Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

 

(KỲ 5)

 

 

Có thể nói bà Huệ Thu viết bài “gọi là biên khảo này v́ tức khí một lời phê b́nh!

Trong bài có đoạn bà viết:

~ Tôi nhớ trước đây tôi có trả lời chị NTND về một câu thơ của tôi chị cho là sai luật, trong bài :

Nhớ Quê Hương


Quê Hương. Trời ! Thao thức không tên

Một tiếng rao quà mới cất lên

Đà Lạt mây xưa mờ trước cửa

Trại Hầm mận ngọt lịm nhà bên

Chép thơ trong lớp ḷng ngơ ngẩn

Cởi áo qua cầu nổi nhớ quên !

Một chút nắng vàng trên lộ vắng

Rưng rưng ngày ấy thác Prenn .

 
Câu đầu chị NTND muốn tôi sửa lại v́ bị “trật niêm luật” - Nhưng tôi trả lời câu thơ đó tôi viết như thế v́ muốn chuyển nhịp...


- Nếu hiểu theo cách học của nhà trường lúc mới vỡ ḷng về thơ th́
câu ấy sai lut chứ không sai niêm. Muốn sai niêm phải sánh với câu dưới. C̣n nếu muốn nói đă sai luật là kéo thêm niêm th́ cũng không sao.
Tôi xin kể ra đây một số thơ của những thi sĩ lớn của Việt Nam cũng như của Trung Hoa viết
sai lut, cả niêm nữa (Nói đúng hơn là phá niêm luật).

 

Minh Di:

Luật thi là 1 Tp hp những qui đnh của 1 thể loại thi, trong đó Niêm là 1 thành phần.

Như thế, nói sai niêm tức nói sai Luật, nói rơ hơn, khi nói sai niêm là muốn xác định sự sai Luật này phạm qui định nào trong những qui định của Tập hợp đó?

Cũng thế, khi nói “đối không chỉnh”, “gieo vần không chỉnh”.... là xác định sự sai Luật là ở chỗ nào, chỗ nào! Nói bài thơ sai Luật là nói trống không, chẳng ai biết sai chỗ nào?

Và như vậy, nói như bà Huệ Thu ở đoạn trên, “câu ấy sai lut chứ không sai niêm”, và “những thi sĩ lớn của Việt Nam cũng như của Trung Hoa viết sai lut, cả niêm nữa”, nói như thế tức tách niêm ra khỏi Luật, không nằm trong Luật - điều này sai hoàn toàn!

Đây là nhận xét sơ đẳng mà một người b́nh thường cũng có thể thấy!

 

Ở một đoạn trước đă dẫn học giả Vương Phu Chi (1619 - 1692) nói:

~ Thiên Nhạc Kư nói “Âm thanh khởi lên, khởi từ tâm con người”, cho nên âm thanh phải thuận với tai, ḥa với tâm, đây mới là tiêu chuẩn của âm luật.

(Cho nên) thuyết “nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh” không thể được coi là chuẩn tắc mẫu mực. 

 

Trước đó, Hồ Chấn Hanh (1569 - 1645) viết:

~ Thần Long nhi hậu, âm / đối câu Hài, chư gia khái hữu hợp tác, Thẩm, Tống vưu vi thiện trường. Tựu trung ngũ tự chi hài sai tiên... thất tự chi hài sai văn, cố Khai Nguyên Hữu Thừa do tồn thất niêm chi tỳ. Nhược năi Luật kư chủng cổ dĩ thành Luật, tắc cổ tự ưng truy cổtồn cổ.

                                 /  Đường Âm Quí Thiêm. Qu. I. Phàm thể  /.

~ Từ Niên hiệu Thần Long trở đi, thanh điệu / đối ngẫu (trong thơ) đều hợp Luật, các tác gia nói chung đều sáng tác theo, Thẩm (Thuyên Kỳ), Tống (Chi Vấn) rất sở trường thể thức thơ này. Trong thể thức này, Luật thi 5 chữ có trước một chút ... Luật thi 7 chữ trễ hơn một chút, cho nên trong khoảng Niên hiệu Khai Nguyên thơ của Hữu Thừa c̣n thấy một vài khuyết điểm về thất niêm. Nếu như Luật (về thơ) đă nhân Cổ (thi) để từ đó làm thành Luật (thi) mà trong đây vẫn c̣n dấu vết Cổ thi th́ nên theo qui cách cổ để bảo tồn cái cổ.

[Minh Di:

Thần Long (705 - 707). Niên hiệu của Đường Trung tông (660 - 710; tại vị: 705 - 710).

Khai Nguyên (713 - 741). Niên hiệu của Huyền tông (685 - 762; tại vị: 712 - 756).

Hữu Thừa. Tức Vương Duy (701 - 761). Vương Duy từng giữ chức Hữu Thừa nên c̣n được gọi là Vương Hữu Thừa. Chức trách của Hữu Thừa là giám sát các quan].

 

Nói “nếu như Luật (về thơ) đă nhân Cổ (thi) để từ đó làm thành Luật (thi) mà trong đây vẫn c̣n dấu vết Cổ thi th́ nên theo qui cách cổ để bảo tồn cái cổ.” là Hồ Chấn Hanh có ư nói 1 Bài Luật thi hoặc giả có một vài điểm bất hợp cách luật, tức c̣n dấu vết của Cổ thi, th́ nên theo qui cách cổ để bảo tồn cái cổ, mà không lấy cách luật để xét nét.

 

Điều này giải thích tại sao Bài Hoàng Hạc Lâu - với 4 câu đầu làm theo Cổ thi, theo thể Ca hành trong các tuyển tập Đường thi Trung Hoa lại được xếp vào mục Luật thi.

 

Nghiêm Vũ (? - ?) trong Thương Lương Thi Thoại gọi Bài này là Luật thi.

 

Kim Thánh Thán (1608 - 1661) đời Thanh cũng đưa bài Hoàng Hạc Lâu vô tác phẩm phê b́nh Luật thi của ông là Thánh Thán Tuyển Phê Đường Tài Tử Thi.

 

Về kiến thức liên quan thi nhân Lư Bạch, bà Huệ Thu viết:

- Theo giáo sư Nguyễn Xuân Vinh th́ ông làm gần hai vạn bài thơ”.

+ Trên đầu bài viết của bà Huệ Thu ghi “biên khảo”, thế nhưng cái khảo của bà ở đây không là từ những tài liệu Hán văn của chính người Trung Hoa, hoặc không cũng là từ giới nghiên cứu, mà từ một ông chẳng rành, chẳng biết Văn học Cổ điển Trung Hoa - là ông “bác vật học” Nguyễn Xuân Vinh.

 

Lư Bạch làm gần hai vn bài thơ”, 2 vạn tức 20,000 (hai chục ngàn).

 

Thơ đâu mà lắm thế! Bà Hu Thu đi hỏi li ông Nguyễn Xuân Vinh coi sao nhé!

* Tôi coi Lư Thái Bạch Toàn Tập th́ thấy Lư Bạch chỉ có tất cả 963 bài thơ, phân ra như sau:

~ Cổ phong có 59 bài.

~ Nhạc phủ có 149 bài.

~ Cổ cận thể thi có 755 bài.

(Về số thơ của Lư Bạch, coi Âu Bắc Thi Thoại của Sử học gia Triệu Dực ở trước).

 

Lư Bạch sinh năm 701, chết năm 762.

 

Bây giờ cho là Lư Bạch làm thơ năm 15 tuổi đi, tức ông làm thơ 47 năm.

Giả sử 1 năm làm 300 bài thơ, liên tục, th́ Lư Bạch làm được: 47 x 300 = 14,100 bài.

 

Thế nhưng, bà Huệ Thu dẫn ông Nguyễn Xuân Vinh cho biết “gần hai vn bài thơ - và như vậy, con số phải hơn 14,100 bài; bây giờ đại khái Lư Bạch 1 ngày làm 1 bài, th́ ta có được 17,155 bài, tức tạm coi là “gần hai vn bài thơ” như Nguyễn Xuân Vinh nói.

 

Căn cứ tập Âu Bắc Thi Thoại của Sử gia Triệu Dực, đă dẫn ở trước, nói thơ Lư Bạch  thập táng kỳ cửu (10 phần mất 9 phần) th́ tổng số thơ của Lư Bạch vào lối 9,000 bài.

 

[2++….]. (Những đoạn giữa 2 dấu [++….++] là phần viết thêm):

Cứ thử nghĩ, một người hồ như ngày nào cũng say bí tỉ như Lư Bạch th́ có thể làm thơ tới con số đó chăng? Lư Bạch từng tự nhận trong bàiTặng nội ( = Tặng vợ):

                                   Tam bách lục thập nhật,

                                   Nhật nhật túy như nê.

                                   (Lư Thái Bạch Toàn Tập. Qu. XXV).

                                                                           Ba trăm sáu chục bữa

                                                                           Bữa bữa say như bùn.

Túy như nê (Say như bùn) là say nhăo như bùn, tức say mềm, say nhừ.

Câu túy như nê là một câu thường thấy trong thơ của thi nhân thời Đường khi nói về cái say khướt.

 

+ Bài thứ 3 trong 5 bài Tương phó Thành Đô thảo đường, đồ trung hữu tác, tiên kư Nghiêm Trịnh công 2 câu cuối:

Khẳng tịch () hoang đ́nh xuân thảo sắc,

Tiên phan () nhất ẩm túy như nê!

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XI).

                                    Cỏ thắm đ́nh hoang ngồi chẳng nệ,

                                    Một khi đă uống say như mê!  

 

+ Bạch Cư Dị (772 - 846) trong bài Bắc lâu tống khách qui Thượng Đô, 2 câu cuối:

Bất độc biệt quân tu cưỡng ẩm,

Cùng sầu tự yếu túy như nê!

(Bạch Hương Sơn Thi Tập. Qu. XVI. Luật thi).

                                             Nào mỗi biệt ông nên gượng uống,

                                             Sầu đầy tự phải say nhừ người! 

 

+ Đỗ Mục (803 - 853) trong bài tuyệt cú Túy hậu đề Tăng viện, 2 câu đầu:

Li tâm hốt hốt phục thê thê,

Vũ hối khuynh b́nh thủ túy nê!

(Phàn Xuyên Văn Tập. Qu. III).

                                     Tán tâm gấp gấp lại rầu rầu,

                                     Mưa ảm nghiêng b́nh say tới nhừ!

 

+ Vi Trang (836 - 910) trong bài Thất luật Giang thượng phùng cố nhân, 2 câu đầu:

Tiền niên tống ngă Khúc Giang tây,

 Hồng Hạnh Viên trung túy tự nê!

(Vi Trang Tập. Qu. V).

                       Tiễn ta năm ngoái Khúc Giang tây,

                       Hồng Hạnh trong Vườn say tới nhừ!

 

+ Lư Bạch trong bài Tương Dương ca, 2 câu cuối:

Bàng nhân tá vấn tiếu hà sự?

Tiếu sát sơn công túy tự nê!

(Lư Thái Bạch Toàn Tập. Qu. VII).

                                          Người bên ướm hỏi cười chi đấy?

                                          Cười ngất ông quê say tới nhừ!

 

Về việc uống rượu và làm thơ của Lư Bạch, ở trang đầu bà Huệ Thu viết:

~ Lư Bạch là thi tiên của đời Đường, là người uống mt đấu rượu làm một ngh́n bài thơ (Lư Bạch, đấu tửu thi bách thiên).

 

Trong ngoặc th́ ghi là “(thi bách thiên)”, có điều là ở phần dịch liền trước cái ngoặc này bà Huệ Thu lại ghi là “mt ngh́n bài thơ” (?). BÁCH MỘT NGH̀N?

 

Đây là 2 câu trong bài ẩm trung Bát Tiên ca của Đỗ Phủ:

                    Túy trung văng văng ái đào thiền,

                    Lư Bạch nhất đấu thi bách thiên.

                    (Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. I).

                                                       Lúc say mỗi mỗi thích nương thiền,      

                                                       Lư Bạch một đấu thơ bách thiên.

[….++2].

Ngoài ra, nói Lư Bạch “là người uống mt đấu rượu làm một ngh́n bài thơ” bà Huệ Thu chỉ nói khơi khơi, không cho người đọc có một khái niệm nào cả về việc uống rượu của Lư Bạch, nói rơ ra là tửu lượng của thi nhân như thế nào, cao tới đâu? Điều bà nêu ra do đó chỉ là tiếng vang, không có nghĩa ǵ cả - tức nói dư thừa! 1 đấu là bao nhiêu?

 

Nói theo, và chỉ nói khơi khơi, th́ độc giả làm sao h́nh dung được tửu lượng cao / thấp của Lư Bạch. Lỡ “mt đấu” chỉ là 0.5 lít ngày nay th́ sao? Nửa lít th́ có ǵ đáng nói!

 

Bà Huệ Thu nói bài viết của bà là bài “biên khảo”, có phải vậy không?

Thế th́, sự biên khảo của bà ở đây nó nằm ở đâu?

 

1 Đấu thời Đường tính ra Hệ thống SI (Système International) = 5.944 Lít, tức gần 6 L.

 

Có nói rơ như trên mới thấy được tửu lượng của Lư Bạch. Nói khơi khơi kiểu nói theo người khác, như bà Huệ Thu, th́ làm sao rơ tửu lượng của Lư Bạch.

 

Sau hết, cũng cần nói thêm là chữ “đấu” ở đây:

(a). Hoặc phiếm chỉ một lượng rượu rất nhiều.

(b). Hoặc rượu thời đó (thời Đỗ Phủ) nồng độ không cao lắm cho nên người ta có thể uống tới gần 6 lít mới vừa say.

 

[3++….].

Về do lai bài ẩm trung Bát tiên ca Trang Xước (? - ?) thời Nam Tống (1127 - 1279) viết như sau:

~…. Phạm Truyền Chính Thái Bạch Tân Mộ Chí vân:

- Huyền tông tấn () Bạch Liên tŕ, triệu () công tác tự (), thời công bị tửu (被酒) ư Hàn uyển trung, mệnh Cao Lực Sĩ phù dĩ đăng chu.

Đỗ chi sở Ca, cái thử sự nhĩ!

                                           /  Kê Lặc Biên. Qu. I. Đỗ thi hiệp vận  /.

~…. Bài Thái Bạch Tân Mộ Chí của Phạm Truyền Chính nói:

- (Đường) Huyền tông dọn ao Bạch Liên, triệu ông tới tự thuật sự việc, bấy giờ ông đă say mèm trong vườn của Viện Hàn Lâm, (vua) sai Cao Lực Sĩ d́u ông lên thuyền.

Bài ca của Đỗ Phủ chính là chỉ việc này!

[…++3].

 

Trở lại bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu.

Bà Huệ Thu viết:

- Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu như sau :


Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu


Tản Đà đă dịch và cho đến nay vẫn được coi là bài dịch hay nhất :

Lầu Hoàng Hạc

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Băi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai.

Tản Đà


Huệ Thu
cũng có bài dịch :

(trong tập SCTĐ)”.

 

Tôi thấy Bà Huệ Thu đến chỉ nhai lại những ǵ của người khác, chỉ nói hùa, không có kiến giải về thơ!

 

Bài thơ dịch của Tản Đà quá tầm thường, nếu không muốn nói là dở!

 

Dịch văn nói chung, thơ nói riêng, là việc khó, nhất là Thơ, thêm vào đó là chuyển qua một thể khác với nguyên thể.

 

Bây giờ, thử phân tích:

Câu 1: Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ.

 

Câu này nghe như một lời nói thường, giọng thơ êm nhẹ, như cánh hc.

Trong khi câu dịch của Tản Đà hạc vàng ai cỡi đi đâu? giọng rất gằn, nặng nề, nếu nói cách b́nh dân th́ giống như một cái xe thắng gấp, chúi nhũi!

 

Nguyên tác tận với thanh trắc [khứ], và câu dch cùng với thanh b́nh [đâu], thế nhưng đọc lên chúng ta nhận ra ngay trắc vậy mà êm tai hơn b́nh! Cứ lần lượt đọc lên 2 câu chúng ta thấy câu nguyên tác êm hơn câu dịch rất nhiều! Lư do cũng dễ thấy:

Câu dịch là một câu nghi vấn, giọng đọc đi lên, thêm vào đó câu chỉ có 6 chữ làm cho hơi thơ trở nên hụt hẫng!

 

Lại nữa, Thôi Hiệu chỉ giản dị nói người xưa đă cỡi hạc đi mất, nhưng không thắc mắc ngườihạc đi đâu, tới chốn nào, trong khi đó cớ chi Tản Đà li gằn ging thắc mắc?

 

Câu 3. 4: Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản / Bạch vân thiên tái không du du.

 

Câu dịch: Hạc vàng bay mất từ xưa / Ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay.

 

Có thể thấy ngay câu dịch chẳng diễn được mảy nào nhạc điệu của nguyên tác!

 

Câu 3: 7 chữ th́ tới 6 chữthanh trắc - ở đây Thôi Hiệu đă kềm, giữ hơi thơ lại, để buông xả ra với 5 thanh bằng, với một điệp âm tận cùng (du du) ở câu 4, rồi tiếp luôn 2 điệp âm ở hai câu: – câu 5 (lịch lịch), câu 6 (thê thê), làm cho hơi thơ đột biến, để trở nên trôi chảy bất xả: du du, lịch lịch, thê thê… như sóng Trường giang trôi vô tận! 

 

Câu 7: Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

 

Tản Đà dịch: Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

 

Dĩ nhiên, Thôi Hiệu phải rơ “quê nhà” của ḿnh ở nơi nào! Nhưng với một câu nghi vấn và là một “nghi vấn khẳng đnh” Thôi Hiệu đă làm cảm tính của thơ vượt lên rất nhiều!

 

Câu 7 chữ, lại tận cùng với thanh trắc, lại thêm giọng nghi vấn, khiến câu thơ trở nên u uất, làm cho nỗi buồn chợt dâng dậy lên.

 

Trong khi đó câu dịch của Tản Đà lại là 1 “câu khẳng đnh”, một câu rất thường, vô hồn chẳng dậy lên một t́nh cảm nào hết! Chưa nói là câu này dịch cũng không sát.

 

Tôi đă nghe nhiều kẻ quá ca tụng câu dịch này.

 

Thế nhưng, như đă phân tích, câu này lại chính là một câu dở hơn hết!

 

Có thể thấy rất rơ ở câu 7 Thôi Hiệu cho thấy hoài niệm “hương quan” vút lên thực cao để rồi ở câu kết trầm xuống: “Yên ba giang thưng sử nhân sầu”.

 

Không thể nói ǵ ngoài một chữ “TUYỆT”.

 

Tóm lại, lúc hơi thơ cần êm trôi (Câu 1) th́ Tản Đà gằn, lúc cần gằn (Câu 7) th́ Tản Đà lại cứ êm êm...... Như vậygọi là hay sao? mà c̣n là hay nhất nữa?             

 

Nh́n chung:

(1). Không có một bài thơ dịch nào gọi là hay nếu không gắn liền với nguyên tác, tức bài thơ gốc, nói khác đi, bài thơ dịch không đứng độc lập với bài thơ gốc, do đó cái hay của bài thơ dịch cũng gắn liền với bài thơ gốc. Tóm lại, không thể nào quan niệm được một bài thơ dịch hay mà độc lập với bài thơ gốc; nếu độc lập, nếu hay mt ḿnhth́ ở giới hạn nào đó nó không c̣n là bài thơ dịch, mà là sản phẩm của riêng người dịch.

 

(Như Phan Huy Vịnh dịch Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị qua thể song thất lc bát).

 

(2). Thơ tức nhạc, và mỗi thể thơ có một nhịp điệu, tiết tấu riêng, cho nên khi dịch thơ ai cũng cố gắng giữ nguyên thể, và có khi giữ nguyên vận nữa, nếu có thể!

 

Nhịp điệu tiết tấu của thất ngôn khác với ngũ ngôn, khác với tứ ngôn, lục ngôn....

 

Cũng vậy, thơ Thất ngôn lại càng khác với thơ Lục bát.

 

Chỉ xét mỗi góc độ nhạc tính, không nói đến chuyện ǵ khác, đă từng làm thơ, hay là thích thơ, tóm lại có tâm hồn có thể rung lên với thơ, th́ người nào cũng thấy ngay việc dịch thơ Thất ngôn qua thơ Lục bát không thể nào hay được, nói khác đi, cái hay của một thể thơ không thể đưa qua một thể thơ khác!

 

Về âm điệu câu thơ 6 chữ không biến hóa phong phú như câu thơ 7 chữ. Dùng 6 chữ diễn âm điệu của 7 chữ th́ không thể nào diễn cho trọn vẹn được. Thế nhưng, tối thiểu cũng phải giữ được phần nào.

 

Câu 1: Tản Đà dịch Hạc vàng ai cỡi đi đâu?.

 

Nếu đổi li là: Hạc vàng ai cỡi đi rồi th́ ít nữa cũng giữ được giọng b́nh thường của câu thơ xuôi Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ.

 

Câu 7: Tản Đà dịch Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

 

Nếu đổi li: Quê hương khuất bóng nơi đâu? th́ dịch đă sát hơn, mà cũng giữ được phần nào âm hưởng uất nghẹn của nguyên tác: Nhật mộ hương quan hà xứ thị?.

 

Vậy mà từ xưa đến giờ người ta cứ theo nhau ca bài dịch Lục bát bài Hoàng Hc Lâu của Tản Đà tới trời!

 

Cái bệnh “theo nhau” thực khó “chy”, ở mặt nào cũng vậy!

 

Như ở mặt phê b́nh người ta cứ theo nhau mà “vuốt” bài phê b́nh Hoàng Hc Lâu của Kim Thánh Thán là tuyệt, mà không biết rằng Bài phê b́nh này có những lời và những nhận định tào lao, vớ vẩn! - 10 năm trước tôi đă chỉ ra cái vớ vẩn của Kim Thánh Thán trong bài Hương Quan Hà Xứ.

 

(Bài này viết năm 1987, bổ túc lần 1 năm 1996, tựa là Hoàng Hạc Lâu, tới năm 2003 bổ túc lần sau hết, đổi tựa là Hương Quan Hà Xứ).

 

Ở đoạn trước bà Huệ Thu nói “Huệ Thu cũng có bài dịch (trong tập SCTĐ):

Bà Huệ Thu “dch” như sau:

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?

Biết chăng Hoàng Hạc đây lầu trống trơn

Hạc bay rồi, đă bay luôn

Tầng cao mây trắng cứ vờn thiên thu

Hán Dương cây đứng gục đầu

Châu Anh bờ cỏ xanh màu nhớ thương

Sớm chiều nhắc măi quê hương

Trên sông khói sóng giăng buồn trời ơi !

 

Bà Huệ Thu không biết Hán văn mà nói rằng “Hu Thu cũng có bài dch” ~ nói như vậy có là “lng ngôn” chăng? Nói cho đúng bà chỉ dựa vào bài dịch của người khác - ở đây là Tản Đà, và thay vào đó bằng văn từ của ḿnh, thế thôi! Nói rơ hơn là bà Huệ Thu đă chỉ “xào li”, “nêm nếm”... với mớ chữ của bà th́ đúng hơn!

 

Đă nói “dịch” th́ đ̣i hỏi căn bản là phải dịch đúng “ư nghĩa” của chữ, căn bản là vậy!

 

Thử xét vài điểm trong bài xào lại, hay nói theo lời “t nhn” của bà Huệ Thu là “dch”:

 

Bài dịch lại của bà Huệ Thu đă sai về chữ nghĩa lại sai về thc tế!

Tôi lần lượt điểm từng điểm một: [4++….].

 

(a). Chữ nghĩa.

Câu 1: Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ.

 

Bà Huệ Thu dịch: ~ “Hạc vàng ai cỡi đi đâu?”.

 

Bắt chước Tản Đà cho nên sai cái sai, ôm cái dở, cái tệ của ông này, mà chúi nhũi”!

 

Câu 2: Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu.

Bà Huệ Thu dịch là: “Biết chăng Hoàng Hạc đây lầu trống trơn”.

 

Nói “mt căn nhà trống trơn”, “mt ngôi lầu trống trơn”, là nói trong nhà đó, trong lầu đó không có bày biện một đồ vật nào, hoặc không có một người nào ở trong đó!

 

Thôi Hiệu có chữ nào trong câu 2 nói rằng Lầu Hoàng Hạctrống trơn” đâu! Thôi Hiệu chỉ nói sau khi tiên / hạc đi mất th́ nơi này chỉ c̣n lại chơ vơ một ngôi Lầu; bà Huệ Thu thử chỉ ra chữ nào trong câu thơ có nghĩa là “trống trơn” ~ tôi nói trước cho mà biết là cái chữ không” trong câu không có nghĩa là “trống trơn” đâu, đừng có đoán ẩu xào ẩu!

 

Tiếp đến, ở đây câu nguyên tácmột câu khẳng định, bà Huệ Thu lại chuyển thành câu tán thán, c̣n ǵ là nhạc điệu của nguyên tác!

 

Về chữ không, Dương Thụ Đạt (1885 - 1956) giải nghĩa như sau:

~ KHÔNG () ….

(2). Giới từ.

Biểu tận cử vô sở dư chi nghĩa.

~ Kim không Tần quốc giáp sĩ nhi chuyên ủy (專委) ư ngă, ngă bất đa thỉnh điền trạch vi tử tôn nghiệp dĩ tự kiên, cố () lệnh Tần vương tọa nhi nghi ngă gia?

(Sử Kư. Vương Tiển truyện).

                                          /  Từ Thuyên. Qu. III. Không  /.

~ KHÔNG….

(2). Giới từ.

Biểu thị ư nghĩa nêu ra hết, lấy hết đi, không c̣n ǵ.

 

~ Nay lấy hết quân binh nước Tần giao cho tôi, mà tôi không xin nhiều ruộng đất cho con cháu làm sản nghiệp để có cuộc sống vững vàng, (không đ̣i hỏi như vậy) điều này rồi chẳng làm cho vua Tần đem ḷng nghi ngờ tôi sao?

 

Minh Di:

Đoạn trên được chép trong bộ Sử Kư của Sử gia Tư Mă Thiên (145 - 86 ? tr. Cn).

 

Ở đây Dương Thụ Đạt nhằm giải thích chữ không v́ vậy đă trích dẫn ngang, làm cho người đọc không hiểu rơ câu nói của Vương Tiển.

 

Tôi lược thuật sự việc chép trong bộ Sử Kư như sau:

Vào thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn), Sử học cũng gọi là thời Thất quốc, cũng được gọi là Thất hùng, gồm 7 Nước:

Tần (246 - 206) - Tề (bị Tần tiêu diệt năm 220) - Hàn (403 - 229) - Triệu (403 - 221) - Ngụy (403 - 224) - Yên (mất năm 221) - Sở (mất năm 222).

Vương Tiển là đại tướng của Tần Thủy Hoàng (259 - 210 tr. Cn; tại vị: 246 - 210).

 

Năm 229 Vương Tiển diệt nước Yên, năm sau, năm 228, diệt Yên.

 

Bấy giờ Tần có tướng Lư Tín, là một tướng trẻ tuổi, trong chiến dịch đánh Yên có công bắt được thái tử Yên Đơn, Thủy hoàng cho là tướng tài giỏi, do đó mà hỏi Lư Tín muốn đánh chiếm đất Kinh (tức nước Sở) th́ cần điều động bao nhiêu quân? Lư Tín nói rằng không quá 20 vạn (200,000) quân. Tần Thủy hoàng lại hỏi Vương Tiển th́ Vương Tiển nói rằng nếu không điều động 60 vạn quân th́ không thể đánh được.

 

Thủy hoàng nói: - “Vương tướng quân già rồi, sao mà sợ hăi tới vậy! Lư tướng quân là người dũng cảm tráng kiện, lời của ông ta đúng hơn”.

 

Do đó mà sai Lư Tín và Mông Điềm dẫn 20 vạn quân tiến đánh nước Sở.

 

Nói mà vua Tần không nghe nên Vương Tiển cáo già bệnh về quê nhà ở Tần Dương.

 

Kết quả là quân Tần đại bại. Được tin, Tần Thủy hoàng rất giận, tức tốc tới Tần Dương xin lỗi Vương Tiển, trao cho Vương Tiển 60 vạn quân đi đánh Sở, Tần Thủy hoàng c̣n đích thân tiễn ra tới đất Bái Thượng.

 

Trước khi đi Vương Tiển Vương Tiển xin rất nhiều ruộng đất, ao vườn hạng tốt.

 

Tần Thủy hoàng nói:

~ Tướng quân cứ lên đường, việc ǵ phải lo nghèo?

 

Vương Tiển nói:

~ Làm tướng cho Đại vương, có công th́ rốt cục cũng không được phong hầu, bởi vậy gặp lúc đại vương tới gặp thần, thần cũng gặp lúc mà xin ao, vườn để làm sản nghiệp cho con cháu.

 

Vua Tần cười lớn!

 

Lúc ra tới quan ải Vương Tiển 5 lần sai người về nhắc việc xin ruộng đất.

Có người nói:

~ Tướng quân đ̣i hỏi như vậy cũng là quá lắm!

 

Vương Tiển nói:

~ Không phải thế, vua Tần là kẻ thô lỗ, lại không tin người, nay lấy hết quân binh nước Tần giao cho tôi, mà tôi không xin nhiều ruộng đất cho con cháu làm sản nghiệp để có cuộc sống vững vàng, (không đ̣i hỏi như thế) điều này rồi chẳng làm cho vua Tần đem ḷng nghi ngờ tôi sao?

 

(Tham khảo:

Sử Kư. Qu. LXXIII. Liệt truyện 13. Bạch Khởi. Vương Tiển).

Nói vua Tần nghi ngờ đây tức nói nghi ngờ Vương Tiển không thực tâm đánh Sở.

 

Và như vậy, câu “Thử địa KHÔNG dư Hoàng Hạc lâu” có nghĩa:

~ “Đất này rồi KHÔNG C̉N G̀ HẾT ngoài một ngôi Lầu Hoàng Hạc này”.

Với chữ “KHÔNG” ở đây Thôi Hiệu dụng ư nhấn mạnh, làm nổi bật h́nh ảnh Lầu, mà không có nghĩa một ngôi “lầu trống trơnnhư bà Huệ Thu hiểu sai, rất sai!

 

Một người, một đám mây trắng, một Lầu; người và mây đă đi mất không trở lại, chỉ c̣n Lầu quạnh quẽ nơi chốn này!

 

Câu 3. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản”.

 

Bà Huệ Thu dịch: ~ Hạc bay rồi, đă bay luôn.

 

Câu này tuy 6 trắc 1 bằng nhưng hơi thơ vẫn trôi chảy một mạch, trong khi bà Huệ Thu ngắt thành 2 vế làm cho hơi thơ trở nên ngập ngừng, lựng khựng!

 

Câu 4. Bạch vân thiên tái không du du.

Bà Huệ Thu dịch: ~ “Tầng cao mây trắng cứ vờn thiên thu”.

2 chữ “du du” mà bà Huệ Thu “dịch” là “cứ vờn” th́ tôi hết ư kiến, ở đây bà Huệ Thu nói bà dịch thơ mà, phải không?

2 chữ du du ở đây trong Từ điển Từ Nguyên có các nghĩa:

1/. Thâm tư, ưu tư (Suy nghĩ sâu xa, lo lắng).

2/. Dao viễn, vô cùng tận (Xa xôi, không cùng tận).

3/. Chu lưu mạo (Vẻ trôi chảy, lưu hành khắp nơi).

 

Câu 5. T́nh Xuyên lịch lịch Hán Dương thụ.

Bà Huệ Thu dịch: ~ “Hán Dương cây đứng gục đầu”.

Trong nguyên tác, câu này chẳng có chữ nào có nghĩa là “gục đầu” hết, bà Huệ Thu đă dịch 2 chữ này từ đâu ra đây?

Từ điển Từ Hải giảng 2 chữ lịch lịch(歷歷) là vẻ rơ ràng (phân minh mạo).

Từ điển Từ Nguyên giải là rơ ràng có thể đếm được (phân minh khả số).

Câu này nói cây ở bến sông Hán Dương mọc có thứ tự, hàng hàng, lớp lớp rơ ràng.

 

Câu 6. Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Bà Huệ Thu dịch: ~ “Châu Anh bờ cỏ xanh màu nhớ thương”.

Tiếng Châu Anh ở đây sai, vô nghĩa ~ tên gọi đúngđủ Anh Vũ; có thể lược bỏ chữ Châu nhưng không thể bỏ chữ , v́ đây là 1 thành phần của tên gọi.

Anh Vũ (鸚鵡) có nghĩa là con két, bỏ chữ “VŨ” () đi c̣n ǵ là “CON KÉT” nữa!

Anh Vũ Châu nghĩa là Cù lao (chim) Két, hay nói b́nh dân, giản dị là Ḥn Két.

 

2 chữ thê thê (萋萋, hoặc có bản ghi là 淒淒).

Từ Hải giải 2 chữ 萋萋 với Bộ “THẢO” này là “mậu () dă”.

Giải chữ “MẬU”, Từ Hải ghi: “Thảo phong thịnh mạo”, nghĩa là “cỏ xum xuê tươi tốt”.

淒淒 Từ Hải giảng là “Vân khởi mạo” (vẻ mây nổi ùn ùn).

~ “Vẻ mây nổi ùn ùn” chuyển nghĩa là “vẻ xum xuê, tươi tốt” của cỏ cũng thông.

 

+ Tới đây, mấy tiếng du du, lịch lịch, thanh thanh - những song thanh điệp vận du dương của các câu 4 - 5 - 6 bà Huệ Thu không diễn được phần nào hết!

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính