LTS: Hồn Việt UK online nhận được bài “LẠI NÓI CHUYỆN ĐƯỜNG THI”, từ Huynh trưởng Lư Trung Tín, chủ nhiệm Tạp Chí Dân Văn, Đức quốc. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu đến quư độc giả khắp nơi bài tham khảo về một thể thơ đă đi vào ḍng văn học nước nhà, và từng được nhiều nhà thơ Việt Nam chúng ta hâm mộ, sử dụng. Cho tới nay, Đường thi vẫn c̣n chỗ đứng trong thi đàn Việt Nam.

 

Chúng tôi xin lần lượt đăng từng kỳ để tiện việc sắp xếp và kính mời quư độc giả cùng theo dơi.

 

 

 

Kính thưa Độc giả các Diễn Đàn,

 

Kính thưa qúy vị thích làm thơ,

 

 

Bài “Đường thi, Một vài...” của anh Minh Di biên soạn, Tạp Chí Dân Văn đă cho đăng tải từ ngày 01.05.2014, để, trước hết gởi đến qúy độc giả bốn phương, và riêng tặng qúy vị thích làm thơ, đâu đó đăng tải trên báo in, trên các Diễn Đàn...

 

Hôm nay, anh Minh Di có nhă ư gởi đến qúy độc giả và thân hữu bài “LẠI NÓI CHUYỆN ĐƯỜNG THI”, trong bài có đề cập đến bà Huệ Thu, do đó TCDV sẵn sàng đăng tải các ư kiến hoặc “phản bác” của bà Huệ Thu “để rộng đường dư luận”.

 

Ngược gịng Lịch Sử, chúng ta đă xử dụng tiếng Hán làm ngôn ngữ chung cho cả nước, bao nhiêu “trước tác” của cha ông viết bằng Hán văn, chữ Nho chỉ  được ngưng không dùng nữa mới đây thôi...

 

Nếu nghiên cứu về văn học nước nhà là phải bao gồm các tác phẩm viết bằng tiếng Hán, phải thông thạo Hán Tự.

 

Trong “luật chơi”, nhất là về lĩnh vực “Thơ văn” mà luật của thể THƠ ĐƯỜNG là khó nhất đối với các thi nhân, ông cha ta ngày trước lại rất ưa chuộng thể thơ này, thường dùng để “đối ẩm” với nhau.

 

Bài viết này khá dài, TCDV chia ra thành nhiều kỳ, như thường lệ, qúy vị nào cần trọn bài, xin liên lạc với TCDV, chúng tôi sẽ gởi đến hầu qúy vị.

 

 

Trân trọng.

Germany, 18.08.2017

-      Điều Hợp Viên DĐ Ngôn Ngữ Việt,

-      Chủ Nhiệm TCDV.

LƯ TRUNG TÍN

 

----------------------------------------

 

Lại Nói Chuyện Đường Thi.

01 – 146 (156).

 

 

Minh Di. (Úc châu Trời Nam).

&

 

Vài lời mở.

 

Một bài đă đăng, một cuốn sách đă ấn hành th́ tác giả sau đó luôn luôn nghĩ lại:

~ Tại sao ḿnh không viết thêm điểm này, điểm này, không bỏ đoạn kia, đoạn kia….

 

Bài nàybài thêm điểm này, nhưng không bỏ đoạn kia… cho bài viết trước đây - viết xong vào ngày cuối mùa Đông Úc Châu năm 2013 (31 tháng 8) - đưa lên diễn đàn Tạp Chí Dân Văn (Đức) ngày 9 tháng 9 cùng năm.

 

Những ǵ viết thêm ở đây đề cập một số vấn đề, như:

(1). Một lối phê b́nh Đường thi của một số học giả, thi nhân thời trước.

 

Lối này dùng một lănh vực nghệ thuật khác, nói rơ ra là Hội họa, để nhận định thơnếu không có kiến thức, không đọc Hội họa cổ Trung Hoa th́ không thể nào hiểu được thi nhân, học giả nói ǵ, nhận định ra sao!  

 

Tôi viết phần này để cho thấy, thứ nhất, việc hiểu thơ, thứ hai, phê b́nh, nhận định về các thi nhân đời Đường - nhất là những thi nhân lớn, có những lúc rồi không phải dễ như bà Huệ Thu vốn chỉ đọc có một vài, hoặc cho dầu đọc hết đi nữa, những tuyển tập của một số tác giả Việt Nam trước 1975, và cho đến hiện nay, dịch thơ Đường, viết về Đường thi, rất thiếu sót, chưa nói là sai - và sai hết sức nặng, để rồi coi đó là chân lư mà đưa vào bài viết của bà.

 

Nếu chỉ căn cứ, chỉ dựa vào những sách viết về Đường thi Miền Nam trước 75 - và kể cả sau 75, mà bà Huệ Thu muốn “biên khảo” – như bà lạm dụng từ ngữ, thơ Đường và hoặc hơn vậy nữa, giảng dạy Đường thi cho người trong thiên hạ, th́ phải nói rằng bà  Huệ Thu rồi “điên đảo mộng tưởng”!

 

Ngoài ra, chưa kể bà cũng căn cứ vào cái ông “bác vật” - tên Nguyễn Xuân Vinh - vốn  chẳng biết chi về thơ Đường nói vớ vẩn về số lượng thơ của Lư Bạch. Bà Huệ Thu cứ tưởng rằng cái bằng cấp của ông này ghê gớm lắm, phát ngôn bừa băi chi cũng được! Tôi đă nói trong bài phê b́nh Hoàng Xuân Chỉnh, trong lănh vực Hán học, mảnh giấy ông ta treo trong nhà đó đưa vào chỗ này rồi chỉ là mảnh giấy lộn!

 

(2). Nhận định của học giả, thi gia về thi nhân lớn nhất thời Đường ¾ và rộng hơn nữa trong suốt gịng thi ca Trung Quốc.

 

(3). Vài lời sơ lược về thể Từ, và một vài h́nh thức của Từ đời Đường ngoài h́nh thức 4 câu / 27 chữ - 3 câu 7 chữ, câu đầu 6 chữ - như 2 bài Từ của Hồ Xuân Hương mà bà Huệ Thu không biết 1 mảy nào để rồi suy đoán, nói loạn, kể cả lớn tiếng giảng dạy mọi người, rằng đây là 2 bài thất ngôn tứ tuyệt phá cách.

 

(4). Việc dịch thơ Đường.

Ở mục này tôi phân tích bài dịch bài Khúc giang thứ 2 (của Đỗ Phủ) của Tản Đà, và bài dịch Hoàng Hạc Lâumà bà Huệ Thu tự nhận là bà dịch ~ mà bài viết trước đây tôi chỉ lướt qua có mấy gịng, ở bài này tôi phân tích chi tiết hơn - bên cạnh đó là thêm một đôi điều về việc dịch thơ Đường.

 

Ngoài ra, có 1 vài nhận định của bà Huệ Thu về Bài Hoàng Hạc Lâu bà không nêu ra trong bài “NHỮNG PHÁ CÁCH TÀI T̀NH TRONG THƠ nhưng lại nói ở 1 bài viết khác của bà, tôi cũng đưa vào bài này.

 

Bài này có một vài điều trích từ bài Đường Thi Một Vài đă đưa lên Tạp Chí Dân Văn trước đây, và từ cuốn Đỗ Phủ. nghèo, bệnh, cô độc… một đời. (chưa phổ biến). Các phần khác là từ nguồn tham khảo riêng.

 

(Cũng cần nói rơ ở đây, cuốn Đỗ Phủ. nghèo, bệnh, cô độc… một đời tôi viết xong cách đây hơn 2 năm và gởi cho một số thân hữu. Bản này khá dày.

 

Tới hiện nay tôi đă viết thêm nhiều trang, bởi vậy có một số trích dẫn ở đây - cũng như những sơ sót đă sửa lại gần đây - không có trong Bản tôi đă gởi cho một số thân hữu trước đây).

 

Những phần viết thêm trong Bài này không là một bộ phận tách rời, được đặt riêng rẽ sau bài viết đầu tiên mà là những đoạn xen kẽ, tùy phần được viết thêm hoặc bổ túc.

 

 

Bài phê b́nh trước của tôi Tạp Chí Dân Văn có gởi cho một ông ở Canada, ông này chuyển lại cho một số thi hữu của ông với mấy chữ:

~ “Thưa,

Bài mới nhận được, kính chuyển ngay tới quí thân thi hữu để nghiên cứu, thẩm định.

 

Thực sự mà nói tôi không rơ câunghiên cứu, thẩm định ở đây có ư nghĩa ǵ?

 

Không rơ, cho nên tôi không suy đoán ǵ ở đây hết!

 

Tới lúc viết vài lời mở này - cũng đă hơn 3 năm, mà vẫn chưa thấy ông nói trên, kể cả những thân thi hữu của ông có sự nghiên cứu, thẩm định nào hết!

 

Bài bổ túc này, do đó, trong một giới hạn nào đó, c̣n để cho ông đề cập trên đây – và những thân thi hữu của ông tiếp tụcnghiên cứu, thẩm định”.

 

(Ghi chú:

Trước và sau những phần viết thêm lồng vào bài viết trước đây tôi ghi: (++….++).

 

Ngoài ra, ở đây tôi c̣n muốn nói tới cái tâm lư của bà Huệ Thu, cái tâm lư mà tôi thấy nơi một số người Việt Nam ở Mỹ.

 

Đó là cái tâm lư: ~ Người Việt ở nước Mỹ rồi tài giỏi, cao quư hơn bất cứ người Việt ở các nước như Anh, Pháp, Đức, và Úc….

 

Tôi đưa bài viết này lên diễn đàn hẳn bà Huệ Thu sẽ rất khó chịu, rất đắng, nhưng cái đắng có cái dụng của nó! Qua bài viết này bà sẽ học được rất nhiều điều nữa mà bài viết trước tôi chưa đề cập. Và cũng cần nói rơ là những kiến thức về Đường thi cũng không chấm hết trong bài này, c̣n nhiều, nhiều lắm…! 

                                                                          

&

 

Bài này tôi viết xong từ năm ngoái nhưng để đó, bây giờ muốn đăng mới đề vài lời mở đưa lên diễn đàn.

 

Minh Di.

Viết lời mở,

22:44 tối 15 tháng 8 / 2017.

 

 

(KỲ 1)

 

Năm ba năm trở lại đây thỉnh thoảng lại một số bài chuyển vào hộp thư của tôi của một số người làm thơ Đường, trong đó có luôn những e-mail người này, nhóm này chê người kia, nhóm kia làm thơ thất niêm...., làm thơ dở, thậm chí đả kích nhau với những lời lẽ nặng nề! Ai cũng cho ḿnh làm thơ Đường hay nhất, hiểu Luật thi, nói gọn lại là hiểu Đường thi, hơn ai hết!

 

Tháng 4 năm nay [2013] có người đẩy vào hộp thư của tôi 1 bài nói về thơ - chủ yếu là thơ Đường, và là một bài viết cũ cách đây 5 năm (2008), nhưng mới đối với tôi, có tựa:

 

~ “NHỮNG PHÁ CÁCH TÀI T̀NH TRONG THƠ”.

Dưới tựa bài có mấy chữ ghi:

Tác giả: huệ thu.

Thể loại: biên khảo.

#

 

Bài viết nói chung về thơ nhưng chủ yếu là thơ Đường.

Bài viết này của tôi xét coi bà Huệ Thu “biên khảo” những ǵ và ra sao về thơ Đường.

Về chuyện thất niêm trong Đường thi có một đoạn bà Huệ Thu trích dẫn một số câu và một vài bài thơ Đường.

Bà Huệ Thu viết:

- “Lư Bạch, tổ sư của thơ, người đời thường gọi ông là Trích Tiên, ông cũng có những bài thơ không chú trọng tới niêm luật:

 

Anh Vũ Châu

 

Anh Vũ lai quá Ngô giang thủy

Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh

Anh Vũ tây phi lũng sơn khứ

Phương châu chi thụ hà thanh thanh

Yên khai lan điệp hương phong noăn

Ngạn giáp đào hoa cẩm lăng sinh

Thiên khách thử thời đồ cực mục

Trường châu cô nguyệt hướng thùy minh

...............................

 

Hay :

Nhăn tiền hữu ảnh đạo bất đắc

Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu


Hay là :

Động Đ́nh Hồ tây thu nguyệt huy

Tiêu tương giang bắc tải hồng phi

Túy khách măn tiền ca Bạch Tử

Bất tri sương lệ nhạn thu y

 

Và :

Cố nhân tây hồ Hoàng Hạc lâu

Yên ba tam nguyệt há Dương Châu

..............................

Những câu trích ra trên đây, thất niêm, thất luật lung tung ! Lư Bạch lại không biết luật ư ? Biết mà vẫn không sửa, không cần sửa, bởi nếu ông ta sửa, câu thơ sẽ mất hay !

 

Những câu thơ hay của Hàn Mặc Tử, của Quang Dũng của Thâm Tâm cũng cần có luật đâu ? Vậy th́ niêm luật không cần thiết ư ? Không cần thiết th́ đặt ra làm ǵ, nghiên cứu làm ǵ ?

 

Xin thưa : niêm luật cần lắm chứ ! Nó giúp người ta rất nhiều để làm những bài thơ “khả thủ”, những tay đại bút th́ không cần. Họ chính là luật, họ tạo ra luật. Muốn sáng tạo đương nhiên phải thông thạo nó. Chưa biết mà tấp tểnh phá luật là một điều buồn cười. Người phá luật phải rất thông thạo luật, cũng như người giỏi vơ phải thông thạo mọi thế vơ, khi đă thạo vơ, xuất chiêu là thành vơ đâu cần phải câu nệ ? Không một vơ sĩ nào khi lên đấu mới nghĩ đến những miếng vơ ḿnh cần xử dụng. Lầu thông rồi, nó biến thành những cử chỉ tự nhiên như hơi thở , đi đứng.

 

Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, là một trong những bài thơ hay trong hàng trăm hàng vạn bài thơ Đường . Hoàng Hạc lâu, hay đến nỗi nhà thơ như Lư Bạch, bước đến Lầu Hoàng Hạc thấy thơ của Thôi Hiệu đề trên vách, liền quăng bút, không dám đề thơ nữa . Giai thoại là thế, Lư Bạch là thi tiên của đời Đường, là người uống mt đấu rượu làm một ngh́n bài thơ (Lư Bạch, đấu tửu thi bách thiên). Theo giáo sư Nguyễn Xuân Vinh th́ ông làm gần hai vạn bài thơ.

 

Thực là “kiêu căng”, nói như bà Huệ Thu th́ bà rất thông thạo Luật thơ, là tay “đại bút”!

 

Cái luật bà Huệ Thu nói ở đoạn trên chỉ là cái Luật thơ giáo khoa, bà hiểu bao nhiêu về những phá cách của những đại gia thời Đường mà kiêu căng?

Những ǵ tự thuật ở những phần sau rồi cho thấy bà Huệ Thu chẳng hiểu bao nhiêu về Đường thi, cũng như về qui tắc của sự phá cách. 

 

Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu như sau :


Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

T́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

 

Tản Đà đă dịch và cho đến nay vẫn được coi là bài dịch hay nhất :

 

Lầu Hoàng Hạc

 

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu,

Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ.

Hạc vàng đi mất từ xưa,

Ngàn năm mây trắng bây giờ c̣n bay.

Hán Dương sông tạnh cây bày,

Băi xa Anh Vũ xanh đầy cỏ non.

Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai.

 

Tản Đà


Huệ Thu cũng có bài dịch :

(trong tập SCTĐ)

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?

Biết chăng Hoàng Hạc đây lầu trống trơn

Hạc bay rồi, đă bay luôn

Tầng cao mây trắng cứ vờn thiên thu

Hán Dương cây đứng gục đầu

Châu Anh bờ cỏ xanh màu nhớ thương

Sớm chiều nhắc măi quê hương

Trên sông khói sóng giăng buồn trời ơi !

huệ thu

 

Và bài Khúc Giang của Đỗ Phủ:

 

Triều hồi nhật nhật điển xuân y

Mỗi nhật giang đầu tận túy quy

Tửu trái tầm thường hành xứ hữu

Nhân sinh thất thập cổ lai hy

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện

Điểm thủy thanh đ́nh khoản khoản phi

Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển

Tạm thời tương tống mạc tương vi

 

Tản Đà Dịch :

 

Sông Khúc

 

Khỏi bệ vua ra cố áo hoài

Bến sông say khướt, tối lần mai

Nợ tiền mua rượu đâu không thế ?

Sống bảy mươi năm đă mấy người ?

Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn

Chuồn chuồn rỡn nước lửng lơ chơi

Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi

Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài.


Bản dịch của Tản Đà :

Câu thứ bảy thất niêm, chữ lưu phải là chữ trắc. Dĩ nhiên Đỗ Phủ thừa biết như vậy. Ông thất niêm cố ư ! Hỏi ti sao ông li cố ư th́ li là vấn đề khác”.

 

Trước khi đi sâu hơn, xa hơn về vấn đề Đường thi, cạn nhất và gần nhất tôi hăy nói về những cái sai của bà Huệ Thu về trích dẫn.

 

Sau đây tôi nói về các câu trích dẫn trong đoạn trên của bà Huệ Thu.

Các câu bà Huệ Thu trích dẫn.

 

Câu thứ nhất:

                      Nhăn tiền hữu ảnh đạo bất đắc,

                      Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

 

Sai chữ “ảnh”, chữ đúng là chữ “cảnh”.

 

Cảnh đây là cảnh trước lầu Hoàng Hạc.

Chữ “ảnh” mà bà Huệ Thu ghi sai có nghĩa là “cái bóng” của vật -bóng” ǵ ở đây?

 

- Chẳng có “bóng” nào ở đây hết!

 

Bởi bà Huệ Thu không biết Hán văn cho nên không thấy sự vô lư của chữ “ảnh” ở đây.

 

Và như vậy, câu đúng là:

                                       Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,

                                       Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu!

 

Không rơ bà Huệ Thu trích dẫn câu này ở đâu? Người ta sai, bà không biết, cứ thế mà trích dẫn lại.

 

Bài viết của bà Huệ Thu được bà xếp vào thể loại “biên khảo”.

 

Nếu viết biên khảo mà b đâu chép đó, như bà Huệ Thu đây, thấy là chép lại th́ bất cứ người nào cũng có thể viết biên khảo được!

 

Biên khảo về một vấn đề Cổ học, như Đường thi ở đây, không phải là chuyện dễ!

 

Những tuyển tập dịch và chú giải Đường thi của người Việt Nam viết cho đến bây giờ vẫn chưa đủ, vẫn c̣n nhiều thiếu sót về nhiều mặt, chưa kể là có những sai, lầm chưa được điều chỉnh. Do đó, nếu chỉ căn cứ những tuyển tập này để viết một bài biên khảo về Đường thi th́ chưa đủ. Không biết Hán văn th́ khó mà tránh khỏi những sai lầm của những tuyển tập đó.

Không phải tôi khó khăn hay tự cao cho ḿnh biết Hán văn mà nói như vậy.

 

Nguyễn Du (1765 - 1820) nói nghề chơi cũng lắm công phu.

 

~ Nghề chơic̣n vậy nữa là nghề học.

 

Muốn biên khảo về một vấn đề nào đó của một nước nào đó th́ phải rành rẽ ngôn ngữ nước đó, đây là qui luật của tṛ chơi - như dịch thơ Đường th́ phải rành Hán văn! 

 

Đă tham gia tṛ chơi biên khảo th́ phải biết qui luật tṛ chơi biên khảo - Không có ngoại lệ!

 

2 câu trên đây là 2 câu sau của bài kệ 4 câu được dẫn trong tập Thăng Am Thi Thoại.

 

Dương Thận (1488 - 1559) viết:

~ Lư Thái Bạch quá Vũ Xương kiến Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu thi, thán phục chi, toại bất đắc tác, khứ nhi phú “Kim Lăng Phng Hoàng Đài” dă.

 

Kỳ sự bản như thử.

 

Kỳ hậu thiền tăng dụng thử sự tác nhất kệ vân:

                                      Nhất quyền trùy toái Hoàng Hạc Lâu,

                                      Nhất cước thích phiên Anh Vũ châu,

                                      Nhăn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,

                                      Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu.

 

Bàng nhất du tăng dịch cử tiền nhị cú nhi chuyết chi viết:

                             Hữu ư khí thời tiêu ư khí,

                             Bất phong lưu xứ dă phong lưu!

 

Hựu nhất tăng vân: Tửu phùng tri kỷ, Nghệ áp đương hành.

 

                      /Thăng Am Thi Thoại. Qu. X. Trùy toái Hoàng Hạc Lâu  /.

 

Dch văn:

~ Lư Thái Bạch ghé qua Vũ Xương, thấy bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, (mà) thán phục, bởi vậy mà không đề thơ (tại Lầu Hoàng Hạc mà bỏ đi, tới Kim Lăng) làm bài Kim Lăng Phụng Hoàng Đài.

 

Sự việc vốn có vậy.

 

Về sau có thiền tăng từ chuyện này mà đặt một bài kệ:

                                 Một quyền thoi nát Hoàng Hạc Lâu,

                                 Một cước đá tung Anh Vũ Châu,

                                 Mắt nh́n thấy cảnh nói chẳng được,

                                 Thôi Hiệu đề thơ lơ lửng đầu.

 

Một nhà sư lang thang đứng cạnh đó từ 2 câu đầu mà nối 2 câu:

                                     Có khí khái rồi tiêu khí khái,

                                     Chẳng phong lưu nữa cũng phong lưu.

 

Lại một nhà sư khác nói: Rượu gặp tri kỷ, Tài trội trong nghề.

 

[Minh Di:

Nói nhà sư lang thang nối 2 câu đầu tức bỏ 2 câu “nhăn tiền hữu cảnh......”, để thành:

                                          Một quyền thoi nát Hoàng Hạc Lâu,

                                          Một cước đá tung Anh Vũ Châu,

                                          Có khí khái rồi tiêu khí khái,

                                          Chẳng phong lưu nữa cũng phong lưu].

 

2 câu:

         Cố nhân tây hồ Hoàng Hạc Lâu,

         Yên ba tam nguyệt há Dương châu.    

 

(a). Câu 1 bà Huệ Thu trích dẫn sai chữ hồ, chữ đúng là chữ từ().

 

Chữ từ đây nghĩa là “từ g”, “từ bit”.

 

Đọc lên mà bà không thấy sự vô lư v́ bà chẳng hiểu câu thơ chữ Hán nói cái ǵ bởi vậy trích dẫn lại của từ đâu đó không biết, người viết sai, bà không biết, cứ thế mà ghi lại!

 

(b). Câu 2 sai chữ ba, chữ đúng là chữ hoa.

Chữ hoa đây là “bông hoa”.

 

Và như vậy, 2 câu đúng là:

                                           Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu.

                                           Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu.

[Minh Di:

Chữ “”, đọc như tự - tức như vẫn đọc, âm hạ, cũng không sai; có điều, thói quen  vẫn đọc là th́ cứ viết, cứ đọc như vậy cho tiện].

 

2 câu trên đây là 2 câu đầu bài Thất ngôn tuyệt cú Lư Bạch làm ở Lầu Hoàng Hạc đưa tiễn Mạnh Hạo Nhiên, bài Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.

(Tựa bài nghĩa là: “Tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng ở Lầu Hoàng Hạc”). 

 

Tất cả tuyển bản Đường thi Hán văn đều ghi như vậy, tôi không rơ bà Huệ Thu dẫn từ Sách nào, hay chỉ nghe ai nói?

 

Coi Lư Thái Bạch Toàn Tập (Qu. XV) cũng là như vậy!

 

(Trong tuyển tập Đường Thi Tam Bách Thủ trứ danh của ông, Hành Đường Thoái Sĩ phê câu Yên hoa tam nguyệt há Dương Châuthiên cổ l (câu hay thiên cổ).

 

Hành Đường Thoái Sĩ là tên Hiệu của Tôn Chu (1711 - 1778), Văn học gia Thanh triều.

 

Việc biên soạn bộ tuyển tập Đường Thi trên đây thực ra ít nhiều c̣n có s tiếp tay của kế thất ông là Từ Lan Anh

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính