên. Đường Tống chi Bộ. Đệ tam Sách. - Lữ Tổ Khiêm).               

~ Cầm áo thế Tiền rượu thiếu.

Chú của Tôn Quyền triều Ngô, tên Tế, thích uống rượu, nhưng không chịu làm ăn, thường say sưa thiếu người tiền rượu, ai cũng cười chê, Tế vui vẻ b́nh thản như thường, nói:

- Ở những chỗ b́nh thường, thiếu người tiền rượu, những muốn bán cái áo độn vải gai tạp để thế!

Cho nên Cổ thi nói “Cầm hết xuân y thôi hết cách, Tầm thường các chốn thiếu người tiền”.

(Thi Luật Vũ Khố Hậu Tập. Qu. I).

 

Câu Triều hồi nhật nhật điển xuân y đă sử dụng điển cố lấy áo cầm thế tiền mua rượu trên đây.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính