Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 2)

 

 

 

 

Nói về đất Dương Châu th́ không thể không nói tới Trịnh Tiệp (1693 - 1765).

 

Người ta kể rằng có lần Trịnh Bản Kiều thơ thẩn tới viếng cảnh Chùa Kim Sơn tại Phủ Trấn Giang tỉnh Giang Tô. Chẳng biết ông là ai, lại thấy ông ăn bn giản dị, xuề x̣a, có phần lôi thôi, phương trượng có vẻ coi thường, ông ta nói cộc lốc với khách:

~ Tọa!    

 

Và day qua chú tiểu:

~ Trà!

 

Sau một lúc nói chuyện, thấy vị khách này nói năng bất phàm, phương trượng vội đưa khách qua pḥng bên và nói:

 

~ Thỉnh tọa.

 

Và gọi chú tiểu:

~ Kính trà.

Nói chuyện lúc nữa, phương trượng mới té ngửa, biết ra người khách trước mặt không ai khác hơn Trịnh Tiệp, một Thư pháp gia, một Họa gia, một Thi nhân rất tiếng tăm thời đó, là một trong tám người Quái lạ đất Dương Châu (Dương Châu Bát Quái), và là người đứng đầu 8 người quái lạ” này, nói khác đi Trịnh Tiệp là người quái l nhất trong 8 người này!

 

Một lần nữa, phương trượng vội vàng mời Bản Kiều qua pḥng phương trượng, rối rít nói:

~ Thỉnh thượng tọa! (Xin mời ngồi lên trên!).

 

Và hối chú tiểu:

~ Kính hương trà! (Pha trà ngon mời!).

 

Và, sau đó, chuyện đă dứt, phương trượng khẩn khoản yêu cầu Trịnh Bản Kiều đề cho một vài gịng lưu niệm, Bản Kiều viết luôn:

~ Tọa, thượng tọa, thỉnh thượng tọa / Trà, kính trà, kính hương trà.

 

(Tham khảo:

Trung Quốc Trà Sự Đại Điển. Nghệ văn. Điển cố. Trịnh Bản Kiều trà đối).

 

Cũng hơi quê, nhưng có được một trong 3 cái Tuyệt [Tam Tuyệt] của Bản Kiều cũng là hân hạnh lắm!).

 

2 tiếng “Đi Điển” trong tựa Sách dẫn trên là tiếng viết tắt của “Đi Từ Điển”.

 

Người Trung Hoa rất hay nói tắt, viết tắt, chẳng hạn:

~ “Sư Đi =Sư Phm Đi Hc”; và Bắc Sư Đi tức Bắc Kinh Sư Phm Đi Hc.....

 

Thi, Thư, Họa của Trịnh Bản Kiều đương thời được xưng là Tam Tuyệt.

 

Ngoài ra nữa, đôi lúc Trịnh Tiệp cũng khắc con dấu (Ấn), nét khắc mộc mạc, cổ nhă.

 

Ông tên Tự là Khắc Nhu, tên Hiệu là Bản Kiều, người huyện Hưng Hóa, tỉnh Giang Tô.

 

Trịnh Tiệp sưu tập rất nhiều Bia các đời Hán, Bắc Ngụy và chuyên tâm học Thư pháp trên những tấm Bia cổ này. Chữ khắc trên Bia đời Hán chủ yếu là Lệ thư, trong khi đó Bia triều Bắc Ngụy, chủ yếu là Khải thư, Trịnh Tiệp đă dung hp 2 Thư thể kể trên để hoặc Khải thư là chủ thể dung hợp Lệ thư, hoặc Lệ thư là chủ thể, nhập Khải thư mà thành một Thể mới. Thư thể này đương thời được mệnh danh là “Bản Kiều thể”, hoặc c̣n gọi là Lục Phân Bán Thư, hay Chân Lệ Tương Tham.

 

Tác phẩm đầu tiên, đồng thời cũng là tác phẩm tiêu biểu cho Thư thể nói trên, viết vào năm 1752, là bài “Tân Tu Thành Hoàng Miếu Bi Kư - Thư thể chủ ở đây là Khải thư tham nhập Bút pháp Lệ thư, và luôn cả Triện thư.

 

Kết quả là Khải thư của Trịnh Tiệp trong Bài kể trên rồi không phải là Khải thư của triều Bắc Ngụy, không phải là Khải thư thời Đường - gần nữa, cũng không phải là Khải thư đương thời, tức đời Thanh.

 

5 năm sau nữa - năm 1757, đến tác phẩm “Tửu Khánh Quân Mô Cô Thi Trục” th́ thể Lục Phân Bán Thư của Trịnh Tiệp đạt tới độ viên măn.

 

Như đă biết, trước hết Trịnh Bản Kiều là một Họa gia, để từ căn bản này ông đă đưa Hội họa nhập Thư pháp, tạo cho Thư pháp một nét nghệ thuật độc đáo.

 

Tóm lại, Trịnh Tiệp tổng hp 4 thể Chân, Thảo, Triện, Lệ, lấy Chân thư, Lệ thư là chủ để từ đó sáng tạo một Thư thể mới, kế đến ông vận dụng Bút pháp Hi ha để viết ra. 

 

Có thể nói đây là một sự kiện độc nhất vô nhị trong suốt gịng Lịch sử Thư pháp Trung Quốc.

 

(Tham khảo:

Trung Quốc Cổ Đại Thư Pháp Sử.

Đệ tứ Chương. Thự t́nh dương lư.

Đệ tam tiết. Bi học phái. Trịnh Tiệp).

 

Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.

 

Cố nhân Tây từ Hoàng Hạc Lâu,

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

Cô phàm viễn ảnh bích không tận,

Duy kiến Trường giang thiên tế lưu. (Lư Bạch).

 

                      Nẻo tây bạn rời Hoàng Lạc Lâu,

                      Sương hoa xuân tận xuống Dương Châu.

                      Chiếc buồm bóng thẳm giữa trời biếc,

                      Chỉ thấy Trường giang trôi thẳm mù. [Minh Di]. 

 

Bài thơ cho biết Mạnh Hạo Nhiên [689 - ~ 740] đi Quảng Lăng - tức Dương Châu, vào cuối tháng 3, tháng cuối xuân ~ và Xuân nói ở đây là mùa Xuân năm thứ 15 Niên hiệu Khai Nguyên (713 - 741), tức năm 727.

 

Mạnh Hạo Nhiên đi Dương Châu và lưu lại đây cho tới cuối năm mới trở lại quê nhà ở quận Tương Dương [bây giờ là huyện Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc], để qua năm sau ra Trường An ứng thí. Không đậu, từ đó ông từ bỏ việc thi cử, sống đời ẩn dật.

 

Trong tập Nhật kư Nhập Thục Kư, Lục Du (1125 - 1210) thuật lại việc trên đường vào đất Thục nhiệm chức, tới Hồ Bắc ông dừng ở Vũ Xương đi t́m nền cũ Lầu Hoàng Hạc.

 

Nhật kư ngày 28 tháng 8 năm thứ 6 Niên hiệu Càn Đạo [1165 - 1173], tức 1170, ông có đoạn viết:

~ Thái Bạch đăng thử Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên thi vân:

                                    Cô phàm viễn ánh bích sơn tận,

                                    Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.

 

Cái phàm tường ánh viễn sơn vưu khả quan, phi giang hành cửu bất năng tri dă!

                                    

Nhập Thục

Kư. Qu. V  /.

~ Thái Bạch lên Lầu này làm thơ tiễn Mạnh Hạo Nhiên có câu:

                                      Chiếc buồm xa ánh núi xanh thẳm,

                                      Chỉ thấy Trường giang trôi thẳm mù.

 

Bóng buồm nổi bật giữa núi non xa xa trông hết sức đẹp mắt, nếu chẳng là người từng qua lại trên sông lâu ngày th́ không thể biết được cảnh này ~.

[Viễn ánh, các bản Đường thi lưu hành hiện này chép là viễn ảnh.

Bích sơn, các bản Đường thi hiện nay chép là bích không”.

Một vài cuốn chú giải Thi tập của Lư Bạch, cũng như tuyển tập chú giải Đường thi cũng dẫn lại đoạn nhật kư trên của Lục Du nhưng 2 chữ cô phàm lại ghi chinh phàm - tức có nghĩa cánh buồm xa”].

 

Sau hết về trích dẫn, câu cuối của bài thất ngôn bát cú áo thi Khúc Giang (bài thứ 2) trong Hai bài Khúc Giang (Khúc Giang nhị thủ) bà Huệ Thu đă trích dẫn sai 1 chữ:

~ Tạm thời tương tống mạc tương vi.

 

Chữ tống sai, chữ đúng là chữ thưởng.

Chữ thưởng nghĩa là “thưởng thức, thưởng ngoạn”.

 

Tạm thời tương thưởng mạc tương vi.

 

Chỉ một đoạn ngắn với mấy câu thơ, mấy bài thơ thôi mà bài nào bà Huệ Thu trích dẫn  cũng sai không một th́ hai chữ th́ không hiểu bà đă trích dẫn theo cái nhớ của bà hay bà đă biên chép những sai lầm này ở đâu đó của người khác mà bà không biết?

 

Kết lại, như đă nói, viết một bài có liên quan Hán văn mà bà Huệ Thu lại không biết ~ ở mức căn bản, thứ văn tự này th́ bà có không nhận ra được những sai lầm như đă nêu cũng là chuyện dễ hiểu!

 

Và những bài Đường thi bà Huệ Thu trích dẫn sai vài chữ trên đây lại là những bài thơ rất nổi tiếng, được dịch, kể cả chú giải, trong các tập tuyển dịch Đường thi, đáng nói là chuyện này. 

 

(3). Tiếp đến là các bài thơ bà Huệ Thu nêu trong đoạn trên.

 

Bà Huệ Thu viết:

~ Những câu trích ra trên đây, thất niêm, thất luật lung tung! Lư Bạch lại không biết luật ư? Biết mà vẫn không sửa, không cần sửa, bởi nếu ông ta sửa, câu thơ sẽ mất hay !”.

 

Tiếp đó, ở đoạn đưới, về bài Khúc Giang (Bài thứ 2) của Đỗ Phủ, bà Huệ Thu viết:

~ Câu thứ bảy thất niêm, chữ lưu phải là chữ trắc. Dĩ nhiên Đỗ Phủ thừa biết như vậy. Ông thất niêm cố ư ! Hỏi ti sao ông li cố ư th́ li là vấn đề khác”.

 

Ở đây có 2 vấn đề tôi xin hỏi Bà Huệ Thu:

1). Bà Huệ Thu nói là Lư Bạch thất niêm, và nói nếu ông “sửa th́ câu thơ sẽ mất hay”.

 

(a). Vậy th́ cái “mất hay” này ở chỗ nào? tức cái hay của câu “thất niêm” rồi ở đâu?

 

(b). C̣n nếu không sửa, làm hp niêm lut, th́ cái dở rồi ở chỗ nào?

 

Vấn đề ở đây là tại sao câu thơ sẽ hay nếu thất niêm, và “câu thơ sẽ mất hay” nếu giữ đúng niêm luật, đây là những điều mà bà Huệ Thu cần giải thích rơ ra thế nhưng bà đă không giải thích, không giải thích được th́ đúng hơn!

 

Hơn nữa, khi nói rằng Lư Bạch biết ḿnh gieo 1 chữ thất niêm “mà vẫn không sửa”, và không cần sửa, là bà Huệ Thu nói vớ vẩn! V́ sao? lẽ, trước khi gieo chữ thất niêm Lư Bạch đă chn chữ thất niêm này, tức ông biết rất rơ đây là chữ thất niêm, nói rơ hơn Lư Bạch đă quyết định chọn chữ (thất niêm) này trước khi đt nó vào câu thơ. Chỉ cần một thoáng suy nghĩ thôi ai cũng có thể nh́n ra được điều này!

 

C̣n khi, nói như bà Huệ Thu có nghĩa sau khi viết xuống rồi Lư Bch mới thấy ra đưc chữ này thất niêm, điều này sai hoàn toàn!

 

Đây là tôi chưa nói tới một chuyện quan trọng:

++ Bà Huệ Thu có chắc là Lư Bạch làm Thơ theo Luật thi hay không? Chuyện này tôi sẽ nói ở một đoạn sau.

 

2). Bà Huệ Thu nói Đỗ Phủ thất niêm, trong bài “Khúc Giang”, và là “thất niêm cố ư !”.

 

Với câu này bà Huệ Thu đă hiểu điều tôi vừa nói ở trên:

Cũng như Lư Bạch, Đỗ Phủ đă chnmt chữ thất niêm trước khi đặt nó vào câu thơ.

 

Nhưng, chuyện quan trọng ở đây là tại sao Đỗ Phủ lại “cố ư thất niêm!”?

Không giải thích được nên bà nói lảng “ti sao ông li cố ư th́ li là vấn đề khác”.

 

Ngoài ra, về bài Anh Vũ Châu của Lư Bạch:

1). Câu 3 “Anh Vũ tây phi Lũng sơn khứ”.

~ Lũng sơn là tên riêng, Bà Huệ Thu không viết Hoa; lỗi này cũng không đáng kể.

 

2). Nói bài thơ này thất niêm th́ bà Huệ Thu hăy đọc đoạn sau đây

Vương Kỳ đời Thanh chú thích bài thơ trên, viết:

~ Doanh Khuê Luật Tủy:

- Thái Bạch thử thi, năi thị hiệu Thôi Hiệu thể, giai ư ngũ, lục gia công, vĩ cú ngụ cảm thán. Thị thời Luật thi do vị thậm câu ngẫu dă!

                            / Lư Thái Bạch Toàn Tập. Qu. XXI. Anh Vũ Châu  /.

~ Cuốn Doanh Khuê Luật Tủy (viết):

- Bài thơ này của Lư Bạch bắt chước thể thức của Thôi Hiệu, đều ra sức trau chuốt ở 2 câu 5, 6, câu cuối ngụ ư cảm thán. Lúc bấy giờ Luật thi chưa câu chấp đối ngẫu lắm!

 

Minh Di:

Cuốn Doanh Khuê Luật Tủy là tuyển tập b́nh thơ Ngũ ngôn, Thất ngôn Luật thi của 2 triều Đường / Tống, Phương Hồi (1227 - 1307) đời Nguyên (1279 - 1368) biên soạn.

 

Nói “Lúc bấy giờ Lut thi chưa câu chấp đối ngẫu lắm!” tức nói thi nhân không bị g̣ bó về niêm luật - nói rơ hơn, Luật thi thời bấy giờ chưa hẳn là Luật thi, vẫn c̣n cái tự do thoải mái của Cổ thi.

 

(Về bài Hoàng Hạc Lâu, ở một đoạn sau tôi có vài gịng về kiến thức Đường thi của bà Huệ Thu về bài thơ này, cũng như về bài dịch của bà).

 

Trong Luật thi, các tiếng bằng / trắc đặt không đúng chỗ Thi hc Trung Hoa gọi chung là “thất niêm”.

 

Thấy được những chữ “thất niêm” trong một bài Luật thi th́ đă là người làm thơ Đường  người nào cũng có thể thấy được dễ dàng, không riêng bà Huệ Thu.

 

Viết ra một điều mà ai cũng có thể biết được dễ dàng th́ viết ra làm chi?

 

Tại sao những thi nhân như Lư Bạch, Đỗ Phủ lại có thể viết ra những chữ “thất niêm”? đây mới là vấn đề, đây mới là điều người đọc cần biết!

 

Hỏi chỉ để hỏi thôi chứ tôi chắc không thể nào bà Huệ Thu trả lời được 2 câu hỏi trên!

- V́ nếu bà biết vấn đề th́ bà đă nói ra rồi, có phải vậy không?

 

Sau đây tôi sẽ dẫn một số thí dụ về thất niêm trong một vài tập Thi thoại của học giả cũng như thi nhân các thời.

 

Vấn đề thi nhân Trung Hoa các thời nói chung, và thời Đường nói riêng, đă không theo đúng luật bằng trắc trong thơ có rất nhiều nguyên nhân.

 

Ngụy Khánh Chi (? - ?), ẩn sĩ, thi nhân, khoảng cuối triều Nam Tống (1127 - 1279), đă viết trong tập Thi thoại Thi  Nhân Ngọc Tiết:

~ Chiết Yêu thể.

 

Vị trung thất niêm nhi ư bất đoạn:

                            Vị Thành triêu vũ ấp khinh trần,

                            Khách xá thanh thanh liễu sắc tân.

                            Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,

                            Tây xuất Dương Quan vô cố nhân”.

 

                    / Thi Nhân Ngọc Tiết. Qu. II. Thi thể. Hạ  /.

 

Dch văn:

~ Thể Chiết Yêu.

Ư nói trong thơ tuy có chỗ thất niêm nhưng ư không gián đoạn:

                                         Vị Thành mưa sớm, lắng trần ai

                                         Quán trọ xanh xanh thắm liễu đài.

                                         Giục ông hăy cạn một ly rượu,

                                         Tây quá Dương Quan không bạn đây.

 

[Trường hợp bài thơ dẫn trên, trong cuốn “Đường Đại Thi Học” của nhóm nghiên cứu ban Biên tập nhà Xuất bản Chính Trung (Đài Loan) liệt vào trường hợp “Áo thể”].

 

C̣n có phép gọi là Áo cú:

~ ..... Kỳ pháp đương hạ b́nh tự xứ dĩ trắc tự dịch chi, dục kỳ khí đĩnh nhiên bất quần”.

                                                 /Sđd. Quyển thứ, Mục thứ như trên  /.

 

Dch văn:

~ ..... Lối này, chỗ phải hạ chữ có thanh bằng th́ thay vào đó chữ có thanh trắc, để cho hơi thơ vút lên trên tất cả”.

[Minh Di:

Pháp này các tiếng b́nh / trắc của chữ thứ 3 và thứ 5 trong câu chuyển đổi qua lại].

 

Lại c̣n có Thất ngôn biến thể không theo đúng cách lut của Lut thi.

Về loại “Thất ngôn biến thể” này, Hồ Tử (? - ?) thời Nam Tống (1127 - 1279) viết:

~ Điều Khê Ngư Ẩn viết:

Luật thi chi tác, dụng tự b́nh, trắc, thế cố hữu định thể, chúng cộng thủ chi. Nhiên bất nhược thời dụng “Biến thể, như Binh chi xuất kỳ, biến hóa vô cùng, dĩ kinh thế hăi mục. Như Lăo Đỗ thi vân:

                                               Trúc lư hành trù tẩy ngọc bàn,

                                               Hoa biên lập mă tốc kim an.

                                               Phi quan sứ giả trưng cầu cấp,

                                               Tự thức tướng quân lễ số khoan.

                                               Bách niên địa tịch sài môn huỷnh,

                                               Ngũ nguyệt giang thâm thảo các hàn.

                                               Khán lộng ngư chu di bạch nhật,

                                               Lăo nông hà hữu khánh giao hoan.

 

Thử Thất ngôn Luật thi chi biến thể dă!      

          /  Điều Khê Ngư Ẩn Tùng Thoại. Qu. VII. Đỗ Thiếu Lăng 2  /.

 

~ Điều Khê Ngư Ẩn nói:

Sáng tác Luật thi th́ việc dùng chữ bằng, chữ trắc người ta vốn có thể lệ nhất định, mọi người đều tuân theo. Thế nhưng, chẳng bằng đôi lúc dùng Biến thể, cũng như trong Binh pháp dùng kỳ binh (chế ngự đối phương), biến hóa không cùng, làm cho người phải kinh ngạc, lạ lùng. Như thơ của Lăo Đỗ viết:

                                      Trúc lư hành trù tẩy ngọc bàn,

                                      Hoa biên lập mă tốc kim an.

                                      Phi quan sứ giả trưng cầu cấp,

                                      Tự thức tướng quân lễ số khoan.

                                      Bách niên địa tịch sài môn huỷnh,

                                      Ngũ nguyệt giang thâm thảo các hàn.

                                      Khán lộng ngư chu di bạch nhật,

                                      Lăo nông hà hữu khánh giao hoan.

 

Đây là biến thể của Thất ngôn Lut thi.

 

[Minh Di.

Bài thơ dẫn trong đoạn trên của Đỗ Phủ là Bài:     

~ Nghiêm Công Trọng uổng giá thảo đường, kiêm huề tửu soạn, đắc Hàn tự].

 

Đỗ Phủ có bài Đăng Nhạc Dương Lâu, 2 câu đầu:

               Tích văn Động Đ́nh thủy,

               Kim thướng Nhạc Dương Lâu.

 

Học giả Vương Phu Chi (1619 - 1692) b́nh trong cuốn Khương Trai Thi Thoại:

~ Nhạc Kư vân: Phàm âm chi khởi, ṭng nhân tâm sinh dă, cố đương dĩ mục nhĩ hiệp tâm vi âm luật chi chuẩn.

 

Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh chi thuyết bất khả thị vi điển yếu.

 

“Tích văn Động Đ́nh thủy”, “văn”, “đ́nh” nhị tự câu b́nh, chính nhĩ chấn khởi.

 

NhượcKim thướng Nhc Dương Lâu” dịch đệ tam tự vi b́nh thanh, vân “Kim thướng Ba Lăng Lâu”, tắc ngữ kiển nhi lệ ư thính hĩ!

 

     /  Khương Trai Thi Thoại. Qu. II. Tịch Đường Vĩnh Nhật Tự Luận. Nội Biên. 20  /.

 

Dch văn:

~ Thiên Nhạc Kư nói: Âm thanh khởi lên, khởi từ tâm con người, cho nên âm thanh phải thuận với tai, ḥa với tâm, đây mới là tiêu chuẩn của âm luật.

 

[Bởi thế mà] thuyết nhất, tam, ngũ bất luận, nhị, tứ, lục phân minh không thể được coi là chuẩn tắc mẫu mực.

 

Tích văn Đng Đ́nh thủy”, 2 chữ “văn”, “đ́nh” đều thanh bằng, chính điều này làm cho câu thơ có khí lực.

 

Nếu như câuKim thướng Nhc Dương Lâu” thay chữ thứ 3 với một tiếng b́nh thanh mà nói “kim thướng Ba Lăng Lâu” th́ đọc lên th́ trúc trắc, nghe không thuận tai!

 

[Minh Di: Nhạc Dương Lâu ở đất Ba Lăng, nói Ba Lăng Lâu cũng vậy].

 

Mạnh Hạo Nhiên (689 - 740) có bài Lâm Động Đ́nh, 2 câu đầu:

                           Bát nguyệt Hồ thủy b́nh,

                           Hàm hư cổn thái thanh.

 

Học giả Vương Phu Chi b́nh:

~ “Nguyệt”, “thủy” nhị tự giai trắc, tự khả; nhược “hàm hư cổn thái thanhdịch () tác “cổn hư hàm thái thanh”, vi nệ thanh thổ cổ (土鼓) nhi dĩ!Khương Trai Thi Thoại. Qu. II. Tịch Đường Vĩnh Nhật Tự Luận. Nội Biên. 20  /.

 

Dch văn:

~ 2 chữ “nguyệt”, “thủy” đều trắc cũng c̣n được; nếu câuhàm hư cổn thái thanh” mà đổi lại là “cổn hư hàm thái thanh” th́ (chỉ là) câu nệ ở chỗ hợp thanh luật mà thôi!

 

Mă Chu (? - ?) có bài Lăng triêu phù giang lữ tư, 2 câu đầu:

                      Thái thanh thượng sơ nhật,

                      Xuân thủy tống cô chu.

 

2 câu này:

                Trắc, b́nh, trắc, b́nh, trắc.

                B́nh, trắc, trắc, b́nh, b́nh.

 

Chữ thứ 3 và thứ 4 của 2 câu đều là “trắc / b́nh”, thất niêm.

 

Vương Phu Chi (1619 - 1692) b́nh:

~ “Thái thanh thưng sơ nht”, âm luật tự khả; nhược vân “thái thanh sơ thưng nht” dĩ cầu hợp ư niêm, tắc t́nh văn tác nhiên, bất phục năng thành giai cú!

 

Túc kiến phàm ngôn Pháp giai phi Pháp dă! Thích thị hữu ngôn: “Pháp thượng ưng xả hà huống phi Pháp”.

 

     /Khương Trai Thi Thoại. Qu. II. Tịch Đường Vĩnh Nhật Tự Luận. Nội Biên. 20/.

 

Dch văn:

~ Câu “Thái thanh thưng sơ nht”, luận âm luật th́ c̣n chấp nhận được; c̣n nếu như (đổi lại mà) nói “thái thanh sơ thưng nht” cho hợp niêm th́ câu văn trở nên ră rời, và không thành (một) câu hay được!

 

(Như vậy th́) có thể thấy nói chung là các Pháp rồi đều không phải Pháp. Thích Ca có câu: “Pháp c̣n phải bỏ huống là không phải là Pháp”.

 

(Minh Di:

Pháp c̣n phải bỏ huống là không phải Pháp”, câu này trong Kinh Kim Cương).

 

Dương Thận (1488 - 1559) đời Minh có bài Tái Viên Giá Cô Từ, 2 câu cuối:

                    Thùy khởi Đông Sơn Tạ An Thạch,

                    Vị quân đàm tiếu tĩnh phong yên.

 

Vương Phu Chi b́nh:

~ “Thùy khởi Đông sơn T An Thch, v quân đàm tiếu tĩnh phong yênnhược vị An tự thất niêm, canh vânthùy khởi Đông Sơn T Thái phó”, thá đạp tiện bất thành hưởng.

 

      /  Khương Trai Thi Thoại. Qu. II. Tịch Đường Vĩnh Nhật Tự Luận. Nội Biên. 20  /.

~ “Thùy khởi Đông sơn T An Thch, vị quân đàm tiếu tĩnh phong yên” nếu mà nói rằng chữ An thất niêm, đổi lại nói “thùy khởi Đông Sơn T Thái phó”, nghe không xuôi mà âm hưởng không vang dội.

 

(Phụ chú: Chức vụ của Tạ An Thạch là Thái phó, do đó nói Tạ Thái phó cũng vậy).

 

Qua những thí dụ trưng dẫn trên đây trong tập Khương Trai Thi Thoại chúng ta thấy khi b́nh một chữ “thất niêm” trong thơ Vương Phu Chi đều phân tích rơ tại sao thi nhân lại thất niêm? Thất niêm th́ hay ở chỗ nào; ngược lại, nếu giữ đúngniêm lut” câu thơ rồi dở ở chỗ nào!

 

Để làm việc này, như đă thấy, ông giả thiết thay thế những chữ thất niêm bằng những chữ đồng nghĩa mà “đúng niêm lut” rồi luận giải hoặc âm luật, hoặc ư nghĩa, để từ đó b́nh chỗ hay, chỗ dở!

 

Thơ Đường lấy ư làm chủ, do đó, không chủ trương “dĩ từ hi nghĩa”, không lấy văn từ làm tổn giảm cái ư, chẳng hạn làm cho ư tưởng muốn diễn tả hoặc không rơ ràng, hoặc ră rời, hoặc đứt đoạn... , nói rơ hơn, văn từ hay đẹp, có hợp thanh luật, nhưng làm suy giảm cái ư th́ giữ ư, không giữ lời.

 

Mỗi sự “thất niêm” của những tác gia lớn đều có lư do của nó mà người b́nh giảng thơ phải t́m ra lư do đó, tức cái tại sao của sự việc. C̣n như chỉ giản dị chỉ ra những chữ thất niêm trong một bài thơ th́ đây là việc mà ai cũng có thể chỉ ra được!

 

Không phải chỉ Vương Phu Chi mà tất cả tác giả những tập Thi thoại đều làm như vậy!

 

Những tác giả này đều là những học giả nổi tiếng, và hơn nữa, lại là những thi nhân đă từng học hỏi, nghiền ngẫm phong cách của thi nhân đời Đường - mỗi tập Thi thoại là một thành quả học hỏi của bản thân, bởi vậy phần lớn những lời b́nh phẩm họ viết ra chẳng phải “hư ngôn”.

 

Muốn b́nh giảng thơ không phải chỉ làm thơ ~ lại làm thơ nhanh như một số kẻ thường tự hào, thậm chí vênh váo, chưa đủ, phải có chẳng những kiến thức về thơ mà luôn cả kiến thức nói chung, nói khác đi là phải đọc nhiều! Tóm lại:

                               Ở nhà nhất chị nh́ tôi,

                               Ra đường lắm kẻ chẳng tồi như ta!

 

Kim Thánh Thán (1608 - 1661) cuối bài phê b́nh bài Hoàng Hạc Lâu có đoạn viết:

~ Phả kiến úc súc tế nho chung thân úng tỵ u u khổ ngâm, đáo đắc cái quan chi nhật, nhân dữ thu thập bộ thự dịch đắc sổ bách, thiên, vạn dư ngôn, nhiên nhi tằng bất đắc nhất hương lư tiểu nhi! ~.

 

/Thánh Thán Tuyển Phê Đường Tài Tử Thi. Thôi Hiệu. Hoàng Hạc Lâu  /.

 

~ Ngó lại những bọn nho sĩ tầm thường thô lỗ một đời bịt mũi ư ử ngâm nga, tới ngày đóng nắp quan tài lại, tom góp những ǵ bọn này viết ra, người ta thu được cũng tới cả trăm ngàn vạn lời, mà rồi cũng không bằng một đứa con nít trong làng!

 

Triệu Dực (1727 - 1814), Sử học gia trứ danh đời Thanh viết:

~ Chí Đường sơ Thẩm, Tống chư nhân ích giảng cầu Thanh bệnh, ư th ngũ, thất Lut toi thành nhất đnh cách thức, như viên chi hữu qui, phương chi hữu củ, tuy Thánh hiền phục khởi, bất năng cải dịch hĩ! Cái sự xuất ư nhân vi giả, đại khái nhật xu ư tân, tinh ích cầu tinh, mật ích gia mật, bản phong hội sử nhiên. Cố tuy xuất ư nhân vi, kỳ thực tức thiên vận dă!

 

Tựu hữu Đường nhi luận:

Kỳ thủy dă, thượng đa tập dụng Cổ thi, bất lạc thúc phược ư qui hành củ bộ trung. Tức dụng Luật dịch đa ngũ ngôn, nhi thất ngôn do thiểu - thất ngôn dịch đa tuyệt cú, nhi Luật thi do thiểu. Cố Lư Thái Bạch Tập thất Luật cn tam thủ, Mạnh Hạo Nhiên Tậpthất Luật cn nh thủ, thượng bất chuyên dĩ thử kiến trường.

 

/Âu Bắc Thi Thoại. Qu. XII. Thất ngôn Luật/.

 

~ Tới buổi đầu triều Đường, Thẩm (Thuyên Kỳ), Tống (Chi Vấn) mấy người càng giảng luận, t́m cầu những khuyết điểm (bệnh) về Thanh điệu, Ngũ ngôn Lut thi, Thất ngôn  Lut thi do đó rồi thành cách thức nhất đnh, như h́nh tṛn mà có cái qui, h́nh vuông mà có cái củ để mà vẽ, tuy Thánh hiền sống lại cũng không thể sửa đổi được! Sự việc tuy xuất phát từ hành vi của con người, nhưng, đại khái với cái xu hướng ngày càng mới, tinh th́ càng muốn tinh hơn, chặt chẽ th́ càng làm cho chặt chẽ hơn, sự việc vốn do thói tục mà khiến thành như thế. Do đó, tuy xuất từ hành vi của con người mà có nhưng thực ra chính là xu thế tự nhiên vậy!

 

Lấy Đường triều mà luận:

Buổi đầu th́ đa số c̣n thói quen làm Cổ thi, không muốn bị bó buộc trong qui củ. Nếu như làm Luật thi th́ đa sốngũ ngôn, mà thất ngôn Luật thi th́ c̣n ít - và thất ngôn đa sốtuyệt cú, mà Luật thi vẫn c̣n ít. Bởi vậy trong Lư Thái Bạch Tập Thất ngôn luật thi chỉ có 3 bài, trong Mạnh Hạo Nhiên Tập luật thi chỉ có 2 bài (và 2 tác gia này) cũng không lấy đây (Luật thi) để thi thố cái sở trường (thi tài) của ḿnh.

 

Cứ như đoạn dẫn trên th́ thấy ngay nếu bà Huệ Thu lấy Luật thi để phê b́nh Lư Bạch làm thơ sai Luật đă lạc đường, v́ rằng Lư Bạch đâu có làm Luật thi, đâu có muốn để cho Luật thi nó “trói buc” (thúc phược), Lư Bạch làm Cổ thi đó thôi!

 

[Cần nhắc ở đây: Cổ thi chỉ chú trọng “cú điu”, “vn hip”, ít quan tâm bằng / trắc].

Tóm lại, bà Huệ Thu cứ tưởng thơ nào của Lư Bạch cũng là Luật thi do đó mà cứ lấy cái thước Luật thi ra mà đo, do đó mà cứ nói Lư Bạch “thất niêm, thất lut lung tung”.

 

 

Tập Đường Đại Thi Học viết:

~ Lư Bạch thất ngôn tối thắng, nhi tứ ngôn phản thiển - thử khả dĩ kỳ tồn thi h́nh thể khán chi. Cổ thi thập phân chi cửu dĩ thượng, Luật thi bất cập thập phân chi nhất -

 

Ngũ Luật thượng hữu thất thập dư thủ, Thất Luật cận thập thủ, nhi nội trung thả hữu nhất thủ chỉ lục cú.

 

                            /  Đường Đại Thi Học. Lư. Đỗ tỉ giảo. Lư Bạch  /.

 

~ Thơ thất ngôn của Lư Bạch hay hơn hết, trái lại, thơ 4 chữ th́ thiển cận - điều này có thể thấy qua những thơ c̣n lại của ông. (Về Thơ th́) Cổ thi của Lư Bạch chiếm hơn 9 phần 10, Luật thi chưa đến 1 phần 10 (tổng số Thơ của ông) - Ngũ ngôn Luật thi c̣n hơn 70 bài, Thất ngôn Luật thi chỉ có 10 bài, trong đó lại có một bài chỉ có 6 câu.

 

Minh Di

 

Ở đoạn trên tôi dẫn Triệu Dực nói Lư Thái Bạch Tập thất Luật cn tam thủ - nghĩa là “Trong Lư Thái Bạch Tập thất ngôn Luật thi chỉ có 3 bài”.

Ở đây cuốn Đường Đại Thi Học lại nói Lư Bạch có hơn 70 bài ngũ ngôn Luật thi, c̣n  thất ngôn Luật thi chỉ có 10 bài - đây là v́ ở thời Triệu Dực người ta chỉ gom góp được chừng ấy bài (3 bài) Luật thi, và sau đó sưu tập thêm được một số bài nữa.

 

Như vậy, về Luật thi, vừa ngũ ngôn vừa thất ngôn Lư Bạch chỉ có lối trên dưới 80 Bài.

 

+ Đối chiếu với tổng số 963 bài thơ của Lư Bạch [sẽ nói ở đoạn sau] th́ có thể nói rằng Thi tập của Lư Bạch là một Thi tập về Cổ thi.

 

Trong tập Âu Bắc Thi Thoại đă dẫn Triệu Dực có đoạn viết:

~ Thanh Liên thi văn tối đa, tự Lư Dương Băng tác Tự thời dĩ vị đương thời trứ thuật “thp táng kỳ cửu”; kim sở tồn giả giai đắc chi tha nhân vân! cố “Tp” trung chuyển hữu án tác, vi hậu nhân sàm nhập dă!

 

    -/ Âu Bắc Thi Thoại. Qu. I. Lư Thanh Liên thi. 9  /.

~ Thi, văn của Thanh Liên rất nhiều, từ lúc Lư Dương Băng đề Tựa (cho Thi Tập của Lư Bạch) đă nói những sáng tác vào thời ấy của ông “10 phần đă mất 9 phần”; thi văn c̣n lại hiện nay đều do người khác gom góp lại được! Do đó trong Thi tp rồi có những ngụy tác do người đời sau đưa loạn vào!

 

Căn cứ Thư pháp gia trứ danh Lư Dương Băng (722 - 789), chú họ Lư Bạch, đối chiếu với số thơ trong Lư Thái Bạch Toàn Tập hiện nay th́ số thơ của ông rồi vào khoảng trên dưới 10,000 bài. Khoảng gần hết đời Lư Bạch về nương tựa Lư Dương Băng, cho  tới lúc mất. Lư Bạch qua đời Lư Dương Băng gom góp Thơ, văn của ông thành Tập, và viết lời đề Tựa. (Viết tháng 11 [Âm lịch] cuối năm 762).

 

Trong tập Thi thoại Bản Sự Thi, Mạnh Khải (? - ?) đời Đường (618 - 907) viết:

~ Kỳ luận thi vân:

~ Lương, Trần dĩ lai, diệm bạc tư cực, Thẩm Hưu Văn hựu thượng dĩ thanh luật, tương phc cổ đo, phi ngă nhi thùy dư?

                                                     /  Bản Sự Thi. Cao dật đệ tam  /.

~ Ông (Lư Bạch) luận về thơ, nói rằng:

~ Từ các thời Lương, Trần cho đến nay, cái phong cách diễm lệ hời hợt (trong Thơ) đă cực độ, Thẩm Hưu Văn lại chuộng thanh luật, khôi phc cái phong cách cổ (trong Thơ) không là tôi rồi là ai đây?

 

[Minh Di:

+ Mnh Khải (孟棨), cuốn Đường Đại Thi Học ghi là Mnh Triu () là lầm lẫn.

 

(Tham khảo:

Đường Đại Thi Học. III. Thịnh Đường. Lư - Đỗ tỷ giảo. Trang 153).

 

+ Thẩm Hưu Văn tức Thẩm Ước (441 - 513), Sử học gia, Văn học gia trứ danh khoảng đầu triều Lương (502 - 557), Nam Bắc triều (420 - 589), Hưu Văn là tên Tự.

Thẩm Ướcngười đầu tiên phân định phát âm Hán ngữ thành 4 thanh (tứ thanh) – tức dấu giọng, b́nh / thượng / khứ / nhập. Đây là một chuyển biến lớn trong lănh vực nghiên cứu âm vận học Trung Hoa. Ông soạn cuốn Tứ Thanh Phổ, đă thất truyền. Sau này từ những phân tích về tứ thanh của ông thi gia đời Đường (618 - 907) lập ra những qui tắc về thanh điệu trong Luật thi.

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính