Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 3)

 

 

+ Cứ câu khôi phục cái phong cách cổ (trong Thơ) không là tôi rồi là ai đây?” này của Lư Bạch th́ rơ khuynh hướng của ông là Cổ thi - dễ hiểu, điều này hợp với tính phóng khoáng của Lư Bạch. Không thích bị trói buộc trong khuôn khổ thanh lut do đó có lần Lư Bạch làm một bài thơ giỡn Đỗ Phủ, tập Bản Sự Thi nói trên ghi lại như sau:

 

Phản khỏa sơn đầu phùng Đỗ Phủ,

Đầu đới lập tử nhật trạc ngọ.

Tá vấn hà lai thái sấu sinh?

Tổng vị ṭng tiền tác thi khổ!

                                                Nấu gạo đầu non gặp Đỗ Phủ,

                                                Đầu đội nón trúc, nắng giữa ngọ.

                                                Mới hỏi sao mà quá ốm o?

                                                Cũng bởi nào giờ làm thơ khổ!].

 

Minh Di:

 

Bài thơ nói trên được Hồ Chấn Hanh (1569 - 1645) cuối thời Minh (1368 - 1644) thu lục  trong Tổng tập Đường thi:

+ Đường Âm Thống Thiêm. Bính Thiêm. Qu. CLXXI. Bính Thiêm 59.

 

Bài thơ này được xếp trong  Mục Phụ Lục.

 

Bài thơ này có Tựa đề Hí tặng Đỗ Phủ.

 

Dưới tựa bài thơ - Hí tặng Đỗ Phủ, Hồ Chấn Hanh có mấy gịng phụ chú in chữ nhỏ như sau:

~ Kiến Đường cựu Sử.

 

Mạnh Khải vân:

~ Bạch tài dật khí cao, bất câu thanh luật. Thử thi cái cơ Phủ chi câu thúc dă.

 

Dch văn:

~ Coi Sử sách cũ thời Đường.

Mạnh Khải nói:

~ (Lư) Bạch tài cao hơn người, tánh khí thanh cao, không câu chấp thanh luật. Bài thơ này chính là chê (Đỗ) Phủ câu thúc (trong thanh luật).

 

Bài thơ Lư Bạch giỡn Đỗ Phủ làm thơ khổ trong Bản Đường Âm Thống Thiêm ở đây có 2 chữ khác với bài trong Bản Bản Sự Thi:

+ Câu 1: Phản khỏa sơn tiền phùng Đỗ Phủ.

Chữ tiền, Bản Sự Thi ghi là đầu ~ Phản khỏa sơn đầu phùng Đỗ Phủ.

+ Câu 3: Tá vấn biệt lai thái sấu sinh.

Chữ biệt, Bản Sự Thi chép là ~ Tá vấn lai thái sấu sinh?

 

Trong Toàn Đường Thi, bài này liệt ở cuối Quyển CLXXXV.

+ Câu 2: Đỉnh đới lập tử nhật trạc ngọ”, thay v́ “Đầu đới lập tử nhật trạc ngọ”.

 

Trong Lư Thái Bạch Toàn Tập, Vương Kỳ (? - ?) đời Thanh, khi chú giải tập thơ này đă đưa ra một số câu ghi khác với những ǵ ghi trong 3 Bản dẫn trên:

+ Câu 1: Trường Lạc pha tiền phùng Đỗ Phủ.

+ Câu 3: Tá vấn tân lai thái sấu sinh.

+ Câu 4: Chỉ vị ṭng tiền tác thi khổ.

                      /Lư Thái Bạch Toàn Tập. Qu. XXX. Thi văn thập di /.

 

 

Lưu Hiệp (? - 520) viết trong tác phẩm luận Văn học Văn Tâm Điêu Long:

~ Thi vi nhạc tâm, thanh vi nhạc thể.

                                  /Văn Tâm Điêu Long. Nhạc Phủ đệ thất  /.

~ Thơtâm của nhạc, âm thanhthể của nhạc.

 

Đă là tâm của nhạc th́ nhạc phải theo tâm, tâm không theo nhạc - và nói rơ hơn, là thanh phải theo tâm của thi nhân, thi nhân không thể bị trói buộc, hay bị g̣ ép trong khuôn của một thanh luật nhất định nào đó, quan điểm của Lư Bạch là ở điểm này!

 

Nhận định về thi nhân thời Đường. [1++….].

Đă thấy, mở đầu bài gọi là “biên khảo” của bà, bà Huệ Thu viết:

~ “Lư Bạch, tổ sư của thơ….”.

 

Qua câu này ư chừng bà Huệ Thu cho rằng Lư Bạch là thi nhân lớn nhất thời Đường.

Bà Huệ Thu rồi sai “một bậc”.

 

Nhận định về một thi nhân lớn đời Đường không phải dễ dàng, không phải cứ vớ được một cuốn sách Việt Nam nào đó nói về Đường thi, mà kiến thức người viết rất hạn hẹp  để rồi cứ thế mà trích dẫn, mà nói theo.

Phần sau đây sẽ cho thấy điều tôi vừa nói.

 

+ Thi nhân lớn nhất chẳng những thời Đường (618 - 907) mà c̣n trong suốt gịng Thi ca cổ kim Trung HoaĐỗ Phủ, Lư Bạch c̣n dưới Đỗ Phủ một bậc!

 

+ Những nhận định của học giả, thi gia… các thời về thơ Đỗ Phủ ở phần tiếp theo đây được trích dẫn từ cuốn Đỗ Phủ. nghèo, bệnh, cô độc… một đời của tôi - trong mục có tiêu đề Thi gia Luận b́nh thơ Đỗ Phủ.

 

Tôi trưng dẫn những nhận định của tác gia cổ kim ở đây là để đính chính một sai lầm của khá nhiều người Việt Nam trước giờ “vẫn nghĩ, vẫn theo nhau” nói rằng Lư Bạch là thi nhân lớn nhất thời Đường.

 

Và, cũng cần nói rơ là tôi không trưng dẫn toàn bộ những trưng dẫn nhận định của các học giả, thi gia Trung Quốc các thời về Đỗ Phủ trong cuốn sách về Đỗ Phủ của tôi, mà chỉ dẫn lại một vài điều, đủ cho thấy cái sai lầm của nhận định cho rằng Lư Bạch là thi nhân lớn nhất thời Đường!

 

Như gần đây Tạp Chí Dân Văn chuyển cho tôi một bài viết của một ông Việt Nam nọ ca tụng, tâng bốc 1 ông thi sĩ Việt Nam nọ là thi sĩ lớn nhất của Việt Nam, ngang hàng với 4, 5 thi sĩ lớn nhất của thế giới như Lư Bạch, Tagore….

 

Đến như vị trí của Lư Bạch trong Thi ca Trung Quốc ông viết Bài này c̣n chưa rơ mà dám bàn loạn tới các thi nhân Ấn độ, Á rập….

 

Về Lư Bạch th́ phải coi phê b́nh gia Trung Hoa các thời nhận định như thế nào!

 

Cũng vậy, về Tagore th́ phải đọc tiếng Ấn Độ để coi các phê b́nh gia Văn học Ấn Độ nhận định ra sao về ông, không phải cứ thấy Tagore được giải Nobel th́ vội cho rằng ông là nhà thơ lớn nhất của  Ấn Độ và nhân loại! Thiệt là tức cười!

 

Thi gia, học giả các Triều đại Luận b́nh thơ Đỗ Phủ.

 

42 năm sau khi Đỗ Phủ qua đời, năm Quư Tỵ Niên hiệu Nguyên Ḥa (805 - 820) – tức năm 812, Nguyên Chẩn (779 - 831) viết một bài Minh đề mộ bia của Đỗ Phủ, có tựa đề là Đường cố Kiểm hiệu Công Bộ Viên ngoại lang Đỗ quân mộ hệ minh – trong đó có đoạn viết:

~ Chí ư Tử Mỹ cái [] sở vị thượng bạc [] Phong Nhă, hạ cai [] Thẩm, Tống, ngôn đoạt Tô, Lư, khí thôn Tào, Lưu, yểm Nhan, Tạ chi cô cao, tạp Từ, Dũ chi lưu lệ, tận đắc cổ nhân chi thể thế, nhi kiêm kim nhân chi sở độc chuyên hĩ!...

 

Thị thời Sơn Đông nhân Lư Bạch dịch dĩ kỳ văn thủ xưng, thời nhân vị Lư, Đỗ. Dư quan kỳ tráng lăng túng tứ (), băi khứ (擺去) câu thúc, mô tả vật tượng cập nhạc phủ ca thi  thành dịch sai kiên (差肩) ư Tử Mỹ hĩ! Chí nhược phô trần chung thủy, bài tỉ thanh vận, đại hoặc thiên ngôn, thứ do sổ bách, từ khí hào mại (豪邁), nhi phong điệu thanh thâm, chúc đối luật thiết, nhi thoát khí () phàm cận, tắc thượng () bất năng lịch () kỳ phiên hàn (藩翰), huống đường áo (堂奧) hồ!

 

(Dẫn trong: Đỗ Thi Kính Thuyên 杜詩鏡銓. Phụ lục I. Truyện chí).

 

~ C̣n như Tử Mỹ th́ trên vượt quá Thi Kinh, dưới kiêm tài hoa của Thẩm (Thuyên Kỳ), Tống (Chi Vấn), về ngôn từ th́ hơn Tô (Vũ), Lư (Lăng), hơi thơ th́ lướt Tào (Thực), Lưu (Công Cán), che lấp cái t́nh chí cao tuyệt của Nhan (Diên Chi), Tạ (Linh Vận), kiêm vẻ diễm lệ, trôi chảy của Từ (Lăng), Dũ (Tín), tận được hết cái phong cách của cổ nhân và  kiêm cả cái hay của người thời nay!....

 

Bấy giờ Lư Bạch, người ở Sơn Đông, cũng nổi tiếng thi văn, người thời ấy hợp xưng là Lư, Đỗ. Tôi thấy cái hùng tráng phóng đăng, trừ bỏ mọi câu thúc, mô tả sự vật, cho đến  Nhạc phủ thi ca th́ Lư Bạch đúng ngang hàng với Tử Mỹ! C̣n như về sự tự thuật trước sau, phân bố thanh điệu, nhiều th́ hoặc cả ngàn lời, ít nữa là mấy trăm lời, lời lẽ hào phóng mênh mông, thanh điệu lại thanh cao, sâu sắc, đối ngẫu xác thiết, hơn nữa lại vượt khỏi sự tầm thường thiển cận, về những điều này Lư Bạch c̣n chưa đạt được mức khả quan, huống là tới độ thâm sâu!

 

(Phụ chú.

+ Phong Nhă. Danh xưng giản lược gọi “Quốc Phong”, Đại Nhă” và “Tiểu Nhă”, 3 bộ phận của Kinh Thi. “Quốc Phong”, là ca dao của các Nước, tự thuật phong tục tốt xấu.

 

Đại khái “Tiểu Nhă” gồm những bài thơ tự thuật về tiệc tùng, tặng đáp, cảm sự, thuật hoài.

 

Trong khi đó, thơ “Đại Nhă” phần lớn tự thuật việc tế tự cầu phúc, và ư chỉ về đạo đức. 

 

Đây là 3 bộ phận chính của Kinh Thi, do đó, khi nói “Phong Nhă” là phiếm chỉ Kinh Thi).

 

Vương An Thạch (1021 - 1086) phê b́nh thơ Đỗ Phủ như sau:

 

~ Vương An Thạch Giới Phủ viết:

~ Thái Bạch ca thi, hào đăng phiêu dật, nhân cố mạc cập – nhiên kỳ cách chỉ ư thử nhi dĩ, bất tri biến dă.

 

Chí ư Tử Mỹ, tắc bi hoan, cùng thái – phát liễm, ức dương – tật từ tung hoành, vô thi bất khả! Cố kỳ thi hữu b́nh đạm giản dị giả, hữu khởi lệ tinh xác giả, hữu nghiêm trọng uy vũ nhược tam quân chi Súy giả, hữu phấn tấn tŕ sậu nhược phụng giá chi mă giả, hữu đạm bạc giản tĩnh nhược sơn cốc ẩn sĩ giả, hữu phong lưu uẩn tạ nhược quí giới công tử giả.

 

Cái công thi tự mật nhi tư thâm, quan giả cẩu bất năng cùng kỳ khổn áo, vị dị thức kỳ diệu xứ, phù khởi thiển cận giả sở năng khuy tai!

 

Thử Tử Mỹ sở dĩ quang yểm tiền nhân nhi hậu lai vô kế dă!

 

(Dẫn trong:

Đỗ Thi Kính Thuyên 杜詩鏡銓. Phụ lục III. B́nh luận. Chư gia luận Đỗ.

Trúc Trang Thi Thoại 竹莊詩話. Qu. V. Đường. Đỗ Phủ 1).

 

Dch văn:

~ Vương An Thạch Giới Phủ nói:

~ Thi ca của Thái Bạch thư thái phóng túng, siêu thoát, (về những điểm này th́) vốn không có người theo kịp – nhưng phong cách của ông rồi chỉ tới đây mà thôi (ông) không biết biến hóa.

 

C̣n như Tử Mỹ th́ những vẻ buồn / vui, khốn cùng / hanh thông – phát tiết / thu liễm – dằn giữ lại / nói rơ ra – nhanh / chậm, tung hoành, không ǵ mà không tả được; bởi vậy thơ của ông có vẻ giản dị, b́nh thường tự nhiên, có vẻ hoa lệ, tinh tế, chân thực, có vẻ nghiêm trang uy vũ như Tướng chỉ huy tam quân, có vẻ mạnh mẽ, lướt nhanh như con ngựa không bị câu thúc, có vẻ điềm đạm, giản dị, tĩnh lặng như ẩn sĩ trong sơn cốc, cái phong độ hàm súc, rộng lượng bao dung như bậc công tử trong giới quí tộc.

 

Tóm lại, thơ của ông tự thuật th́ chặt chẽư tưởng lại thâm trầm, người đọc nếu không hiểu đến chỗ thâm sâu th́ không dễ nhận ra chỗ tuyệt diệu, là điều mà lẽ nào kẻ thiển cận có thể nhận ra được!

 

(Trên) đây là lư do Tử Mỹ che lấp cái hay của người trước, người thời sau cũng không theo được!

 

 

(Phụ chú.

Bản Trúc Trang Thi Thoại (竹莊詩話) có vài câu ghi khác với Đỗ Thi Kính Thuyên

(1). Câu “chí ư Tử Mỹ” ghi là “Chí ư Phủ”.

Câu trước, “chí ư Tử Mỹ”, đúng hơn, ở trên đă ghi tên Tự của Lư Bạch (Thái Bạch) câu sau phải ghi tên Tự của Đỗ Phủ (Tử Mỹ) th́ văn từ mới đối xứng.

 

(2). Câu “cẩu bất năng cùng kỳ khổn áo (閫奧)” ghi là “cẩu bất năng trăn () kỳ khổn áo”. (trăn = đến).

 

(3). Bản Trúc Trang Thi Thoại thiếu đi câu “phù khởi thiển cận giả sở năng khuy tai! 

Thử Tử Mỹ sở dĩ quang yểm tiền nhân nhi hậu lai vô kế dă!).

 

Tác giả  tậpTrúc  Trang Thi ThoạiHà Vấn (? - ?) - có sách ghi Hà Khê Vấn, sống vào khoảng giữa thời Nam Tống (1127 - 1279). Trong tập Thi thoại nói trên Hà Vấn đă trích dẫn khá nhiều thi gia, học giả tiếng tăm thời Bắc Tống (960 - 1127) phẩm b́nh về thơ Đỗ Phủ.

 

Mục viết về Đỗ Phủ phân 2 phần Thượng / Hạ.

 

Trước đoạn dẫn trên, trong phần Thượng, Trúc Trang Thi Thoạicó đoạn viết:

~ Sơn Cốc vân:

- Tử Mỹ thi diệu xứ năi tại vô ư chi văn. Phù vô ư nhi ư dĩ chí, phi quảng chi dĩ “Phong”, “Nhă”, “ Tụng”, thâm chi dĩ “Ly Tao”, “Cửu Ca” an năng tử tước (咀嚼) kỳ vị, khuy nhiên nhập kỳ môn gia? Bỉ hỉ xuyên tạc, khí kỳ đại chỉ (大旨), thủ kỳ phát hứng, ư sở ngộ lâm tuyền, nhân vật, thảo mộc, trùng ngư, dĩ vi vật vật giai hữu sở thác (所託), như thế gian thương độ (商度) ẩn ngữ giả, tắc Tử Mỹ chi thi ủy địa (委地) hĩ!

 

Tần Thiểu Du vân:

- Tô Vũ, Lư Lăng chi thi trường ư cao diệu; Tào Thực, Lưu Công Cán chi thi, trường ư hào dật (豪逸); Đào Tiềm, Nguyễn Tịch chi thi, trường ư xung đạm (沖澹); Tạ Linh Vận, Bảo Chiếu chi thi, trường ư tuấn khiết; Từ Lăng, Dũ Tín chi thi, trường ư tảo lệ (藻麗).  Tử Mỹ giả, cùng cao diệu chi cách, cực hào dật chi khí, bao xung đạm chi thú, kiêm tuấn khiết chi tư, bị tảo lệ chi thái, nhi chư gia sở năng bất cập yên!

                  /Trúc Trang Thi Thoại. Qu. V. Đỗ Tử Mỹ - Thượng  /.

 

~ Sơn Cốc nói:

- Chỗ hay của thơ Tử Mỹ là ở chỗ vô ư của văn từ. Văn vô ưư đă tới, (như) không lấy cái rộng của “Phong”, “Nhă”, “Tụng”, không lấy cái sâu của “Ly Tao”, “Cửu Ca” mà (đo lường) th́ sao có thể nghiền ngẫm được cái ư vị của thơ ông, tiến nhập cảnh vực thơ của ông? Những kẻ kia thích xuyên tạc, gạt bỏ cái ư chỉ lớn của thơ, chuyên lấy cái hứng (trong sáng tác thi ca), gặp cảnh rừng núi, sông suối, nhân vật, cây cỏ, côn trùng (và) tôm cá th́ cho rằng mỗi vật đều có sự kư thác (nào đó), như việc suy đoán ẩn ngữ của  thế gian, và như vậy th́ thơ của Tử Mỹ rồi đến vùi trong ḷng đất hết!

 

Tần Thiểu Du nói:

- Thơ của Tô Vũ, Lư Lăng hay ở chỗ cao diệu; thơ của Tào Thực, Lưu Công Cán hay ở chỗ hào phóng, nhàn nhă - thơ của Đào Tiềm, Nguyễn Tịch hay ở chỗ điềm đạm - thơ của Tạ Linh Vận, Bảo Chiếu hay chỗ cao khiết - thơ của Từ Lăng, Dũ Tín hay chỗ văn từ mỹ lệ. (C̣n) thơ của Tử Mỹ th́ đă đạt tận cùng sự cao diệu, đă tới cực độ của khí thế hào phóng, nhàn nhă, bao hàm cái thú vị của nét điềm đạm, (lại) kiêm vẻ cao khiết, (và) đầy đủ cái sắc thái mỹ lệ mà các thi gia không sao bằng được!

 

Minh Di:

+ Phong, Nhă, Tụng là 3 phần của Kinh Thi, nói Phong, Nhă, Tụng tức nói Kinh Thi.

Ly Tao, Cửu Ca là những thiên trong tập Sở Từ.

 

+ Tô Vũ (? - 60 tr. Cn), Lư Lăng (? -74 tr. Cn) là thời Tây Hán (206 tr. Cn - 08 Cn).

+ Tào Thực (192 - 232), Lưu Công Cán (? - 217) thời Đông Hán (25 - 220).

Công Cán là tên Tự của Lưu Trinh.

+ Nguyễn Tịch (210 - 263) người triều Ngụy (220 - 265) – Tam Quốc (220 - 280).

+ Đào Tiềm (365 - 427) người thời Đông Tấn (317 - 420).

+ Tạ Linh Vận (385 - 433), Bảo Chiếu (405 - 466) đều là người triều Lưu Tống (420 - 479) - thời kỳ Nam Bắc triều (420 - 589).

+ Từ Lăng (507 - 583), Dũ Tín (503 - 581) triều Lương (502 - 557), Nam Bắc triều.

 

+ Sơn Cốc tức Hoàng Đ́nh Kiên (1045 - 1105), coi ở đoạn sau.

 

Những ǵ Sơn Cốc nhận định về thơ của các thi gia các thời trên đây cũng đă được một số tác phẩm luận Đường thi trích dẫn, và giữa các bản có một vài chữ ghi khác, thế nhưng, về ư th́ không khác nhau là mấy.

 

 

Trần Sư Đạo (1053 - 1101) viết trong tập Hậu Sơn Thi Thoại (後山詩話):

~ Thi dục kỳ hảo tắc bất năng hảo hĩ!

 

Vương Giới Phủ dĩ công (), Tô Tử Chiêm dĩ tân (), Hoàng Lỗ Trực dĩ kỳ ().

Nhi Tử Mỹ chi thi, kỳ thường, công dị, tân trần (新陳) mạc bất hảo dă!

                                                                                         /  Hậu Sơn Thi Thoại. 24  /.

~ Thơ muốn hay th́ rồi không hay được!

 

Vương Giới Phủ nói thơ hay ở chỗ khéo, Tô Tử Chiêm nói ở chỗ mới, Hoàng Lỗ Trực nói là ở chỗ lạ.

 

Và (trong) thơ Tử Mỹ th́ cái lạcái thường (thấy), cái khéo ông đạt (rất) dễ dàng, về cái mớicái cũ th́ không ǵ mà ông không hay. 

 

(Phụ chú.

+ Vương Giới Phủ.

Tức Vương An Thạch, Giới Phủtên Tự, Văn học giaChính trị gia trứ danh khoảng cuối triều Bắc Tống (960 - 1127).

 

Vương An Thạch là một trong 8 Văn hào của mọi thời trong 2 triều đại Đường (618 - 907) – Tống (960 -1279) mà Văn học sử Trung Quốc gọi là Đường Tống Bát Đại Gia”:

Đường triều. Hàn Dũ (768 - 824). Liễu Tông Nguyên (773 - 819).

Tống triều. Tô Tuân (1006 - 1066). Âu Dương Tu (1007 - 1072). Tăng Củng (1019 - 1079).  Vương An Thạch (1021 - 1086). Tô Thức (1036 - 1101), Tô Triệt (1039 - 1112). 

(Tô Tuân, Tô Thức,  Tô Triệt là 3 cha con, đương thời được tôn xưng là Tam Tô).

 

+ Tô Tử Chiêm.

Tức Tô Thức, Văn học gia, Thư pháp gia trứ danh vào thời Bắc Tống.

 Tử Chiêm là tên Tự. Tô Thức được biết nhiều qua tên HiệuĐông Pha.

 

+ Hoàng Lỗ Trực.

Tức Hoàng Đ́nh Kiên (1045 - 1105), thi nhân, Thư pháp gia thời Bắc Tống (960 - 1127), và là người khai sáng Giang Tây Thi Phái - đương thờiảnh hưởng rất lớn, chủ trương trong sáng tác thi ca văn từ phải trau chuốt, mỗi chữ viết ra đều phải có xuất xứ, ngoài ra thơ lại chuộng sắc thái kỳ lạ, thích làm áo thể thi. Hoàng Đ́nh Kiên quê ở Giang Tây do đó Thi phái của ông được gọi là “Giang Tây Thi Phái”.

 

Hoàng Đ́nh Kiên rất tôn sùng Đỗ Phủ, ông có thích làm áo thể thi, do đó, là điều không lạ!

 

Ngoài ra, Hoàng Đ́nh Kiên có tên HiệuSơn Cốc Đạo Nhân, bởi vậy mà trong thư tịch ông c̣n được gọi là Hoàng Sơn Cốc - c̣n Lỗ Trực là tên Tự của ông).

 

~ Đường Tử Tây Ngữ Lục vân: - Lục Kinh chi hậu tiện hữu Tư Mă Thiên, tam bách ngũ thiên chi hậu tiện hữu Đỗ Tử Mỹ. Lục Kinh bất khả học, dịch bất tu học; cố tác văn đương học Tư Mă Thiên, tác thi đương học Đỗ Tử Mỹ, nhị thư dịch tu thường độc, sở vị “bất khả nhất nhật vô thử quân” dă!

(Dẫn trong:

+ Điều Khê Ngư Ẩn Tùng Thoại. Tiền Tập. Qu. XLIX. Sơn Cốc – Hạ.

+ Trúc Trang Thi Thoại. Qu. V. Đường. Đỗ Tử Mỹ - Thượng).

~ Đường Tử Tây Ngữ Lục nói: - Sau 6 Kinh th́ có Tư Mă Thiên, sau 305 thiên th́ có Đỗ Tử Mỹ. Lục Kinh th́ không thể học mà cũng không nên học; v́ thế viết văn th́ nên học Tư Mă Thiên, làm thơ th́ nên học Đỗ Tử Mỹ, 2 cuốn sách này cũng phải thường đọc luôn, đây là điều gọi là “không thể một ngày mà thiếu ôngy được”!

 

Minh Di:

+ Đường Tử Tây Ngữ Lục (唐子西語錄). Tức Đường Tử Tây Văn Lục (唐子西文錄). Đường Canh (1069 - 1120) cuối triều Bắc Tống (960 - 1127) soạn – Tử Tây là tên Tự của Đường Canh. V́ sách dùng thể “ngữ văn” - tức thể văn nói, do đó dùng tiếng ngữ lục.

 

Danh xưng ngữ lục khởi từ tác phẩm Tống, Tề Ngữ Lục của Khổng Tư Thượng (? - ?) thời Đường. Từ đời Đường trở đi tăng đồ khi ghi lại những ǵ thầy giảng phần lớn dùng thể khẩu ngữ, tức thể ngữ lụcđă nói. Thời Tống, thầy tṛ truyền, thụ cũng dùng thể này, như Lục Cửu Uyên (1139 - 1193), Chu Hi (1130 - 1200)… đều có Ngữ Lục.

 

+ Bất khả nhất nhật vô thử quân (“không thể một ngày mà thiếu ông này”).

Bộ Thế Thuyết tân Ngữ (說新語) của Lưu Nghĩa Khánh (403 - 444) kể:

~ Vương Tử Do thường () tạm kư nhân không trạch trú, tiện lệnh chủng trúc.

Hoặc vấn: - Tạm trú hà phiền nhĩ?

 

Vương tiếu vịnh lương cửu, trực chỉ trúc viết: - Hà khả nhất nhật vô thử quân!

                     /  Thế Thuyết Tân Ngữ. Nhiệm đản đệ nhị thập tam. 46  /.

~ Vương Tử Do có lần ở tạm trong căn nhà trống của người th́ ông cho trồng trúc.

Có người hỏi: ~ Ở tạm thôi sao mà phiền phức vậy?

 

Vương cao giọng ngâm vịnh một hồi lâu rồi chỉ cây trúc nói:

- Làm sao có thể một ngày mà thiếu ôngy được!

 

Sau này 2 tiếng thử quân được dùng để chỉ cây trúc.

 

Tử Do là tên Tự của Vương Huy Chi (? - 388), con trai thứ của Vương Hi Chi (321 - 379) – là một Thư pháp gia nổi tiếng thời Đông Tấn (317 - 420), ngang hàng với cha ḿnh - Trong lịch sử Thư pháp Trung Hoa khi nói Nhị Vương tức chỉ Vương Hi Chi và Vương Huy Chi.

 

Ngô Khả (? - ?) viết trong Tàng Hải Thi Thoại (藏海詩話):

~ Đỗ thi tự kỳ Niên phổ, đắc dĩ khảo kỳ từ lực, thiếu nhi nhuệ (), tráng nhi tứ (), lăo nhi nghiêm (), phi diệu ư văn chương bất túc dĩ trí thử!

                                                         / Tàng Hải Thi Thoại. 03  /.

~ Thơ của Đỗ Phủ tự thuật Niên phổ của bản thân, nhờ đây mà khảo được cái khí lực trong văn từ của ông, thuở trẻ th́ sắc bén, vào độ trung niên th́ phóng túng, chừng về già th́ nghiêm trang, nếu văn chương không hay th́ không thể đạt được như vậy!

 

Hồ Tử (Nguyên Nhiệm) viết:

~ Đông Cao Tạp Lục (東皋雜錄) vân:

- Hữu vấn Kinh Công: “Lăo Đỗ thi hà cố diệu tuyệt cổ kim?”

 

Công viết:

~ Lăo Đỗ cố thường ngôn chi, “Độc thi phá vạn quyển – Hạ bút như hữu Thần”.

Điều Khê Ngư Ẩn Tùng Thoại. Hậu Tập (苕溪漁隱叢話. 後集).

Qu. V. Đỗ Tử Mỹ 1. 02  /.

~ Cuốn Đông Cao Tạp Lục (東皋雜錄) nói:

- Có người hỏi Kinh Công: “Thơ của Lăo Đỗ v́ sao mà hay tuyệt cổ kim?”.

(Kinh) Công nói:

~ Lăo Đỗ vốn từng nói, “Đọc thơ quá vạn quyển – Hạ bút như có Thần”.

(Phụ chú.

+ Hồ Tử, tác giả bộ thi thoại Điều Khê Ngư Ẩn Tùng Thoại [phân 2 tập Tiền. Hậu], có tên Hiệu là Nguyên Nhiệm.

 

+ Kinh Công tức chỉ Vương An Thạch (1021 - 1086) thời Bắc Tống (960 - 1127).

Kinh Công là tước phong của Vương An Thạch, ghi đầy đủ là Kinh Quốc Công.

Học giả Tống triều thường gọi ông là Kinh Công.

 

+ 2 câu Độc thi phá vạn quyển – Hạ bút như hữu thần” dẫn trên của Đỗ Phủ là 2 câu 7 – 8  trong bài Tặng Vi Tả thừa trượng nhị thập nhị vận.

Tham khảo: Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. I).

 

Trong bài thất ngôn Luật thi Các dạ(閣夜), Đỗ Phủ có 2 câu:

Ngũ canh cổ giốc thanh bi tráng,

 

Tam giáp tinh hà ảnh động dao.

Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XV  /.

                                     Canh năm kèn trống âm bi tráng,

                                     Ba Hẽm ngân hà bóng động dao.

 

Về 2 câu 3 - 4 này Kế Hữu Công (? - ?) thời Nam Tống viết:

~ Nễ Hành qua () Ngư Dương Thám (漁陽摻), kỳ thanh bi tráng; Hán Vũ thời tinh th́n ảnh động dao, Đông Phương Sóc vị dân lao chi ứng.

Tử Mỹ thi vân “Ngũ canh cổ, giốc thanh bi tráng, Tam Giáp tinh hà ảnh động dao”, năi dụng cố sự dă.

 

Tiên nho vân “Bất hành thiên vạn lư, bất độc vạn quyển thư bất tri Lăo Đỗ thi” tín nhiên!

                                           /  Đường Thi Kỷ Sự. Qu. XVIII. Đỗ Phủ  /.

~ Nễ Hành đánh điệu trống Ngư Dương Thám, thanh âm bi tráng; thời Hán Vũ đế ánh trăng sao dao động, Đông Phương Sóc nói đây là điềm ứng dân rồi dao lao nhọc.

 

Thơ Tử Mỹ nói “Canh năm kèn, trống âm bi tráng - Tam Giáp ngân hà bóng động dao” chính là dụng điển cố (nói trên)!

Học giả thời trước nói “Không đi ngàn vạn dặm, không đọc vạn quyển sách th́ không hiểu thơ của Lăo Đỗ”, quả đúng là như vậy! 

 

Dương Luân chú dẫn Tô Đông Pha (1036 - 1101):

~ Thất luật chi vĩ lệ giả, Tử Mỹ chi “Tinh kỳ nhật noăn long xà động – Cung điện phong vi yến tước cao”, “Ngũ canh cổ giốc thanh bi tráng – Tam Giáp tinh hà ảnh động dao” nhĩ hậu tịch mạc vô văn!

 

~ [Những câu] tráng lệ trong Thất luật, như của Tử Mỹ “Tinh kỳ ngày ấm long, xà động – Cung điện gió êm én, sẻ cao”, “canh năm kèn trống thanh bi tráng – Tam giáp tinh hà bóng động dao” từ đây về sau lặng lờ không được nghe nữa!

 

Minh Di:                                    

+ “Tinh kỳ nhật noăn long xà động – Cung điện phong vi yến tước cao” hai câu 34   trong bài Luật thi Phụng họa Giả Chí Xá nhân tảo triều Đại Minh Cung (Qu. IV).

Gió thoảng, h́nh rồng, rắn thêu trên cờ phất qua lại, do đó nói long, xà động.

 

Triệu Dực viết:

~ Thất luật trung “Ngũ canh cổ giốc thanh bi tráng ~ Tam giáp tinh hà ảnh động dao” ~ “Cẩm Giang xuân sắc lai thiên địa ~ Ngọc Lũy phù vân biến cổ kim” dịch thị tuyệt xướng! Nhiên hoán khước “Tam Giáp”, “Cẩm Giang”, “Ngọc Lũy” đẳng tự, hà địa bất khả di dụng? tắc thử sổ liên dịch bất vô khả nghị. Chi dĩ thử đẳng khí phách ṭng tiền vị hữu, độc sáng tự Thiếu Lăng, cố quần tương tôn phụng vi tư sơn khai đạo chi thủy tổ nhi vô dị từ nhĩ!

Tự hậu dịch cánh mạc hữu năng tự hưởng (嗣響) dă!

                       / Âu Bắc Thi Thoại. Qu. II. Đỗ Thiếu Lăng Thi. 05  /.

~ (Những câu) trong thơ thất ngôn Luật thi (như) “Canh năm kèn, trống thanh bi tráng – Tam giáp tinh hà bóng động dao” [và] “Cẩm Giang xuân sắc vương trời đất – Ngọc Lũy mây trôi biến cổ kim” cũng là những câu hay tuyệt, vượt hơn hết, không câu nào có thể so sánh! Những tiếng “Tam Giáp”, “Cẩm giang”, “Ngọc Lũy” giả sử đổi lại (thay vào các chữ khác) th́ áp dụng vào đất nào mà không được? () như thế th́ mấy cặp câu này cũng đáng được luận. Chỉ với những khí thế từ trước chưa từng có này, độc sáng từ Thiếu Lăng, do đó mọi người có tôn (ông) là người đầu tiên xẻ núi, mở đường th́ cũng không ai dị nghị!

 

Từ đây về sau rồi không có ai tiếp nối làm được những câu như vậy!

 

Về việc đọc sách (kiến thức) và sáng tác thi văn.

La Đại Kinh (? - ?) thời Nam Tống viết trong cuốn Hạc Lâm Ngọc Lộ(鶴林玉露): 

~ Phàm tác văn chương tu yếu hung trung hữu vạn quyển thư vi chi căn để, tự nhiên hùng hồn hữu cân cốt, tinh minh hữu khí phách, thâm thuần hữu ư vị.

/Hạc Lâm Ngọc Lộ (鶴林玉露). Qu. VI. Bính biên – Văn chương tính lư  /. 

~ Nói chung sáng tác văn chương th́ trong ḷng phải có [đọc] vạn quyển sách để làm căn bản, (có như thế th́ văn chương) tự nhiên sẽ hùng hồn có khí lực, trong sáng có khí thế, sâu sắc tinh thuần có ư vị.

 

Làm thơ mà không có kiến thức (đọc sách) th́ chỉ là RÁP VẦN!

Viết vănkhông có kiến thức th́ chữ nghĩa chỉ là TIẾNG VANG, rỗng ruột – ngoài ra không có ǵ hết! 

 

(Minh Di.

+ Tần Thiểu Du tức Tần Quan (1049 - 1100), từ phú gia thời Bắc Tống (960 - 1127), em rể của Tô Thức Đông Pha (1036 - 1101).

(1). Có sách Việt Nam ghi là Tần Quán (Quan + Sắc), tên Tự là Thiếu Du (Thiêu + Sắc).

(2). Bên cạnh đó có sách ghi tên là Tần Quan và tên Tự cũng là Thiếu Du.

Nhưng, chính xác nhất phải là:

Tên: Tần Quan.

Tên Tự: Thiểu Du – chữ Thiêu với dấu hỏi (Thiêu + hỏi).

Chữ Quan ở đây có nghĩa:

1/. Nh́n, và là nh́n kỹ (tế khán).

2/. Dạo chơi đây đó (du lăm).

Chữ Thiểu nghĩa là ÍT – Chữ này cũng đọc âm Thiếu, nghĩa là nhỏ, là trẻ nít.

Chữ Du có nghĩa là đi chơi đây đó ngắm cảnh, đồng nghĩa với chữ Quan nói trên.

Tên (danh) có nghĩa là “nh́n kỹ”, là “dạo chơi đây đó”.

Đă “đi chơi đây đó”, lại “quan sát, nh́n kỹ cảnh vật” – và, như thế th́ có thể nói rằng đây là một người biết nhiều và hiểu rộng, một người lịch duyệt.

++Thế nhưng, lấy tên Tự là Thiểu Du – có nghĩa là ít đi chơi đây đó th́ điều này hàm ư khiêm cung nói rằng ḿnh chẳng biết nhiều, chẳng hiểu rộng, chẳng lịch duyệt bao nhiêu!

Cứ nghĩ ḿnh c̣n ÍT, c̣n THIẾU th́ cố gắng vươn lên – c̣n như nghĩ ḿnh đă có nhiều đă có đủ th́ cuối cùng đến rơi vào sự tự măn, có hại cho việc tu thân, cho việc học hỏi.

Trường hợp lấy tên Tự của Tần Quan chính là trường hợp theo đó điều ǵ thái quá th́ giảm bớt đi để tạo sự hài ḥa, để ngụ ư khuyên răn việc tu dưỡng đạo đức, về đường học hỏi.

Kết lại trường hợp Tần Quan có sách ghi cả Tên (Danh) lẫn tên Tự (Tự) đều sai, ghi tên là Tần Quán, tên Tự là Thiếu Du.

Bên cạnh đó, có sách ghi tên đúng là Tần Quan th́ lại đọc sai tên Tự.

Đây là do không rơ nguyên tắc lấy tên Tự của cổ nhân.

Nếu tên Tự là Thiếu Duth́ ở đây giữa DanhTự rồi không có 1 tương quan nào hết – điều trái với nguyên tắc căn bản của việc đặt tên Tự của người xưa.

+ Tô Vũ (? - 60 tr. Cn), Lư Lăng ( ? - 74 tr. Cn) đều là người thời Tây Hán (206 tr. Cn - 08).

+ Lưu Công Cán, tức Lưu Trinh (? - 217), người thời Đông Hán (25 - 220).

+ Tào Thực (192 - 232), Nguyễn Tịch (210 - 263) đều là người thời Ngụy (220 - 265).

+ Đào Tiềm (365 ? - 427) là người thời Đông Tấn (317 - 420).

+ Tạ Linh Vận (385 - 433), Bảo Chiếu (405 - 466) đều là người đời Lưu Tống (420 - 479).  

+ Từ Lăng (507 - 583) đời Lương (502 - 557).

+ Dũ Tín (513 - 581) thời Bắc Chu (557 - 581).

Từ Tạ Linh Vận, Bảo Chiếu…. trở đi đều thuộc thời kỳ Nam Bắc triều [420 - 589]).

Hà Lương Tuấn (1506 - 1573) đời Minh (1368 - 1644) viết:

~ Thế chi ngôn Thi giả giai viết Thịnh Đường.

 

Dư quan nhất thời như Vương Hữu Thừa chi thanh thâm (清深), Lư Hàn Lâm chi hào đăng (豪宕), Vương Giang Lăng chi tuấn dật (俊逸), Thường Trưng Quân chi cao khoáng (高曠), Lư Kỳ chi trầm trước (沈著), Sầm Gia Châu chi tinh luyện (精鍊), Cao Thường Thị chi lăo kiện (老健) các hữu kỳ diệu nhi kỳ sở tháo giai năng đăng phong tháo cực (登峰造極) giả dă! Nhiên chung thâu () Đỗ Thiếu Lăng nhất trù (一籌)!

 

Cái Thịnh Đường chi sở trọng giả phong cốt (風骨) dă! Thiếu Lăng tắc thể bị phong cốt nhi phục bao Thẩm, Tạ chi điển nhă, kiêm Từ, Dũ chi miên nhục (綿縟), thái Sơ Đường chi tảo lệ, nhi thanh thâm, hào đăng, tuấn dật, cao khoáng, trầm trước, tinh luyện, lăo kiện cái vô sở bất bị, thử kỳ sở dĩ vi tập đại thành giả dư?

       / Tứ Hữu Trai Tùng Thuyết (四友齋叢). Qu. XXIV. Thi I – 17  /.

~ Trên đời nói Thơ th́ đều nói tới thời kỳ Thịnh Đường.

Tôi xét 1 thời như cái trong sáng sâu xa của Vương Hữu thừa, cái tài hoa phóng túng của Lư Hàn Lâm, cái mỹ lệ, siêu thoát của Vương Giang Lăng, cái khoát đạt cao nhă của Thường Trưng Quân, cái thâm trầm của Lư Kỳ, cái thành thục tinh vi của Sầm Gia Châu, cái lăo luyện, mạnh mẽ của Cao Thường Thị, mỗi người đều có cái hay, và những cái hay này người nào cũng đă đạt tới độ cao nhất! Thế nhưng rốt cục vẫn thua Đỗ Thiếu Lăng một bực!

 

Thơ kỳ Thịnh Đường trọng cái phong độ, cốt cách! Thiếu Lăng bản chất vốn đă đầy đủ cái phong độ, cốt cách mà lại gồm cái cao nhă của Thẩm (Ước), Tạ (Linh Vận) và kiêm cái của chặt chẽ của Từ (Lăng), Dũ (Tín), đủ cái văn vẻ của thời Sơ Đường, và các vẻ tươi sáng sâu xa, tài hoa phóng túng, mỹ lệ siêu thoát, khoáng đạt cao nhă, thâm trầm, đào luyện tinh vi, lăo luyện mạnh mẽ, không vẻ nào ông lại không đủ, đây có phải là do tập hợp đủ hết những điều này mà ông hơn những thi nhân kia chăng? 

 

[Chú thích.

+ Vương Hữu Thừa tức Vương Duy (701 - 761).

Lư Hàn Lâm tức Lư Bạch (701 - 762), v́ có thời gian Lư Bạch làm Hàn lâm Cung phụng bên cạnh Huyền tông.

Vương Giang Lăng tức Vương Xương Linh (698 - ~756).

Thường Trưng Quân tức Thường Kiến (? - ?).

Lư Kỳ (690 - 751).

Sầm Gia Châu tức Sầm Tham (715 - 770).

Cao Thường Thị tức Cao Thích (702 - 765).

Ở đây cũng cần nói thêm về 2 tiếng Cung phụng.

Trong Tập Giản minh Trung Quốc Lịch đại Quan Chế Từ Điển (簡明中國歷代官制詞典) 2 tiếng Cung phụng được giải thích như sau:

~ [Cung phụng]. Tại hoàng đế tả hữu cung chức giả đích xưng hô.

 

Đường sơ hữu Thị ngự sử Nội cung phụng, Điện trung Thị Ngự sử Nội Cung phụng đẳng.

 

Huyền tông thời tuyển Văn học chi sĩ vi Hàn lâm Cung phụng chưởng cung trung chế chiếu thư sắc, hậu cải vi Hàn lâm học sĩ”.

     / Giản Minh Trung Quốc Lịch Đại Quan Chế Từ Điển. Cung Phụng  /.

~ [Cung phụng]. Tiếng gọi những quan chức làm nhiệm vụ của ḿnh bên cạnh vua.

 

Vào buổi đầu thời Đường các chức Thị Ngự sử Nội cung phụng, Điện trung Thị Ngự sử Nội Cung phụng.

 

Thời Huyền tông tuyển người trong giới văn học làm Hàn lâm Cung phụng chuyên các việc soạn thảo chế thư, chiếu thư, sắc thư trong Cung, sau đổi thành Hàn lâm Học sĩ.      

 

Và như vậy, 2 tiếng Cung phụng chỉ là tiếng thêm vào chức vụ của một quan chức nhằm xác định quan chức này là người phục vụ trong Cung, làm việc bên cạnh vua.

 

Cuốn Cổ Kim Xưng Vị Ngữ Từ Điển (古今稱謂語詞典) viết: 

- “[Cung Phụng]. Dĩ mỗ chủng kỹ nghệ thị phụng đế vương đích nhân.

Lệ: Thị Ngự sử Cung phụng / Hàn lâm Cung phụng / Nội đ́nh Cung phụng”.

~ [Cung Phụng]. Người dùng khả năng nào đó của ḿnh để phục vụ bậc đế vương.

 

Thí dụ: Thị Ngự sử Cung phụng / Hàn lâm Cung phụng / Nội đ́nh Cung phụng.

 

Cuốn “Trung Quốc Lịch Đại Chức Quan Biệt Danh Từ Điển” nêu 3 trường hợp:

(1). Gián quan thuộc 2 cơ quan Trung Thư TỉnhMôn Hạ Tỉnh thường theo bên cạnh hoàng đế, giữ việc can gián do đó tục gọi các quan chức này là “Cung Phng Quan”.

 

(2). Cung Phụng là tên gọi khác chỉ chung quan lại trong các Ty.

 

(3). Cung Phụng cũng là tiếng phiếm chỉ Hoạn quan].

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính