Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 4)

 

 

So sánh Đỗ Phủ và Lư Bạch, Sử, Văn học gia Vương Thế Trinh (1526 - 1590) viết:

~ Thái Bạch thikhí vi chủ, dĩ tự nhiên vi tông, dĩ tuấn dật, cao sướng vi quí – Tử Mỹ dĩ ư vi chủ, dĩ độc tháo vi tông, dĩ kỳ bạt trầm hùng vi quí.

 

Kỳ ca hành chi diệu sử nhân độc chi phiêu phiêu dục tiên giả, Thái Bạch dă! – Sử nhân khảng khái kích liệt hi hư (欷歔) dục tuyệt giả, Tử Mỹ dă!……

 

Ngũ ngôn luật, thất ngôn ca hành, Tử Mỹ thần hĩ, thất ngôn luật, thánh hĩ.

Ngũ, thất ngôn tuyệt Thái Bạch thần hĩ, thất ngôn ca hành thánh hĩ!

                                           /  Nghệ Uyển Chi Ngôn (藝苑卮言), Qu. IV – 12  /.

~ Vương Thế Trinh Nguyên Mỹ nói:

~ Thơ Thái Bạch lấy khí làm chủ, lấy tự nhiên làm tông chỉ, lấy mỹ lệ thoát tục, vút cao làm quí – Thơ Tử Mỹ lấy ư làm chủ, lấy sáng tạo làm tông chỉ, lấy siêu xuất, trầm hùng làm quí.

 

Ca, Hành thần diệu, cao xa, khiến người đọc lâng lâng muốn lên tiên, (đây) là (cái ư vị) của (thơ) Thái Bạch! – Khiến cho người hăng hái bừng bừng, bằn bặt muốn chết, (đây) là (cái ư vị) của (thơ) Tử Mỹ!……

 

Ngũ ngôn luật thi, thất ngôn ca hành Tử Mỹ là bậc thần, thất ngôn luật thi là bậc thánh!

 

Ngũ ngôn, thất ngôn tuyệt cú Thái Bạch là bậc thần, thất ngôn ca hành là bậc thánh!

 

(Đoạn dẫn trên của Nghệ Uyển Chi Ngôn bộ Đỗ Thi Kính Thuyên (杜詩鏡銓) cũng dẫn lại trong phần “Phụ lục III. B́nh luận. Chư gia luận Đỗ”).

 

Minh Di:

+ Nguyên Mỹ là tên Tự của Sử học gia Vương Thế Trinh.

Vào thời cổ, học giới Trung Hoa có thói quen viết tên Tự, hoặc tên Hiệu, của một người - thường là học giả, kèm tên cha mẹ đặt.

+ Nói “KHÍ” tức chỉ “hơi thơ”.

 

C̣n về khuynh hướng sáng tác của Đỗ Phủ và Lư Bạch cuốn Đường Đại Thi Học có nhận định như sau:

~ Lư tập phục cổ chi đại thành, Đỗ khai cách tân chi cục diện.

                           /  Đường Đại Thi Học. III. Thịnh Đường. Lư – Đỗ tỷ giảo  /.

 

~ Lư tập hợp được những cái hay của Cổ thi, Đỗ mở ra cục diện mới của thi ca.

 

(Minh Di:

Đỗ Phủ mở ra cục diện mới của thi ca, đây chính là điểm Đỗ Phủ hơn Lư Bạch, bởi nếu nói “tập hợp được những cái hay của Cổ thi” th́ Đỗ Phủ cũng có được vậy!).

 

Lục Thời Ung (? - ?) đời Minh (1368 - 1644) trong Thi Kính Tổng Luận (詩鏡總論) có một số ư kiến về Đỗ Phủ như sau:

~ Tử Mỹ chi bệnh tại ư hiếu kỳ! Tác ư hiếu kỳ tắc ư thiên nhiên chi trí viễn hĩ!

Ngũ thất ngôn cổ cùng công cực xảo, vị vô di hận (遺恨), tế quan chi giác kỷ hồi bất đắc tự tại!

…………………

Thiếu Lăng ngũ ngôn luật kỳ pháp tối đa, điên đảo tung hoành, xuất nhân ư biểu (意表).

 

Dư vị vạn pháp tổng qui nhất pháp, nhất pháp bất như vô pháp, thủy lưu tự hành, vân sinh tự khởi, cánh hữu hà pháp khả thiết!

…………………

Thiếu Lăng thất ngôn luật thi uẩn tạ (蘊藉) tối thâm, hữu dư địa, hữu dư t́nh, t́nh trung hữu cảnh, cảnh ngoại hàm t́nh, nhất vịnh tam phúng vị () chi bất tận.

                                                            / Thi Kính Tổng Luận.  /.

~ Cái bệnh của Tử Mỹ là ở chỗ ưa chuộng sự kỳ lạ! Dụng ư kỳ lạ th́ xa rời vẻ đẹp của tự nhiên!

 

Ngũ ngôn, Thất ngôn Cổ thi (của ông) đă tới cùng tận tinh vi khéo léo, không chê được chỗ nào, (thế nhưng) xét kỹ th́ ít nhiều có cảm giác là ông không được tự tại!

 

…………………

Ngũ ngôn Luật thi của Thiếu Lăng có rất nhiều pháp tắc, tung hoành lên xuống vượt ra ngoài ư liệu của người.

 

Tôi cho rằng vạn pháp rồi qui về một pháp, [và] một pháp rồi chẳng như không có pháp nào cả, nước trôi tự chảy, mây sinh tự khởi, rồi có pháp nào mà đặt ra được!

…………………

Thất ngôn Luật thi của Thiếu Lăng hàm súc rất sâu xa, cảnh có dư, t́nh có dư, trong t́nh có cảnh, ngoài cảnh có t́nh, ngâm đi ngâm lại ư vị bất tận.

 

 

Hồ Ứng Lân (1551 - 1602) b́nh phẩm:

~ Thiếu Lăng bất hiệu () Tứ ngôn, bất phỏng Li tao, bất dụng Nhạc Phủ cựu đề, thị thử lăo hung trung bích lập (胸中壁立) xứ; nhiên Phong, Tao, Nhạc Phủ di ư (遺意) Đỗ văng văng đắc chi.

 

Thái Bạch dĩ “Bách ưu” [百憂] đẳng thiên nghĩ () Phong Nhă, “Minh cao” [鳴皋] đẳng thiên nghĩ Li Tao, câu tương khứ huyền viễn; Nhạc Phủ kỳ vĩ (奇偉) cao xuất Lục triều, cổ chất bất như lưỡng Hán, giảo thâu (較輸) Đỗ nhất trù (一籌) dă!

             /  Đỗ Thi Kính Thuyên. Phụ lục III. B́nh Luận – Chư gia luận Đỗ  /.

~ Thiếu Lăng không bắt chước thể thơ Tứ ngôn, không mô phỏng Li tao, không dùng những đề tài cũ của Nhạc Phủ, đây là cái tư tưởng sâu xa, ṿi vọi cao như vách đá núi của ông; nhưng những di ư của Kinh Thi, Li Tao, Nhạc Phủ Đỗ Phủ thường có được.

 

Lư Thái Bạch mô phỏng Kinh Thi qua những Bài như “Bách ưu”, mô phỏng Li Tao qua những Bài như “Minh caotất cả đều vượt rất xa Thi Kinh, Li Tao; cái kỳ lạ lớn lao của Nhạc Phủ th́ (Lư Bạch) cao hơn Lục triều, (thế nhưng) phong cách cổ th́ không bằng 2 triều Tây Hán, Đông Hán, so ra th́ c̣n thua Đỗ Phủ một mức.

 

(Phụ chú.

+ Bất hiệu Tứ ngôn.

Tứ ngôn nói ở đây tức chỉ Kinh Thi, v́ hầu hết thơ trong Kinh Thi đều là những bài thơ gồm những câu 4 chữ.

 

Nói bất hiệu Tứ ngôn tức nói không bắt chước Kinh Thi.

 

Minh Di:

Lư Bạch mô phỏng Kinh Thi, Đỗ Phủ th́ không, đây cũng chính là điểm Vương An Thạch đă phê b́nh Lư Bạch là không biết biến hóa [bất tri biến], Lư Bạch thua kém Đỗ Phủ là ở điểm biến hóa này! Và đây chỉ là một trong những điểm Lư Bạch không bằng Đỗ Phủ).

 

&

 

Một số phẩm b́nh dẫn trong cuốn Đường Âm Quí Thiêm(唐音癸籤).

 

~ Đỗ Tử Mỹ đại thiên giang hà, chuyển quái bất trắc, tuy Thái Bạch, Thoái Chi thiên tài hăn cập! Chí ngũ ngôn, thất ngôn luật, vi hữu chuyết xứ (微有拙處), nhiên thời thời đắc phong vũ, quỉ thần chi trợ, bất tại khả giải; nhược thất ngôn hoằng lệ hoặc cánh nhập ư cổ dă (古野) nhi bất vi lư (為俚), dịch duy tác giả tự tri, tuy đại gia sổ bất năng b́nh dă!

 

Thử bút tuyệt ư thế cửu (絕於世久), phân phân (紛紛) nhất hoa nhất diệp, sức tư (飾姿) lộng mấn (弄鬢) đồ loạn nhân ư

(Lưu Bân Khê).

                     /  Đường Âm Quí Thiêm. Qu. VI. B́nh vị 2  /.

~ Đỗ Tử Mỹ thơ hay nhiều như sông nước, biến hóa không suy đoán được, cho có thiên tài của Thái Bạch, Thoái Chi cũng hiếm theo kịp! Tới ngũ ngôn, thất ngôn luật tuy có chỗ hơi vụng về thế nhưng thường có được sự tung hoành, biến hóa, không thể nào giải thích được; như (thơ) thất ngôn (của ông) mênh mang, đẹp đẽ có lúc rồi đượm vẻ cổ kính, chất phác, nhưng không quê mùa, (điều này) cũng chỉ tác giả tự biết, dầu có là đại gia thường cũng không thể chỉ trích được!

 

Bút pháp này tuyệt tích trên đời đă lâu, một hoa một lá phong phú, trau chuốt luận theo cảm quan rồi chỉ làm loạn ư người.

(Lưu Bân Khê).

 

[Phụ chú.

+ Thoái Chi là tên Tự của Hàn Dũ (768 - 824), 1 trong 8 Văn hào Trung Hoa của mọi thời].

 

~ Đỗ thi chính nhi năng biến, biến nhi năng hóa, hóa nhi bất thất bản điệubất thất bản điệu nhi kiêm đắc chúng điệu, cố tuyệt bất khả cập!

(Nguyên Thụy. Hạ đồng).

 

~ Thơ Đỗ Phủ chính biến, biếnhóa, hóa không mất thanh điệu căn bản – không mất thanh điệu căn bản mà kiêm các thanh điệu, v́ thế tuyệt diệu không thể theo kịp!

(Nguyên Thụy. Đoạn dưới cũng vậy).

 

~ Đại khái Đỗ hữu tam nan……

 

Hán, Ngụy chí Đường, thi gia năng sự đô tận, Đỗ hậu khởi, tập kỳ đại thành – nhất dă.

 

Bài luật, Cận thể, tiền nhân vị bị, phạt sơn đạo nguyên, vi bách thế sư – nhị dă.

Khai Nguyên kư văng, Đại Lịch hệ hưng, đê trụ kỳ gian, Đường dĩ phục chấn – tam dă.

 

~ Đại khái (thơ) Đỗ Phủ có 3 cái khó (các thi nhân khác không làm được)….

Từ các thời Hán, Ngụy tới Đường những cái hay của thi ca đă đạt mức tối cao, Đỗ Phủ tới sau, hội được tất cả những cái hay đó – đây là cái khó thứ nhất.

 

Trường luật thi, Cận thể thi người trước chưa hoàn chỉnh, (Đỗ Phủ) bạt núi khai nguồn để thành bậc thầy của trăm đời – đây là cái khó thứ 2.

 

Thời Khai Nguyên qua đi, thời Đại Lịch hưng khởi, (Đỗ Phủ) vững vàng ở khoảng giữa (Thi ca thời Đường nhờ đó) lại chấn hưng – đây là cái khó thứ 3.

 

~ Tử Mỹ thi diệu xứ tại vô ư nhi ư dĩ chí, phi quảng chi dĩ Quốc phong, Nhă, Tụng, thâm chi dĩ Li Tao, Cửu Ca, an năng tử tước (咀嚼) kỳ ư vị, sấm nhập (闖入) kỳ khổn hoắc (閫閾)?….

(Hoàng Sơn Cốc).

 

[Hồ Nguyên Thụy vân:

~ Đường nhân Phú, Hứng đa nhi Tỉ thiểu. Duy Đỗ tắc Tỉ thời thời hữu chi. Nhiên Đỗ sở dĩ thắng chư gia thù bất tại thử!

 

Hậu nhân xuyên tạc phụ hội, động phát tiếu đoan].

 

~ Cái hay (của thơ) của Đỗ Phủ là ở chỗ vô ưư đă tới, nếu không lấy cái rộng của Quốc Phong, Nhă, Tụng, nếu không lấy cái sâu của Ly Tao, Cửu Ca th́ làm sao có thể nghiền ngẫm được cái ư vị của thơ ông, làm sao nhập cơi thâm sâu của thơ ông.

(Hoàng Sơn Cốc).

 

[Hồ Nguyên Thụy nói:

~ (Thơ) người đời Đường thể Phú, Hứng nhiều mà thể Tỉ ít. Mỗi (thơ) Đỗ Phủ thường thấy thể này. Nhưng cái làm cho Đỗ Phủ hơn các thi gia hoàn toàn không ở điểm này!

 

Người thời sau xuyên tạc, thêm thắt đến tức cười].

 

+ Quốc Phong, Nhă, Tụng tức chỉ Kinh Thi, nói Li Tao, Cửu Ca tức chỉ Sở Từ.

+ Nguyên Thụy là tên Hiệu của Hồ Ứng Lân (1551 - 1602), tác giả Tập Thi Tẩu (詩藪) – một tác phẩm chuyên luận b́nh Thơ.

 

~ Đỗ Thiếu Lăng b́nh sinh chi thi thiên tứ bách ngũ thiên, dĩ Niên phổ khảo chi, tứ thập hiến Phú chi tiền truyền giả thiểu hĩ! Thi tín phi lăo bất công dă!

(Lư Trác Ngô).

 

~ Một đời Đỗ Thiếu Lăng có 1,405 bài thơ, căn cứ Niên phổ mà khảo th́ những bài thơ được truyền trước lúc ông tŕnh bài Phú ở tuổi 40, rồi ít! Về Thơ rồi phải tin là chưa già th́ thơ không khéo!

(Lư Trác Ngô).

 

(Phụ chú.

+ Lư Trác Ngô tức Lư Chí (1527 - 1602), học giả, tư tưởng gia, phê b́nh gia tiểu thuyếthí khúc (tức Kịch) cuối Minh triều).

 

Hồng Lượng Cát (1746 - 1809) nói:

~ Đỗ Công Bộ thi:

                            Cận lai hải nội vi trường cú,

                            Nhữ dữ Sơn Đông Lư Bạch hảo.

Túc kiến trường cú tối nan, phi hữu thập phân lực lượng, thập phân học vấn, bất năng tác dă!

 

Tức dĩ Đường nhi luận, dĩ trường cú thiện trường giả, Lư, Đỗ, Hàn nhi ngoại, dịch duy Cao, Sầm, Vương, Lư tứ gia nhĩ!

                                                  /  Bắc Giang Thi Thoại (北江詩話). Qu. I. 42  /.

~ Thơ Đỗ Công Bộ:

                               Gần đây trong nước làm trường cú,

                               Bạn với Sơn Đông Lư Bạch tuyệt.

 

[Cứ đó th́] có thể thấy làm trường cú rất khó, nếu không có 10 phần tài năng, 10 phần học vấn th́ không thể làm được!

 

Cứ lấy triều Đường mà luận, làm trường cú hay, ngoài Lư (Bạch), Đỗ (Phủ), Hàn (Dũ) cũng chỉ có Cao (Thích), Sầm (Tham), Vương (Duy), Lư (Thương Ẩn) 4 tác gia thôi!

 

(Minh Di:

Trường cú tức chỉ Thất ngôn cổ thi, hay c̣n gọi Thất ngôn ca hành, và chỉ những bài từ mười mấy câu trở lên, và có thể tới hơn 100 câu.

 

Đây là 2 câu 15 – 16 trong bài Tiết Đoan, Tiết Phục diên giản Tiết Hoa túy ca – Bài này gồm 27 câu.

 

Tham khảo: Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. III).

 

Sử học gia Triệu Dực (1727 - 1814) đời Thanh viết:

~ Minh Lư Không Đồng [李崆峒] chư nhân toại vị [] Lư Thái Bạch toàn hồ thiên tài, Đỗ Tử Mỹ toàn hồ học lực. – Thử chân nhĩ thực [耳食] chi luận dă!

Tư lực [思力] sở đáo tức kỳ tài phận [才分] sở đáo, hữu bất như thị tắc bất khoái giả! Thử phi tính linh trung bản hữu thị phận tế nhi tận kỳ lượng hồ? Xuất ư tính linh sở cố hữu nhi vị kỳ toàn dĩ học lực thắng hồ?

                                 / Âu Bắc Thi Thoại. Qu. II. Đỗ Thiếu Lăng thi. 02  /.

 

~ Lư Không Đồng mấy người thời Minh lại nói tài của Lư Thái Bạch toàn ở thiên tài, c̣n tài của Đỗ Phủ hoàn toàn do nơi học lực. – Điều này thực là b́nh luận thiếu suy xét!

 

Khả năng suy tư đă đến nơi đến chốn th́ tài năng cũng đến nơi đến chốn, nếu không như thế th́ không tài giỏi! Đây không phải là nơi bản tánh vốn sẵn mức này mà đạt tới cùng tận cái tài năng sao? Phát sinh từ cái bản tính vốn có nói là hoàn toàn do cái học lực mà được trội hơn sao?

 

Minh Di:

Nói như Triệu Dực tức nói học lực mỗi người mỗi tŕnh độ; cùng 1 lănh vực, cùng học nhưng có người ở mức này, có người ở mức kia, cao / thấp khác nhau, nếu không có cái thiên bẩm, thiên tài về lănh vực ḿnh học th́ không thể nào đạt mức tối cao được.

 

Nói khác đi, Đỗ Phủ không thể nào trở thành một thi nhân lớn nhất của mọi thời đại trong thi học Trung Hoa, như học giả, phê b́nh gia các thời nhận định về ông, nếu như ông không có sẵn thiên tài thơ trong người.

 

Thiên tài và học lực cần đi đôi. Thiên tài phải cần học lực mài dũa, trau chuốt như ngọc cần mài dũa mới thành vật trang sức được!

 

[Phụ chú.

+ Lư Không Đồng (李崆峒). Tức Văn học gia Lư Mộng Dương, văn học gia tiếng tăm trong khoảng trung kỳ triều Minh, học giới thường gọi ông là Lư Không Đồng.

 

Không Đồng là tên Hiệu – tên hiệu đầy đủ là Không Đồng Tử.

 

- Không Đồng (崆峒), Bộ Trung Quốc Văn Học Phê B́nh Thông Sử (Tập V. Minh đại) ghi Hán tự là 空同 – tức chữ Không () và chữ Đồng () đều không có bộ Sơn ().

 

Về năm sinh năm tử của Lư Mộng Dương có một số thuyết như sau:

[1]. - (1472 - 1529).

Trịnh Chấn Đạc (1898 - 1958).

Sáp đồ bản Trung Quốc Văn Học Sử.

 

[2]. - (1472 - 1530).

(a). Du Kiếm Hoa (1895 - 1979).

Trung Quốc Mỹ Thuật Gia Nhân Danh Từ Điển.

(b). Vương Chấn Vũ và Lưu Minh Kim.

Trung Quốc Văn Học Phê B́nh Thông Sử (Tập V. Minh đại).

 

[3]. - (1473 - 1529).

Vương Dục Thuyên và Tào Quí Lâm.

Trung Quốc Lịch Đại Đại Từ Điển. Minh Sử.

 

[4]. - (1475 - 1531).

Nam Kinh Đại Học Lịch Sử Hệ Biên tả Tổ.

Trung Quốc Lịch Đại Danh Nhân Từ Điển.

 

[5]. - (1473 - 1530).

Quảng Đông. Quảng Tây. Hồ Nam. Hà Nam Tu đính Tổ.

Từ Nguyên]. 

 

 

Sau cùng.

Về các thời kỳ trong phong cách thơ của Đỗ Phủ, Trịnh Chấn Đạc (1898 - 1958) viết:

~ Tha đích sinh b́nh khả dĩ phân vi tam cá thời đại, tha đích thi dă nhân chi nhi hữu tam cá bất đồng đích tác phong.

 

Đệ nhất kỳ thị An Lộc Sơn loạn tiền (Công nguyên 755 niên tiền).

 

Giá thời, tha chính thị tráng niên, phả hữu công danh chi tư, hận tưởng tố nhất cá “trí quân Nghiêu, Thuấn thượng” đích trọng thần, bất độc yếu thành nhất cá bất hủ đích nhất cá thi nhân nhi dĩ. Tha hựu văng văng huân nhiễm (薰染) liễu thời nhân đích khoa đản (誇誕) chi tập, vi thi hiếu cao tự xưng đạo, tượng:

Độc thư phá vạn quyển, Hạ bút như hữu thần!

Phú liệu Dương Hùng địch, Thi khán Tử Kiến thân.

Lư Ung cầu thức diện, Vương Hàn nguyện bốc lân.

Tự vị phả đĩnh xuất, Lập đăng yếu lộ tân (要路津),

Trí quân Nghiêu, Thuấn thượng, Cánh sử phong tục thuần.

(Phụng tặng Vi Tả thừa Trượng).

 

Giá bất năng quái () tha! Phàm Đường nhân sai bất đa mạc bất như thử!

 

Tại giá thời, tha đích thi dĩ thị xung phận đích hiển lộ xuất tha đích thiên tài. Đản tượng Lạc Du Viên Ca (樂遊園歌): “Thử thân ẩm băi vô qui xứ, độc lập thương mang (蒼茫) tự vịnh thi”, tượng quan định hậu hí tặng (官定後戲贈): “Đam tửu (耽酒) tu () vi lộc (微祿), cuồng ca thác Thánh triều” - kỳ t́nh điệu dữ đương thời nhất ban đích thi nhân nhược Lư Bạch, Mạnh Hạo Nhiên đẳng thị vô thù đích!

 

Đáo liễu đệ nhị kỳ, tức ṭng An, Sử loạn hậu (安史) đáo tha nhập Thục (入蜀) tiền (Công nguyên 755 – 759 niên), tha đích tác phong khước đại biến liễu!

 

Tại giá đoản đoản đích ngũ niên gian, tha thân lịch bách khổ, lưu li thiên tỉ (遷徙), khắc bất ninh tức, cực nhân sinh đích bất hạnh nhi nhất ban xă hội sở thụ đáo đích khổ nạn canh giảo tha vi vưu thậm! Tha đích t́nh tự (情緒) nhân thử chỉnh cá chuyển biến liễu – Tha tiện thu thập khởi cá nhân lợi lộc đích đả toán, hoán thượng liễu nhất phó (一副) bi thiên mẫn nhân (憫人) đích tâm trường (). Tha li khai liễu Lư Bạch, Mạnh Hạo Nhiên tha môn đích đồng bạn, nhi độc kiên khởi (肩起) khổ nạn thời đại đích tả thực đích đại trách nhiệm lai. Tuy chỉ đoản đoản đích ngũ niên nhi tha thị lánh () nhất cá nhân liễu, tha đích thi thị lánh nhất chủng thi liễu. Tại tha chi tiền, na mạt vĩ đại đích bi thiên mẫn nhân chi tác ṭng bất tằng xuất thế quá. Tại tha chi hậu tài () hội hữu Bạch Cư Dị tha môn sản sinh xuất lai! Tha đích ảnh hưởng thị cực đại đích! Tại giá ngũ niên tha lưu hạ liễu nhất bách tứ thập kỷ thủ thi, sai bất đa tổng hữu nhất bán thị ca vịnh giá thứ đích đại biến loạn đích! Ngă môn bất tằng khán kiến quá biệt nhất cá biến loạn đích thời đại tằng tại biệt nhất vị na mạt vĩ đại đích thi nhân đích thiên thập (篇什) lư lưu hạ canh thâm khắc, canh vĩ đại đích ngân tích quá! 

………………..

 

Đệ tam kỳ thị ṭng tha đích Càn Nguyên nhị niên đích Đông thiên đáo Thành Đô khởi trực đáo tha đích tử vi chỉ (Công nguyên 759 – 770 niên). Trung gian tuy dă tằng do Thục bá thiên (播遷) xuất lai, đản sinh hoạt cứu cánh yếu tỉ đệ nhị kỳ an định thư phục.   Sở dĩ tha giá thập nhất niên trung đích thi văng văng đô thị ngận điềm tĩnh (恬靜) đích, công trí (工緻), thương kính (蒼勁) đích, dữ trung niên thời đại đích huyết mạch phấn trương (僨張), thống khổ hô hào giả bất đồng; tuy dă hữu thống định tư thống chi tác đản bất thậm đa. Vị liễu sinh hoạt đích tỉ giảo an định, sở dĩ giá thời đại đích thi tả đắc tối đa, kỷ yếu chiếm Toàn Tập thập phân chi thất, bát dĩ thượng.

 

Tại giá thời, tha tự hựu khôi phục liễu thung dung du yến chi lạc. Tha đích Hoăn Hoa lư đích cư trạch tự phả thích ư. Khả vọng kiến giang lưu, hựu chủng trúc thực thụ dĩ tăng kỳ thú. Tha túng tửu tiếu vịnh, dữ điền phu dă lăo tương hiệp đăng (狎蕩), vô câu kiểm.Thu hứng bát thủ vi giá thời kỳ đích đại biểu tác…..

 

Sáp Đồ Bản Trung Quốc Văn Học Sử (插圖本中國文學史). 

Đệ nhị thập lục chương. Đỗ Phủ - 2  /.

~ Cuộc đời ông (Đỗ Phủ) có thể phân làm 3 thời kỳ, thơ của ông cũng nhân đó mà có 3 phong cách bất đồng.

 

Thời kỳ thứ nhấttrước khi loạn An Lộc Sơn (trước năm 755 Công nguyên).

Thời kỳ này ông đang tuổi tráng niên, rất nhiều suy tư về công danh, rất mong được làm một bề tôi quan trọng “giúp vua Nghiêu, Thuấn đức”, không chỉ muốn thành một thi nhân bất hủ không thôi! Ông lại thường bị nhiễm cái thói quen khoa trương của người đương thời, làm thơ th́ ưa nói chuyện cao xa, tự xưng tán ḿnh, như:

Đọc thư quá vạn quyển, Hạ bút như có thần.

Phú những Dương Hùng sánh, Thơ với Tử Kiến gần.

Lư Ung mong biết mặt, Vương Hàn nguyện ở bên.

Tự nói vượt quá hết, Bến đường đứng ngất trên. 

Giúp vua Nghiêu, Thuấn đức, Đến khiến phong tục thuần.

(Phụng tặng Vi tả thừa Trượng).

 

Điều này th́ không thể trách ông! Nói chung người thời Đường rồi gần như không ai là không như vậy!

 

Vào thời kỳ này Thơ của ông đă biểu lộ rơ rệt, trọn vẹn thiên tài (thơ) của ông. Chỉ như BàiLạc Du Viên Ca: Thân này tiệc băi về không xứ, trơ trọi mênh mang tự vịnh thơ, như bài Quan định hậu hí tặng: Mê rượu lộc rồi ít, cuồng ca gởi Thánh triều, t́nh ư của ông rồi không khác những thi nhân đương thời như Lư Bạch, Mạnh Hạo Nhiên!

 

Tới thời kỳ thứ 2, tức từ sau loạn An (Lộc Sơn), Sử (Tư Minh) tới trước khi ông vào đất Thục (năm 755 – 759 Công nguyên) th́ phong cách (thơ) của ông lại biến đổi lớn!

 

Trong khoảng 5 năm ngắn ngủi này thân ông trải trăm sự khổ, lưu lạc dời đổi, không có giây khắc được yên ổn, nghỉ ngơi, nỗi bất hạnh tới tận cùng của đời người, và những  khổ nhọc, hoạn nạn gặp trong Xă hội đối với ông chừng như càng nhiều hơn! T́nh tự của ông nhân đây mà chuyển biến hoàn toàn! – Ông liền gom lại hết những suy tính về lợi lộc cá nhân mà đổi lấy một tấm ḷngbuồn trời thương người”. Ông ĺa khỏi những đồng bạn Lư Bạch, Mạnh Hạo Nhiên để một ḿnh gánh lấy trách nhiệm lớntả thực những khổ nạn của thời đại. Tuy chỉ có 5 năm ngắn ngủi nhưng ông rồi đă biến thành một con người khác, thơ của ông rồi trở thành một loại thơ khác! Trước ông, những loại thơ “buồn trời thương người” vĩ đại như vậy chưa từng xuất hiện trên đời! Sau ông mới những thi nhân như Bạch Cư Dị có các sáng tác loại này! Ảnh hưởng của ông [phải nói là] rất lớn! Trong 5 năm này ông để lại 140 mấy bài thơ, gần hết phân nửaca vịnh cái biến loạn lớn này! Chúng ta chưa từng thấy qua một thời đại biến loạn nào khác trong sáng tác của một thi nhân nào khác vĩ đại như thế mà lưu lại dấu tích sâu sắc hơn, vĩ đại hơn!

…………………………

 

Thời kỳ thứ 3 là từ mùa Đông năm thứ 2 Niên hiệu Càn Nguyên lúc ông tới Thành Đô cho tới lúc ông qua đời th́ kết thúc (759 – 770 Công nguyên). Khoảng thời gian này tuy cũng lưu lạc, dời đổi nơi đất Thục, nhưng so với thời kỳ thứ 2 th́ sinh hoạt của ông  rồi an định, thoải mái hơn. Bởi vậy trong 10 năm này thơ của ông thường đều hết sức điềm tĩnh, hay đẹp có ư vị, tươi thắm mạnh mẽ, khác với cái huyết mạch bừng bừng với cái kêu gào đau khổ trong thơ ông thời trung niên; tuy cũng có những sáng tác có sự trấn định sự đau khổ, có sự nghĩ ngợi về sự đau khổ nhưng không nhiều lắm! Do nơi sinh hoạt tương đối yên ổn, vững vàng, cho nên là trong thời kỳ này ông sáng tác được rất nhiều, hầu như chiếm trên 7, 8 phần 10 số thơ trong Toàn Tập của ông!

 

Vào thời kỳ này chừng như ông đă khôi phục được cái ung dung vui vẻ trong những sự vui chơi yến tiệc. Thơ tả nhà ông ở xóm Hoăn Hoa chừng như rất thích ư. Ông có thể ngắm nh́n sông trôi, lại trồng trúc trồng cây cho thêm thú vị. Ông uống rượu, ngâm thơ ḥa đồng với nông phu, người già nơi thôn dă, xuề x̣a không câu thúc.

 

8 bài Thu hứng là sáng tác tiêu biểu của ông trong thời kỳ này……

 

(Minh Di:

2 Câu Tự vị phả đĩnh xuấtLập đăng yếu lộ tân Trịnh Chấn Đạc dẫn lại đoạn trên là 2 câu Đỗ Phủ thay đổi thi từ của bài Cổ thi thứ 4 trong 19 bài Cổ thi mà từ trước đến nay vẫn được gọi dưới một tên chung là Cổ Thi Thập Cửu Thủ (Thơ Cổ 19 Bài).

 

Đây là những bài thơ không có tựa đề, không lưu tên tác giả, được ức đoán là tác phẩm của thời Đông Hán (25 - 220) trở về sau.

 

19 bài Cổ thi này không có tựa đề cho nên trong các bản in lưu hành hiện nay thường lấy câu đầu của bài thơ làm tựa của bài thơ, chẳng hạn:

Bài thứ nhất, câu thứ nhất Hành hành trùng hành hành lấy câu này làm tựa bài thơ.

 

Bài thứ 2, câu mở đầuThanh thanh hà bạn thảo th́ lấy câu này làm tựa bài thơ.

Và ở đây, bài thứ 4, câu 1 là Kim nhật lương yến hội th́ câu nàytựa của bài thơ….

 

2 câu dẫn trên trong bài Cổ thi thứ 4 này như sau:

                                       Hà bất sách () cao túc (高足),

                                       Tiên lập yếu lộ tân (要路津).

                                                     Sao chẳng quất lương mă,

                                                     Bến hiểm lập trước tiên.

(Phụ chú.

+ Sách ().

Là danh từ th́ có nghĩa là cây roi ngựa.

Là động từ th́ có nghĩa lấy roi quất ngựa thúc ngựa chạy nhanh.

+ Cao túc (高足).

Từ điển Từ Nguyên giải nghĩa:

[Cao túc]. Tiệp túc (捷足), chỉ lương mă.

[Cao túc]. Chân nhanh lẹ, chỉ ngựa hay).

 

Bài thứ 4 trong 19 bài thơ cổ nói trên gồm 14 câu, 2 câu dẫn trên là câu 11 câu 12.

 

Tùy Thụ Sâm trong tập Chú giải Cổ Thi Thập Cửu Thủ Tập Thích (古詩十九首集釋) dẫn Lữ Hướng nói:

~ Sách, tiến dă; yếu lộ tân, vị sĩ hoạn cư yếu chức giả, dịch như tiến cao túc cứ ư yếu tân tắc nhân xuất nhập do chi.

                                       /  Cổ Thi Thập Cửu Thủ Tập Thích. Qu. II. Kỳ tứ  /.

~ Sách nghĩa là tiến tới; yếu lộ tân (要路津) nói người làm quan ở địa vị trọng yếu; như thúc ngựa hay tới trấn cứ ở cửa bến trọng yếu, người ra vào phải qua bến này). [.…++1].

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính