Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

(KỲ 11)

 

 

 

Tựa bài viết của bà Huệ Thu là “NHỮNG PHÁ CÁCH TÀI T̀NH TRONG THƠ”.

 

Và tôi phải nói cái “TÀI T̀NH” của bà Huệ Thu ở đây là “Cái thước Lut thi” của bà!

 

Những người tôi phê b́nh từ trước tới đây tất cả đều biết chưa tới đâu nhưng ai cũng kiêu ngạo; nhưng tới đây chỉ thấy mỗi bà Huệ Thu chẳng những kiêu ngạo, ngạo mạn mà c̣n dạy thiên hạ - và dạy rất hung hăng nữa! Bà tưởng bà xướng họa thơ với ông Hà Thượng Nhân – lại nữa, tôi lại nghe người gọi bà là “hồng nhan tri kỷ” của ông – nên tưởng ḿnh là nhất, phách lối coi thiên hạ chẳng ra chi chăng?

 

[6++….]. Luật thi đời Đường gieo một chữ có thanh trắc ở cuối câu 1 không phải ít.

 

Dẫn thêm 2 thí dụ trong thơ Đỗ Phủ:

Dă vọng (野望).

Tây Sơn bạch tuyết Tam Thành thú,

Nam Phố thanh giang Vạn Lư kiều. (1 / 2 đối).

Hải nội phong trần chư đệ cách,

Thiên nhai thế lệ (涕淚) nhất thân dao. (3 / 4 đối).

Duy tương tŕ mộ (遲暮) cung đa bệnh,

Vị hữu quyên ai (涓埃) đáp thánh triều. (5 / 6 đối).

Khoa mă (跨馬) xuất giao thời cực mục,

Bất kham nhân sự nhật tiêu điều.

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. VIII ).

 

Vịnh hoài Cổ tích (詠懷古跡) ngũ thủ.

Kỳ nhất.

Chi li (支離) Đông bắc phong trần tế,

Phiêu bạc (飄泊) Tây nam thiên địa gian. (1 / 2 đối).

Tam Giáp (三峽) lâu đài yêm () nhật nguyệt,

Ngũ Khê (五溪) y phục cộng vân sơn. (3 / 4 đối).

Kiệt, Hồ (羯胡) sự chủ chung vô lại (無賴),

Từ khách (詞客) ai thời thả vị hoàn. (5 / 6 đối).

Dũ Tín b́nh sinh tối tiêu sắt (蕭瑟),

Mộ niên thi phú động Giang quan.

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XIII).

                                  

2 bài dẫn trên, 6 câu đầu đều gồm 3 cặp đối - những bài thơ như 2 bài trên đây được gọi là Tứ vận Luật thi[Luật thi 4 vần]. (Tham khảo: Liễu Nam Tùy Bút. Qu. III. 03).

 

Tôi dẫn thêm 2 bài thơ trên đây ngoài việc cho thấy tác gia đời Đường rất thường dùng 1 tiếng trắc chữ cuối câu đầu trong luật thi mà c̣n để bà Huệ Thu thấy đối ngẫu trong thơ thất ngôn, ngũ ngôn đời Đường rất nhiều vẻ, không nhất định là có, và chỉ có 2 cặp 3 / 4, 5 / 6.

 

Ở một đoạn trước, Vương Kỳ đời Thanh chú thích thơ Lư Bạch, dẫn Triệu Hoạn Quang nói câu đối không phải là (cái làm nên) Luật” - nhận định này chính xác! [….++6].

 

Sau cùng, tôi nhắc lại một đoạn của bà Huệ Thu viết:

Những người c̣n quá câu nệ vào luật thơ th́ nên nhớ câu này :
Tận tín thư bất như vô thư = tin hết vào sách thà đừng có sách c̣n hơn.


Học nhưng phải có sáng tạo nhưng muốn sáng tạo phải biết cho tường tận trước đă.


Bất kể cái ǵ cũng cần phải học, phải có nguyên tắc. Và cũng phải hiểu, chưa có một nguyên tắc nào là vẹn toàn ! Hc như thế mới là hc”.

Bà Huệ Thu dạy thiên hạ về học thơ mà chính bà lại phạm những điều bà dạy thiên hạ.

 

dạy người ta là chớ “quá câu n vào lut thơ” trong khi bà – chưa biết, chưa hiểu tới nơi tới chốn về Đường thi – những ǵ không biết, không hiểu rơ bà cứ bám chặt lấy cái thước Luật thi của bà để đo, để phán rằng chữ này thất niêm, câu kia thất luật… chẳng hạn bài Khúc Giang thứ 2 của Đỗ Phủ, câu 7:

~ Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển.

 

Về câu này bà Huệ Thu viết như sau:

- Câu thứ bảy thất niêm, chữ lưu phải là chữ trắc. Dĩ nhiên Đỗ Phủ thừa biết như vậy. Ông thất niêm cố ư ! Hỏi ti sao ông li cố ư th́ li là vấn đề khác”.

 

Như đă nói ở một đoạn trước đây, bà Huệ Thu rồi không biết rằng chữ lưu này được làm theo áo thể, 1 thể Luật thi Đỗ Phủ sáng tạo, và sáng tác theo thể này rất nhiều!

 

Bất cứ thi nhân nào thời Đường, không ngoại lệ, nhất là các thi nhân lớn, khi sáng tác vượt ngoài thường luật th́ loại sáng tác này đều có những qui tắc của nó, tuyệt nhiên không theo cảm tính ~ một thứ cảm tính vô trật tự, muốn viết ǵ th́ viết!

 

Khi gặp những sáng tác như bài Khúc Giang trên đây th́ chớ vội đưa ra nhận định như bà Huệ Thu mà lầm.

 

Tiếp đến, bà nói “Và cũng phải hiểu, chưa có một nguyên tắc nào là vẹn toàn !”.

 

Ở đây, nói “vẹn toàn” th́ không chính xác, chính xác phải nói là “bất biến”.

 

Những qui tắc nào đó về thanh điệu có thể phù hợp, thuận tai đối với một thời nhưng lại không hợp với một thời khác. Do đó mà có những thay đổi qui tắc trong Thi ca.

 

[7++.…]. Mấy năm trước, ngày 22 / 4 / 2012, có Diễn đàn đẩy vào hộp thư của tôi 1 cái e-mail của một ông gởi cho một bà nói về Đường thi, trích một đoạn:

- “Thưa chị...... (Denver) và ông bà........ (Phoenix) cùng một số bạn gái ưa thích thơ Đường luật.

 

Ở Thủ Đô TB CA có vài nữ sĩ giỏi thơ Đường, nhưng họ ngạo mạn lắm cho ḿnh giống như là (Tự Điển Bách Khoa). Mỗi khi họp bạn tại tư gia họ tâng bốc nhau lên một cách quá đáng, nên tôi cũng cố gắng học làm thơ Đường luật”.

 

Minh Di:

[V́ lư do tế nhị cho nên tôi không nêu danh tánh người gởi cái e-mail này, cũng như tên những người nêu trong e-mail, dầu rằng đây là một thư công khai đưa lên diễn đàn!

 

Chữ “Đường” (đường luật) trong e-mail viết thường, tôi đổi lại viết Hoa.

 

Chữ “giống như” đánh lầm thành “guống như”, tôi xin sửa lại cho đúng].

 

Nếu (nếu thôi) đúng như lời ông trên đây nói th́ mấy bà nữ sĩ này gớm thật!

 

Không rơ mấy “nữ sĩ” này có bà nào có bài về Đường thi đưa lên diễn đàn cho thiên hạ thưởng thức hay không?

 

Tôi không rơ rồi bà Huệ Thu có phải là một trong “vài nữ sĩ...... ngạo mn lắm” đóng đô tại Tiểu bang California đề cập trong cái e-mail nói trên hay không? [….++7].

 

Nếu đúng th́ cũng đúng luôn cho cái thói đời, nhất là ở một số người viết, một số mà  tôi đă gặp khi phê b́nh; đây là thói của những kẻ kiến thức th́ chẳng bao nhiêu nhưng kiêu căng, tự măn lại rất nhiều, từ đó mà nảy sanh cái ngạo mạn, cứ lơ mơ nghĩ rằng:

~ Những ǵ ḿnh biết th́ không ai biết hơn – và:

~ Những ǵ ḿnh không biết th́ không ai biết hết!

 

Chúng ta hăy nghe lại những lời kiêu căng, tự măn, ngạo mạn của bà Huệ Thu:

- “Những người c̣n quá câu nệ vào luật thơ th́ nên nhớ câu này :
Tận tín thư bất như vô thư = tin hết vào sách thà đừng có sách c̣n hơn.


Hc nhưng phải có sáng to nhưng muốn sáng tạo phải biết cho tường tn trước đă.


Bất kể cái ǵ cũng cần phải hc, phải có nguyên tắc. Và cũng phải hiểu, chưa có một nguyên tắc nào là vẹn toàn ! Hc như thế mới là hc”.

 

Nếu bà Huệ Thu có nổi giận bà NTND nào đó chê bà làm thơ “thất niêm” th́ bà nên hạn chế ghi rơ là trả lời bà kia. Ở đây, bà ghi bài viết của bà là Bài “biên khảo”, nghĩa là nói chuyện với cả thiên hạ mà bà có ging điu như trên th́ tôi không thể không cho bà vài “bài hc” ~ 2 bài Từ của Hồ Xuân Hương là 1 trong những bài học đích đáng nhất!

 

[8++….]. Bây giờ hăy coi kẻ gởi bài NHỮNG PHÁ CÁCH TÀI T̀NH TRONG THƠ của bà Huệ Thu viết những ǵ về bài viết này.

 

[PhoNang] Re: Xin khuyên những vị nghiện thơ đường

People

Tam <hocongtam@gmail.com>

04/10/13 at 3:22 AM

To

BAI DO

Message body

 

Người viết bài Những Phá Cách Tài T́nh Trong Thơ phải là người yêu Thi Ca và hiểu Thi Ca lắm vậy.

 

Nhưng tôi e hai vị Đàn trưởng, Đàn phó Thi Đàn Kinh Nguyệt: Thi ông Ngô Kinh Nguyệt và thi ông Đặng Củ Lum sẽ chửi vung xích chó khiến làng thơ hải ngoại lại một phen đinh tai nhức óc. Những con cóc nhảy ra nhảy vô ngỡ ḿnh mới là kẻ xưng đáng cầm cân nẩy mực trong làng thơ Đường luật. Những con cóc này tự đặt thêm luật để bắt người sáng tác thi ca thẩy đều thành những người thơ sắp chữ y như chúng mới là điếc cái con ráy chứ! 

 

Thú thật tôi chưa từng đọc được bài thơ Đường luật nào của hai thi ông Ngô Kinh Nguyệt và Đặng Củ Lum mà nghe lọt lỗ tai. Thơ tôi viết ra được hai thi ông này (Bửu Quang aka Đặng Củ Lum và Ngô Kinh Nguyệt, học tṛ cưng của hai ông bà Lưu Trung Khảo, tháng tháng làm thơ kính thăm thầy cô đăng trên một số các diễn đàn rác rưởi thiếu phẩm chất và lập trường)   lấy kính hiển   vi soi rọi, mổ xẻ, chê bai thoá mạ có tới gần 200 bài mà không ngộ được điều ǵ khả dĩ giúp ḿnh cải thiện, thăng tiến trong sáng tác mà lại đem ḷng thù hận ganh ghét tác giả mới là lạ chứ!  Tôi nghĩ rằng hai thi ông trong cái gọi là Thi Đàn Kinh Nguyệt gồm 2 mống này không có duyên với thi ca nên đă tự ḿnh cô lập ḿnh, bịt tai nhắm mắt không chịu học hỏi trong tinh thần tiếp thu cởi mở nên mới rơi vào t́nh trạng thoái hoá như vậy. Một trường hợp bịnh hoạn tâm thần đáng thương hại. 

 

Bài thơ của nhà thơ Lạc Thủy Đỗ Quư Bái nghe lọt tai lắm! Cô Tú Cali vừa điện thoại từ trong Sở ra cho biết Cô sẽ hoạ vận bài thơ K/g Quư Bạn Thích Thơ Đường đấy. Hy vọng bài hoạ vận của Cô Tú Cali sẽ không làm tác giả bài xướng thất vọng.

Thân chúc quư thi hữu vui vẻ sáng tác.

 

Hồ Công Tâm


Đă gửi từ iPad của tôi

 

Ngày Apr 9, 2013, vào lúc 8:19 AM, BAI DO <doquybai@msn.com> viết:

                              K. gửi : Quư bạn thích thơ Đường

 

                               Xin khuyên mấy vị nghiện thơ Đường

                               Nên đọc Huệ Thu bỏ nết ương:

                               Chớ thấy sai niêm mà bảo dở ... 

                               Đừng nh́n trật luật để coi thường ...

                               Hồn thơ phóng túng bay ngàn hướng ...

                               Tứ nhạc thâm sâu trải vạn phương ...

                               Bằng trắc khó mà giam giữ nổi

                               Ngựa thần vùng vẫy chẳng dàm cương!

 

                                                                                   LTĐQB

 

Ông trên văn xuôi BỢ, và BỢ thực là dơ dáy, vô giáo dục, ông dưới văn vần ĐỠ, ĐỠ hết sức trơ trẽn.

 

Đây là chưa kể tôi đọc được một vài bà, vài cô nào đó ca tụng khen rối rít cái bài được gọi là biên khảo có cái Tựa đề NHỮNG PHÁ CÁCH TÀI T̀NH TRONG THƠ của bà Huệ Thu.

 

Có những người ca bà Huệ Thu như thế, bà chẳng cần biết trúng / trật - bà cũng chẳng có khả năng, tŕnh độ, để biết được -ca, có tụnglà được rồi - th́ làm sao bà Huệ Thu không cao ngạo, không tự măn cho được!

 

Từ lúc bà Huệ Thu viết bài dạy thiên hạ về thơ (2008) cho tới lúc tôi có vài lời (2013) với bà th́ những người tâng bốc bà chẳng ông nào bà nào thấy được những cái sai – và sai trầm trọng, cho tới cái kiến thức về thơ bết bát, của bà hết!

 

Bài tôi phê b́nh bà Huệ Thu từ lúc đưa lên Diễn đàn tới nay th́ 2 ông BỢ, ĐỠ trên đây ông nào cũng ngậm miệng, im thin thít, không sao cất tiếng “ca” nổi nữa!

 

Sau hết, tôi không rơ Cô Tú Cali nêu trong cái e-mail dơ dáy với lời lẽ bưng bợ của Hồ Công Tâm là ai, nhưng điều chắc chắn ai cũng thấy là “Cô Tú” này nếu không là bà Huệ Thu th́ cũng là cùng phe nhóm với Hồ Công Tâm và Đỗ Quư Bái!.

 

Có 3 con ễnh ương ở dưới nh́n lên, tưởng ḿnh tóm thâu hết cả bầu trời, đắc chí mà phành bụng ồm oàm ḥa tấu vang dội, lồng lộng trong ḷng giếng! [….++8].

 

*

 

ĐƯỜNG THI phân 3 loại: Cổ thể / Luật thể / Tạp thể.

(A). Cổ thể.

Cổ thể, học giả Hồ Chấn Hanh (1569 - 1645) trong Tập Đường Âm Quí Thiêmgọi là  Văng thể ~ “văng” nghĩa là “đă qua”.

(Tham khảo Đường Âm Quí Thiêm. Qu. I. Phàm Thể).

 

(a). Cổ thi. Có 3 h́nh thức: Tứ ngôn / Ngũ ngôn / Thất ngôn.

+ Thất ngôn là trung tâm của Cổ thi, là h́nh thức chủ yếu của Cổ thi đời Đường.

 

(b). Nhạc phủ. Tề ngôn / Tạp ngôn.

Tề ngôn tức chỉ thể Nhạc phủ triều Tề (479 - 502) thời Nam Bắc triều (420 - 589).

 

Nhạc phủ đời Đường được gọi là Tân nhạc phủ để phân biệt với Cổ nhạc phủ từ các triều Hán (206 tr. Cn - 220 Cn), Ngụy (220 - 265) đi xuống, từ các triều Tùy (581 - 618) và Trần (557 - 589) đi lên - tức trong khoảng hơn 800 năm trước thời Đường.

 

Nhạc phủ triều Đường có các thể Ca, Hành, hoặc kiêm gọi là Ca Hành, lại có Dẫn, và lại có Khúc, có Dao (tức Ca dao), có Từ, có Thiên...... đều có thể nhập nhạc mà ca.

 

+ Cổ nhạc phủ th́ có thể nhập Luật thi, Luật thi th́ không thể nhập Cổ nhạc phủ.

 

(c). Tao thể. Tạp ngôn.

Tao thể là thơ làm theo thể Ly tao - tức Sở từ, của Khuất Nguyên (343 - 299 tr. Cn) thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn).

 

(B). Luật thể phân ra:

(a). Luật thi. Có 2 h́nh thức: Ngũ ngôn / Thất ngôn.

Luật thi c̣n được gọi là Cận thể thi, Kim thể thi, hay Văng thể thi như đă nói.

 

(b). Tuyệt cú. Có 2 h́nh thức: Ngũ ngôn / Thất ngôn.

 

(c). Bài Luật (排律). Có 2 h́nh thức: Ngũ ngôn / Thất ngôn.

 

Bài Luật c̣n được gọi là Trường Luật, là biến thể từ “Ngũ ngôn trường thiên” của các  thời Lương (502 - 557), Trần (557 - 589).

+ Ngũ ngôn Bài luật là tiêu chuẩn để lấy tiến sĩ trong khoa trường thời Đường.

 

(C). TẠP THỂ.

(a). Liên cú (聯句). Có 3 h́nh thức: Ngũ ngôn / Thất ngôn / Tạp ngôn.

(b). Hài hước. Tề ngôn / Tạp ngôn.

(c). Kỳ dị. Tề ngôn / Tạp ngôn.

 

(Tham khảo:

Đường Đại Thi Học. Đường thi thể lệ. Đường thi thể lệ Hệ thống đồ).

Lấy một thí dụ về “hài hước” trong Tạp thể nói trên trong thơ Đỗ Phủ: [10++….]

Dạ qui (夜歸).

 

Dạ bán qui lai xung () hổ quá,

Sơn hắc gia trung dĩ miên ngọa (眠臥).

Bàng kiến (旁見), Bắc đẩu hướng giang đê,

Ngưỡng khan (仰看), Minh tinh (明星) đương không đả ().

Đ́nh tiền bả chúc (把燭) hoán () lưỡng cử (),

Giáp khẩu kinh viên (驚猿) văn nhất cá (一箇).

Bạch đầu lăo b́ () vũ phục ca,

Trượng lê bất thụy thùy năng nă ()?

 

(Đỗ Thi Kính Thuyên. Qu. XVIII).

 

                                   Lúc nửa đêm về xông chốn hổ,

                                   Non tối trong nhà đă yên ngủ.

                                   Nh́n mé, Bắc đẩu thấp bên sông,

                                   Ngó lên, Kim tinh lưng không tỏ.

                                   Trước sân đuốc một nói một cặp,

                                   Hẽm Núi vượn kinh nghe một chú.

                                   Bạc đầu già suy múa lại ca,

                                   Gậy vin chẳng ngủ ai kham đó? 

 

                                   [Minh Di].

 

Câu 5. Chữ hoán, Tiền Khiêm Ích (1582 - 1664) chép là sân () -nổi giận.

 

(Tham khảo: Tiền Chú Đỗ Thi. Qu. VII. Cổ thi).

 

Chú thích ở lề trên, Dương Luân viết:

~ Tưởng vân:

- Thử dịch cận bài hài (俳諧) thể, ư tại tự khoa (自誇) lăo tráng, phản diện nhất khán chính bất giác thương nhiên (愴然)!

 

~ Họ Tưởng nói:

- Bài này cũng gần như thể (thơ) khôi hài, ư tự khoe ḿnh già c̣n mạnh mẽ, nh́n ở mặt ngược lại th́ bất giác bi thương! -

 

Chú thích câu 2 Dương Luân viết:

~ Hoàng Bạch Sơn vân:

- Đỗ thi đa dụng điệp tựtrợ Cú pháp – như “túc khả”, “đồ không” (徒空), “thủy sơ”, “sầu úy” (愁畏), “thần triêu” (晨朝), “lương lănh” (涼泠), “xa dư” (車輿), miên ngọa(眠臥) chi loại, tịnh thị nhất ư. Đường nhân thi trung dịch đa hữu chi.

 

~ Hoàng Bạch Sơn nói:

- Thơ Đỗ Phủ dùng nhiều cặp chữ (đồng nghĩa) nhằm trợ cú pháp – những cặp như “túc khả”, “đồ không”, “thủy sơ”, “sầu úy”, “thần triêu”, “lương lănh”, “xa dư”, miên ngọa, những chữ trong (cặp) chữ này đều có cùng một ư. Trong thơ người đời Đường cũng có nhiều những cặp chữ như vậy.

 

Minh Di:

 

Những điệp tự Hoàng Bạch Sơn dẫn trên đây, như:

 

Cặp chữ túc khả, chữ túc () và chữ khả () đều có nghĩa là “có thể”.

 

Cặp chữ đồ không, chữ đồ () và chữ không () đồng nghĩa là “chỉ” (trạng từ).

 

Cặp chữ thủy sơ, chữ thủy () và chữ () đồng nghĩa là “bắt đầu, mới đầu”.  

 

………

Như vậy, điệp tự (疊字) Hoàng Bạch Sơn nói đây tức chỉ cặp chữ điệp ư, trong đó chữ sau lập lại ư chữ trước, có một nghĩa gần gần với chữ trước, không là cặp chữ mà chữ sau lập lại âm của chữ trước mà người ta gọi là song thanh điệp ngữ.

 

Phố Khởi Long (1679 - ?) viết:

~ Tức cảnh thành thi, cực hữu cô hứng, biệt vô ngụ ngôn.

                                                                    /  Độc Đỗ Tâm Giải. Qu. II / 3. Thất cổ  /.

~ Thấy cảnh thành thơ, có cái hứng rất đặc biệt độc đáo, không có ngụ ngôn nào khác.

 

Bài Dạ qui trên đây Đỗ Phủ sáng tác trong khoảng từ năm 766 cho tới năm 770 - tức trong khoảng Niên hiệu Đại Lịch (766 - 779), từ Nguyên niên tới năm thứ 5.

 

(Tham khảo:

Độc Đỗ Tâm Giải. Qu. Nhị chi tam. Cổ thi).

 

Minh Di:

Đọc câu đầu tưởng là can trường lắm, vào lúc nửa đêm mà dám băng ngang qua vùng có cọp, “d bán qui lai xung () hổ quá – ngoài ra, ở đây lại dùng chữ xung (), có  nghĩa là “xông tới, lao tới”, rồi nhấn mạnh cái mạnh bạo, cái can đảm đó!

 

Thế nhưng, coi lại th́ hóa ra đương sự đang trong cơn say, không biết sợ là ǵ, nh́n một hóa thành hai, nh́n một cây đuốc trước sân thành 2 cây, “đ́nh tiền bả chúc (把燭) hoán () lưỡng cử ().

 

Thế nhưng, chẳng nhận ḿnh say mà đổ cho tại già, “bch đầu lăo b́ vũ phc ca”, và cho tới cuối vẫn không cho ḿnh say, “trưng lê bất thy thùy năng?”.

 

(Phụ chú.

 

+ Minh tinh.

Tức sao Thái Bạch, c̣n gọi là Kim Tinh.

 

+ Bạch đầu lăo b́ () vũ phục ca.

 

Chữ (băi), nghĩa là băi bỏ, ở đây phải đọc âm (), nghĩa là:

 

- Mệt mỏi, khốn cùng (b́ khốn), mềm yếu (nhuyễn nhược), gầy ốm, già….

Chữ (băi) này có thể dùng thay chữ ().

 

Vào năm 120 trước Tây lịch Hán triều lệnh cho Lư Quảng dẫn 4,000 quân kỵ xuất từ huyện Hữu Bắc B́nh, Bác Vọng Hầu Trương Khiên dẫn 10,000 quân kỵ đánh Hung Nô.

 

Lư Quảng và Trương Khiên hành quân theo 2 đường khác nhau, mỗi đường trải dài đến mấy trăm dặm.

 

Hung Nô đem 40,000 quân binh đến vây quân Lư Quảng, bắn tên như mưa, quân Hán triều chết quá nửa, tên của quân Hán lại gần hết! Tới chiều tối quan quân lại càng sợ, thế nhưng Lư Quảng th́ vẫn an nhiên.

 

Bộ Hán Thư chép:

~ Minh nhật phục lực chiến, nhi Bác Vọng Hầu quân dịch chí, Hung Nô năi giải khứ!

 

Hán quân (), bất năng truy!

                                                /  Hán Thư. Qu. LIV. Lư Quảng truyện  /.

~ Ngày hôm sau lại tận lực chiến đấu, và rồi quân của Bác Vọng Hầu cũng [vừa] đến, quân Hung Nô liền giải ṿng vây rút lui.

 

Quân Hán mệt mỏi, không đuổi theo được!

 

Học giả Nhan Sư Cổ (581 - 645) đời Đường (618 - 907) chú thích chữ ở đoạn trên:

~ độc viết .

~ Chữ (băi) đọc âm là ().). - (trang 137).

 

~ Dạ bán qui lai xung () hổ quá.

 

- Nửa đêm, trong núi trời tối đen, trong nhà mọi người đều đă yên ngủ, cũng không rơ rồi “bch đầu lăo b́” một ḿnh say khướt trở về, xông qua vùng của chú cọp này….

 

Hổ.

 

Dẫn từ: Trung Quốc Cổ Đại Quái Dị Đồ (中國古代怪異圖).  Sơn Hải Kinh Sáp Đồ Tuyển.                       

              H́nh vẽ 79. (trang 50). -

 

…. hay xông qua vùng của chú cọp này?

 

Hắc hổ.

 

Dẫn từ: Trung Quốc Cổ Đại Quái Dị Đồ (中國古代怪異圖). Sơn Hải Kinh Sáp Đồ Tuyển.          

              H́nh vẽ 263 (trang 163).

 

+ Tập Trung Quốc Cổ Đại Quái Dị Đồ có tất cả 265 h́nh vẽ, được tuyển từ 1 số thư tịch đời Thanh (1644 - 1911) - nhiều nhất là trong 2 tác phẩm:

~ Sơn Hải Kinh Quảng Chú của Sử học gia Ngô Nhiệm Thần (1631 - 1684).

 

Ngô Nhiệm Thần là Sử học gia trứ danh vào sơ kỳ Thanh triều. Ngoài Kinh, Sử ra ông c̣n tinh thông Văn tự học, Thiên văn, Lịch pháp, Âm nhạc….

 

Ông gom góp rất nhiều Sử liệu thời kỳ Ngũ Đại để soạn Bộ Thập Quốc Xuân Thu, bổ túc những thiếu sót của 2 bộ Sử về thời kỳ này là Cựu Ngũ Đại Sử của Tiết Cư Chính (? - ?) và Tân Ngũ Đại Sử của Âu Dương Tu (1007 - 1072) thời Bắc Tống (960 - 1127).

 

Đây là tác phẩm trứ danh hơn hết của ông. Về Văn tự học ông có cuốn Tự Vị Bổ.

 

~ Sơn Hải Kinh Tồn của Uông Phất (1692 - 1759).

Uông Phất là người huyện Vụ Nguyên, tỉnh Giang Tây, thông Kinh, Sử, thủa trẻ nhà nghèo phải vẽ h́nh trang trí trên chung, chén cho ḷ gốm Cảnh Đức Trấn tại Giang Tây.  

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính