Hư cấu và Huyền thoại 2

 

Mặc Ngôn

 

 

Sau khi gửi bài Hư Cấu và Huyền thoại đi tôi nhận được một số hồi âm từ bạn hữu và  được nhắc lại một kinh nghiệm rằng khả năng viết lách của tôi vẫn chưa đạt tŕnh độ để có thể thuyết phục mọi người đọc. Điều đó cũng không lạ lắm v́ tôi thường ví von việc trao đổi tư tưởng bằng ngôn ngữ với chuyện nhảy tango. Thành ngữ Anh có câu “it takes two to tango,” không những cả hai vũ công phải biết nhảy mà họ c̣n phải tâm đầu ư hiệp mới mong những bước đi, động tác của họ làm xiêu ḷng người. Đối thoại cũng thế. Đối thoại có mục tiêu tối hậu là trao đổi tư tưởng và điều đó chỉ có thể thực hiện được nếu người nói và người nghe – hay người viết và người đọc -- dùng cùng một ngôn ngữ, hiểu các ngôn từ một lối, và chấp nhận một tư thế khách quan, cởi mở để hiểu ư của người kia. Tôi rất ít khi may mắn được gặp người … tri kỷ như thế  nên thường chỉ có thể nói chuyện với … đầu gối!

 

Dù sao chăng nữa, trở lại đề tài Huyền thoại, một số người bạn hiểu lầm tôi và h́nh như nghĩ rằng tôi bảo đức Phật là huyền thoại! Thôi th́ đành viết tiếp để xem thử tôi có thể giải thích rơ ràng hơn ư tôi muốn nói ǵ về đề tài này. V́ đây là một đề tài triết lư, chắc chắn sẽ có người đọc hỏi Mặc Ngôn là ai, có khả năng ǵ mà bàn về cái đề tài nhiêu khê hay cao siêu này. Bảo rằng tôi là người Việt chắc chắn là không đủ v́ có nhiều người Việt sinh trưởng trong gia đ́nh Công giáo, học trường Pháp và không có hoàn cảnh để thân cận với một văn hóa Phật học. Mặc dù ông ngoại của tôi là một người ăn chay trường—mộ đạo, ông thanh liêm quá nên không có tiền hối lộ để giữ chức và bị cho về hưu non – ông là một quan huyện ở Thanh Hóa – lúc mẹ tôi mới 13 tuổi. Cho dù thuộc ḍng Tôn Thất nhà mẹ tôi rất nghèo và mẹ tôi lớn lên với cái quan niệm rằng Phật không độ ai cả. Bà không ăn chay, không đi  chùa, không khấn Phật. Cha tôi cũng xuất thân là một quan huyện nhưng là một nhà nho thuần túy, chỉ biết theo “đạo” của Khổng-Mạnh. Tôi viết chữ đạo trong ngoặc kép v́ cha tôi là người vô tín ngưỡng, sống để mong phục hưng Khổng giáo, viết lách rất nhiều cho mục đích đó và nhấn mạnh với người đời rằng Khổng giáo không phải là một tôn giáo, chỉ là một lối giáo dục người.

 

Thế th́ làm sao tôi biết ǵ về Phật giáo mà viết về đề tài này? Xin thưa rằng đă là một người Việt th́ dù muốn dù không cũng được nghe, thấy và đọc nhiều về Phật và Phật giáo. Và v́ mẹ tôi không thờ Phật, tôi càng có lư do thắc mắc về Phật giáo hơn mà không chịu ảnh hưởng theo lối nhồi sọ, hay noi gương ông bà như trong một số gia đ́nh khác. Đă thắc mắc về Phật học th́ trước sau ǵ cũng phải đọc ít nhiều về triết học. Năm đầu đại học, tôi suưt bị loại khỏi trường y khoa một phần v́ môn triết! Một số thân hữu đă bảo tôi nhận xét của họ rằng cái môn triết khô khan, khó hiểu và … chán phèo cho chính họ, những người theo các môn văn chương hay triết. Dạy môn triết cho sinh viên dự bị y khoa có lư và là chuyện cần làm v́ sinh viên sẽ học làm thầy thuốc cho cả phần thể xác lẫn tâm thần. Nhưng tôi đi cours quanh ba tháng rồi bỏ v́ thấy rằng các giáo sư triết đại học chỉ biết lập lại những ǵ họ đọc trong sách. Tôi là con mọt sách và có thể tự đọc lấy, không cần thầy, và nhà đầy sách báo đă cho tôi cơ hội đọc về những căn bản của triết học, luận lư, phân tích, tổng hợp, v.v. từ thời trung học nên không có thầy cũng … chẳng sao.

 

Một đêm mùa hè năm tôi 13 tuổi, mẹ tôi bâng khuâng nh́n bầu trời đầy sao trên băi biển Cửa Đại và bâng quơ hỏi một câu : “Vũ trụ này rộng bao xa? Có ǵ ngoài tầm vũ trụ?” Tôi nhin nét buồn trên mặt mẹ và hiểu ngay rằng không phải mẹ thắc mắc về thiên văn mà đang đặt một câu hỏi triết lư. Từ đó tôi chỉ học để t́m câu trả lời cho mẹ. Tôi đi học y khoa không phải để trở thành thầy thuốc, hành nghề cứu nhân độ thế, mà để hiểu tôi là ǵ, ư nghĩa của sự hiện hữu của tôi trên cơi đời này là ǵ. Có lẽ người khác không thể thấy nhưng học y khoa là con đường trực tiếp nhất để trả lời các câu hỏi triết lư đó. Và vô h́nh chung tôi trở thành một triết gia, một phần có lẽ v́ tôi chuyên về phân tâm học. Thật sự ra, triết gia không phải chỉ là những người đă mài đũng quần trên ghế đại học, đọc cho hết sách vở từ thời Thales,  Aristotle, Khổng, Lăo hay Trang Tử, qua St.Augistine, Aquinas, Nietzche, Marx cho đến Sartre, v.v. mới là triết gia. Một người nông phu dừng cày nh́n một đàn chim thiên di ban sáng, hay một mục đồng ngắm sông Ngân Hà ban đêm cũng là triết gia, nếu họ nghĩ về thân phận họ, so sánh ta với chim muông hay với hạt cát trên băi biển.

 

Đă bàn về triết học th́ phải định  nghĩa ngôn từ ta dùng, và một người bạn chỉ trích việc tôi dùng từ “hư cấu” v́ những truyện ngụ ngôn hay đối thoại với Phật, thiền sư mà tôi bàn đến trong bài trước được gọi là giả tưởng ngày xưa. Đúng là ngày xưa tôi cũng biết từ giả tưởng nhưng chỉ thấy nó dùng cho ‘khoa học giả tưởng’. Và v́ lâu ngày quá ít khi đọc hay nói tiếng Việt tôi quên bẵng đời có từ đó. Tôi thấy từ hư cấu đâu đó sau này và cho dù không cần phải tra từ điển cũng có thể hiểu nó chỉ những sáng tác văn chương giả tạo, không có thật. Wikitonary cho tôi biết là người Tàu có các cụm từ ‘hư cấu văn học’ và ‘phi-hư cấu văn học’ (fictionnon-fiction). Không cần vào Internet tôi cũng có thể đoán ra rằng từ hư cấu phải là một từ mới du nhập từ láng giềng Trung Cộng sau này để dùng thay cho từ giả tưởng. Nhưng ngôn ngữ thay đổi với thời gian và một phần lư do làm văn học miền Nam trước ’75 phong phú là v́ cha ông ta du nhập các từ ngoại quốc vào ngôn ngữ mẹ thuần Việt. Cho dù tôi buồn v́ sự thất thoát của văn chương, và văn hóa, quê mẹ sau này, tôi không thể ngăn sự chuyển biến của ngôn ngữ mà chỉ biết mong rằng các từ chúng ta dùng có những định nghĩa chính xác để mọi người cùng hiểu, và ngữ nguyên rơ ràng để lời nói có ư nghĩa hay thi vị.

 

Lư do chính tôi viết bài này tiếp theo bài Hư cấu và Huyền thoại là v́ có một số bạn đọc nghĩ rằng tôi bảo đức Phật là một huyền thoại. Nghe mà có cảm tưởng rằng ta đang bị chụp mũ chống Phật giáo! Thôi th́ viết thêm về những ǵ tôi hiểu về cuộc đời của Thich Ca để xem tôi có thể thuyết phục người đọc rằng tôi không phải là một thứ Cộng Sản trá h́nh. Điều hiểu lầm này có được một phần có lẽ v́ tôi tránh nói/viết về để tài tín ngưỡng, tôn giáo trên các diễn đàn công cộng. Tín ngưỡng là một nhu cầu hiện sinh thiết yếu của con người, ngay cả nơi những người không có ư thức về nhu cầu đó. Con người cần đức tin để an tâm sống trong cơi hồng trần đầy tai ương, hoạn nạn này; để giảm thiểu các cơ chế có thể làm họ loạn tinh thần, đưa tới tâm bệnh hay sự mất trí. Tôi là một phân tâm gia và đă chứng kiến quá nhiều người bị tâm bệnh, hay ít nhất không thể hội nhập thỏa đáng vào xă hội v́ khủng hoảng đức tin. Ngôn ngữ của một nhà tâm thần học cũng có thể tạo tổn hại trên người bệnh không kém ǵ dao kéo hay thuốc men, v́ ngôn ngữ là dụng cụ của họ. Tôi là con của một thẩm phán và thường nghe câu ‘bút sa gà chết’ cho những trường hợp pháp lư nhưng câu này cũng áp dụng cho các quyết định, toa thuốc của các y sĩ. V́ thế tôi tránh bàn về đức tin theo nguyên tắc “first do no harm” trong lời thề của y sĩ. Thế nhưng, bàn về đức tin không hẳn đồng nghĩa với bàn về tôn giáo v́ đức tin hay tín ngưỡng là những hiện tượng tâm linh, c̣n tôn giáo là một tổ chức, cơ cấu hay đường lối giúp con người sống ḥa hợp với người trong cộng đồng.

 

Tôi không có tín ngưỡng, không theo tôn giáo nào nhưng các bạn thân của tôi hiểu khi tôi bảo rằng tôi tu thiền. Họ chấp nhận được như thế v́ họ hiểu rằng tôi không bao giờ phê b́nh hay chỉ trích Thích Ca và tôi đang đi theo đường – tiếng Hán-Việt là đạo – của ngài. Tôi chỉ không đi theo “đạo” của các tăng lữ. Tôi tu theo lối các thiền sư mà tôi học nên nếu cần tôi cũng có thể bổ tượng Phật gỗ làm củi để có thể sống sót trong trời giá buốt, nhưng tôi kính trọng Thích Ca.   Điều khác biệt giữa nguyên nhân cho ḷng kính trọng của tôi với ngài và thái độ kính cẩn  của các Phật tử  là nơi tôi hiểu về cuộc đời của Thích Ca.

 

Những ǵ tôi viết tiếp theo có thể kiểm chứng dể dàng, chỉ xin người đọc quên đi những huyền thoại, hư cấu mà người đời đă dệt quanh đời ngài 27 thể kỷ qua. Thích Ca sinh ra trong giới quư tộc của một xă hội rất phân biệt giai cấp với hàng tăng lữ đứng trên mây và hàng Untouchable—tiện nhân ở sát đất. Thich Ca thấy rằng đời đầy khổ năo v́ sinh, lăo, bệnh, tử nên bỏ đời sống cao sang, quyền uy để đi t́m giải thoát cho ḿnh. Ông đến học nhiều thầy, đi từ phái này qua cách nọ trong sáu năm nhưng không t́m ra đường lối. Cách tu cuối cùng là khổ hạnh và sáu tháng khổ hạnh đưa đến kết quả tất nhiên là sắp chết đói. Chuyện kế tiếp là việc một cô gái cho Thích ca uống sữa và sau đó th́ ngài tĩnh táo và tỉnh ... ngộ.

 

Đối với tôi, thời điểm đó -- thời điểm mà một số người nghiên cứu về khải thị xem như là một h́nh tượng của khái niệm niết bàn -- là điểm then chốt để ta hiểu Thích Ca t́m thấy ǵ và muốn dạy người đời cái ǵ. Những người chịu khó suy gẫm về ngôn từ có thể biết rằng có hai lối định nghĩa chính của từ niết bàn, tùy theo Ấn giáo hay Phật giáo. Tôi dùng nghĩa của Ấn giáo, hay nghĩa này:

All Indian religions assert it to be a state of perfect quietude, freedom, highest happiness along with it being the liberation from samsara, the repeating cycle of birth, life and death. (Wikipedia)

 

Tôi là  một người có thói quen suy nghĩ ra ngoài khuôn khổ và điều đó không làm tôi khác thường v́ nếu người đọc nghĩ lại th́ tất cả các triết thuyết, khám phá khoa học phải đến từ những người biết suy nghĩ ra ngoài khuôn khổ. Nếu ta chỉ biết nghĩ theo lối đi theo vết xe đổ th́ phần --suy không có trong đó và nhân loại không tiến bộ. Và đây là những ǵ tôi nghĩ ngoài khuôn khổ về những thành quả của Thích Ca.

 

Thích Ca bỏ hơn sáu năm nhưng không t́m thấy giải thoát v́ cho tới khi gặp cô gái cho sữa v́ ngài đi t́m giải thoát cho chính ngài; làm sao thoát khỏi sinh lăo bệnh tử để suốt đời tiếp tục làm vua chúa chẳng hạn? Tu “ích kỷ” như thế th́ dĩ nhiên là không thành công, v́ c̣n vướng vào cái nghiệp của chữ ngă. Điều giúp ta hiểu tại sao Thích Ca giác ngộ là các cơ cấu xă hôi kỳ thị giai cấp cùng cực của xứ Ấn. Giai cấp tiện dân -- cái tên Untouchable thật kỳ quái v́ nó làm ta nghĩ rằng họ dơ dáy, bần tiện quá nên không muốn đụng đến -- không được đến gần, sờ--touch, giao thiệp các giai cấp tăng lữ và quư tộc, đừng nói chuyện cho sữa hay bố thí họ, chuyện không tưởng. Thế nhưng cô gái đó bất chấp tất cả những quy luật xă hội thời đó khi thấy một người gần chết đói và có thể cứu vớt bằng sữa.

 

Hành động vị tha của một người tiện dân đó là điều đă giúp Thích Ca suy nghĩ ra ngoài khuôn khổ và khải thị -- hay nhập niết bàn. Khải thị có nghĩ  hiểu được rằng Thích Ca “thấy” cách độc nhất để thoát khỏi  là t́m giải thoát cho nhân loại, không phải cho riêng ta, và sống vị tha. Tôi không thể có kinh nghiệm về giác ngộ --  hay tôn giáo khải thị -- v́ tôi là người vô tín ngưỡng và vô tôn giáo nên mong không ai hỏi tôi câu nếu không có kinh nghiệm về khải thị th́ làm sao bàn về khải thị. Hỏi câu đó làm tôi liên tưởng đến câu người bệnh nói với bác sĩ : ông chưa hề đau bệnh tôi, sao ông biết tôi đau thế nào! Xin thưa rằng tôi không thể bàn về khải thị theo nghĩa tôn giáo giác ngộ nhưng tôi có thể bàn theo nghĩa triết lư. Và tôi đă có ba cơ hội khải thị trong những giai đoạn quan trọng nhất của đời tôi để biết tôi đang nói ǵ. Chính v́ đă khải thị mà Thích Ca không thuận theo ư muốn của vua cha sống trong cung điện mà lại chọn lối sống khuất thực. Khi một tăng lữ quư tộc đi khuất thực th́ mọi phân biệt giai cấp xă hội không c̣n nữa, vi nếu chỉ mong nhận cúng dường từ những người ngoài giới tiện nhân th́ chắc sẽ lại ... chết đói.

 

Chúng ta có thể suy đoán những điều trên về tiểu sử của Thích ca bằng cách nh́n những ǵ ngài làm thay v́ nghe những lời người ta bảo ngài  nói. Thich Ca muốn dạy người đời như thế v́ ngài là một triết gia và một nhà cách mạng xă hội, không phải một lănh tụ tôn giáo.

 

Nếu ta muốn thấy tầm quan trọng của việc Thích Ca làm th́ phải biết, hay nhớ lại thân phận của giai cấp tiện nhân trong xă hội Ấn. Dĩ nhiên là khó mà biết thân phận của giai cấp đó 27 thế kỷ trước ra sao nhưng tôi không nghĩ đă thay đổi cho lắm và trích đăng ở dưới là dữ kiện dịch từ Untouchability trong Wikipedia

 

Cấm ăn chung với người các giai cấp khác

Cung cấp chén riêng trong các quán trà của làng

Xếp chổ ngồi và đồ dùng riêng trong quán ăn

Tách biệt chổ ngồi và thức ăn trong các buổi họp và tiệc tùng ở làng

Cấm vào các đền thờ của làng

Cấm đi dép hay che dù trước mặt người của giai cấp cao hơn

Cấm vào nhà những giai cấp khác

Cấm dùng lối đi chung của làng

Có nơi chôn cất riêng

Không được vào các bất động sản hay tài nguyên chung (giếng, ao, đền thờ, v.v.)

Tách biệt (chổ ngồi riêng) cho trẻ em trong trường học

Làm nô lệ để trả nợ

Bị các giai cấp khác tẩy chay nếu từ chối thi hành “bổn phận”

 

Làm sao mà có người tiện dân nào cả gan cho Thích Ca uống sữa! Thế nhưng không có cô gái đó th́ thế giới không có Phật giáo v́ ngài sẽ chết đói thay v́ có có cơ hội khải thị. Chúng ta có Phật giáo v́ đời có cô gái tiện nhân vị tha đó, không phải v́ hàng ngàn tu sĩ, trí thức viết hàng vạn kinh điển và giáo luật.    

 

Tôi không biết Phật giáo “chính thức” ra đời lúc nào -- v́ đối với tôi đó là cái biết vô bổ -- nhưng tôi có thể nói rằng không có bằng chứng ǵ nói Thích Ca muốn thành lập một tôn giáo. Ngài chỉ muốn chỉ đường cho nhân loại đi để thoát khổ.

 

Trong những triết gia mà tôi đă đọc qua, Thích Ca là triết gia độc nhất mà tư tưởng KHÔNG sai lầm sau 27 thế kỷ cho dù ngài không biết ǵ về khoa học, tâm lư học như các triết gia Hy Lạp, hay Tàu. Những ǵ ngài dạy nhân loại để sống b́nh thản có thể tóm lược lại trong hai chữ vị tha. Vị tha có thể đồng nghĩa với quên bản ngă. Quên bản ngă th́ không c̣n bị thất t́nh nhục dục chi phối. Thích Ca không dạy người đời sống thể nào để được đến Tây phương cực lạc, thành bồ tát hay thành Phật. Và nghĩa của chữ phật không viết hoa trong tiếng Ấn là người thầy, người giác ngộ (từ những ngữ nguyên suy đoán với các nghĩa hiểu, biết thấy, thức tĩnh, v.v.,) không phải là người thần thánh bất tử hay có thể tái sinh dưới một avatar khác.

 

Bài Duy Ngă Độc Tôn của tôi đăng trên một diễn đàn Phật pháp từ đầu năm 2009 để đáp ứng cho lời một tác giả Nhu Thuận nói rằng Phật là người, không phải là thần. Các có thể vào trang đó [1] để xem những người chuyên bàn luận về Phật học nói ǵ.

 

Phật tử đươc dạy rằng Thích ca bảo thời Mạt pháp sẽ đến 500 năm sau khi ngài nhập diệt. Cũng như tôi viết trong bài Hư cấu và Huyền thoại, ta không có bằng chứng ǵ về lời chính xác của Thích Ca truyền lại cho đời mà chỉ có những ǵ Ananda kể lại cho các trưởng lăo, và những tam sao thất bổn hay hư cấu sau đó trong hàng vạn kinh điển. Tôi không tin Thích Ca nói thế. Thích Ca là người, không phải thần thánh. Thích Ca không có tài tiên tri và tôi, một khoa học gia, không tin  vào tiên tri. Cho dù tôi không hề đọc kinh điển, tôi biết câu chuyện về mạt pháp đến từ Tam tạng kinh theo lời Ananda kể (“Nay Chánh Pháp duy trụ năm trăm năm!”) nhưng bộ Tam Tạng kinh ra đời quanh năm 29 BCE, hơn 450 năm sau khi Thích Ca qua đời th́ có ai có thể xác đoán cho tôi rằng trong gần 5 thế kỷ đó lời của Thích Ca c̣n không xuy xuyển? Có phải chăng con số 500 đó đến khi các tăng lữ của Đại hội tập kết kinh điển thứ tư ngồi xuống để viết phiên bản Tam Tạng Kinh  đầu tiên để giải thích lư do họ phải làm trọng tác đó. Không làm th́ Phật giáo sẽ … mạt, phải không? Quanh đầu thế kỷ thứ nhất CE, có chừng mười phiên bản của Tam Tạng Kinh khác nhau. Tại sao thế? Trong hơn 500 năm trước đó, lời Phật chỉ được truyền miệng và được nhớ bằng các buổi kể kinh cộng đồng. Nếu sách viết xuống rồi mà c̣n có mười phiên bản khác nhau trong một thế kỷ th́ làm sao mà biết được rằng không có những “phiên bản” loại hư cấu lọt vào những lời truyền tụng trong năm thể kỷ trước?

 

Tựa như câu hỏi trong bài Hư cấu về các chữ mở đầu “Bạch Đức Thế Tôn”, có thật Thích Ca dùng từ “Chánh pháp”? Thích Ca có cần bảo môn đồ rằng điều ta dạy là chánh, những ǵ các Bà La Môn dạy là tà? Có thật ngài dạy pháp lư -- của một tôn giáo -- hay ngài chỉ muốn chỉ đường cho người đi tu? Vài câu hỏi tôi đặt ra là Thích Ca phải tụng kinh ǵ để thành Phật; có cần niệm kinh Bát nhă bằng tiếng Phạn mới được chứng quả? Chưa ai trả lời tôi các câu đó nên khỏi hỏi thêm rằng các tụng niệm thần chú, v.v. có thể chỉ phản ảnh sự mê tín của những người lập nên Phật giáo? Tôi đă buồn cười đi t́m nguồn gốc của câu thần chú ‘án ma ni bát mê hồng’ -- hay những câu tương tự, tùy theo người ta  phát âm tiếng Phạn thế nào (Om mani padme hum) – khi đọc rằng Phạm Công Thiện dùng thần chú đó để viết lách về Quan Âm cho một cơ sở Phật giáo ở Mỹ. PCT giải thích [2]:

 

OM (ÁN) đóng cửa thiên đạo;
MA (MA) đóng cửa tu la đạo;
NI (NI) đóng cửa nhân đạo;
PAD (BÁT) đóng cửa súc sanh đạo;
MÉ (DI) đóng cửa ngạ quỷ đạo;
HUM (HỒNG) đóng cửa địa ngục đạo.

 

Nếu muốn nói về hư cấu tôn giáo th́ những gịng trên có thể xem là một “kiệt tác” (nhưng không phải là kiệt tác độc nhất về loại này của ông ta), chỉ có thể đến từ miệng người như PCT.

 

Giải thích hợp lư nhất mà tôi biết từ các nhà ngiên cứu ngữ học là câu đó có thể dịch ra Việt ngữ bằng câu tương đương “Hỡi Quan Âm bồ tát”  v́ om và hum là hai tán thán từ đầu và cuối câu, và mani-padme là một tên của bồ tát Avalokiteśvara. Avalokiteśvara là một avatar của Quan Âm.  

 

Một đặc điểm chung của các thiền sư là họ không mê tín bậy bạ và việc một người được người Việt gọi là thiền sư đi dạy kiếm sống với câu thần chú Om mani là chuyện đáng buồn. Tại sao cầu khẩn một vị Phật với biệt danh Quán Thế Âm Bồ tát mà lại phải dùng tiếng Phạn phát âm theo lối Việt hay Hán? Bà không hiểu được thế nhân nếu họ không phát âm được “thần chú” bằng tiếng Phạn? Sau “thiền sư” Phạm Công Thiện ta có cái quái tượng Thích Nhất Hạnh, người đươc gọi là ma tăng bởi con gái của một cố giáo sư Phật Học ở Vạn Hạnh; vị giáo sư phật  học đó đă từng là bạn đồng sàng với TNH và là một người hiếm hoi biết ông rơ hơn ai hết, từ lúc TNH chưa có tiếng tăm!

 

Phật giáo, nếu có thật do Thích Ca thành lập, đă mạt ngay từ khi ngài nằm xuống v́ các trưởng lăo hoặc không hiểu, hoặc không muốn hiểu ngài dạy ǵ và phân hóa liền thành hai phái sau này gọi là Nam và Bắc Tông.  Rồi ta có thêm Mật Tông, Tinh Độ, Thiền, và đủ thứ “bộ”! Nếu lời Phật dạy dể hiểu – và theo tôi không khó hiểu v́ đă có người được “chứng ngộ” trong thời ngài – th́ tại sao các trưởng lăo không đồng ư, đồng nhất mà lại khác nhau về điểm tu thế nào để thành bồ tát hay Phật?Tôi đă đọc vài lời giải thích cho nguyên nhân của sự phân hóa và theo tôi, chúng là ... hư cấu!

 

Đây là câu trả lời mà tôi không viết trong bài Hư cấu: Người ta không thể tiếp tục con đường Thích Ca chỉ v́ người ta không thể đi ngược lại cái cơ cấu xă hội bất công thời đó, không thể lôi cuốn tín đồ. Đại đa số, ngoài chuyện tuân thủ cơ cấu xă hội và xem một phần lớn, những người thuộc giai cấp tiện nhân, như cỏ rác và c̣n măi mê tín với các thần thánh, huyền thoại của Ấn giáo. Không có cách ǵ mà ngày một ngày hai bỏ được lối tín ngưỡng vẫn c̣n tồn tại đến bây giờ, 27 thể kỷ sau. Ta nghe truyền tụng rằng Thích Ca có kẻ thù trong giới tăng lữ Bà La Môn. Điều đó dể hiểu phải không? Tăng lữ ngày xưa hay thời nay cũng chỉ là người, và tâm lư con người thời nào cũng thế. Làm sao các tăng lữ đó có thể chấp nhận một trường phái cổ động b́nh đẳng giai cấp? Tôi biết rằng có người sẽ bảo tôi không thấy việc cổ động b́nh đăng giai cấp nói đến ở đâu trong các kinh sách nhưng, nếu không làm thế th́ làm sao khất thực hay đươc cúng dường đầy đủ dể mà c̣n có cơ hội tu hành? Đă không thu thập tín đồ, nhất là các tín đồ trong các giai cấp cần lôi cuốn th́ phải dụ họ bằng cách dùng những yếu tố tín ngưỡng của Ấn Giáo. Và điều đó không khó lắm v́ chính Thích Ca cũng bảo là ngài không dạy ǵ mới mà chỉ theo lối Aryan. Phật giáo và Vedanta (Phệ đàn Đa trong Hán-Việt) giống nhau trên nhiều điểm triết lư [3], nhưng Vedanta là một phái trong Ấn giáo nên cũng có đầy thần thánh và truyền thuyết. Ngay chính Maitreya—Di lặc, tên của hậu thân của Phật cũng có thể có gốc  Mithra trong tôn giáo Zoroastrianism thời tiền-Ấn--Ba Tư.

 

Phật dạy chết là hết, là lại trở lại thành cát bụi, thế th́ sao ta c̣n nói chuyện luân hồi, thành bồ tát hay phật? Phải có lư do ǵ đó ta mới có thể truy nguyên tên các bồ tát trong truyện Tàu đến thần thoại của Ấn độ chứ. Tại sao các tiền thân của Phật và  Quan Âm lại toàn là người gốc Ấn mà không Việt, Hán hay Âu Mỹ cho dù họ muốn cứu khổ thế gian, không chỉ người Ấn? Phải chăng nên dụ tín đồ Phật giáo tương lai rằng họ sẽ không những thoát ṿng luân hồi – theo nghĩa bóng – mà c̣n có thể tái sinh thành một vị thần nào đó trong Ấn giáo là một cách thu hút tín đồ của nhóm Bà La Môn? Những lời trong kinh Phật nhiều khi khó hiểu và ta có hàng vạn kinh sách, tiểu luận viết ra chỉ để giải thích các câu đến từ miệng Ananda. Khó như thế, chỉ có những người thông thái mới may ra lănh hội và hy vọng khải thị, thế th́ đa số quần  chúng, tín đồ chỉ có thể mong được hai chữ b́nh an trong cơi đời này vi hiểu kinh sách không nổi. Đi tu để thoát khổ năo – lư do đầu tiên khi Thích Ca ra đi – mà khó đến thế th́ Thích Ca mong ǵ khi bắt đầu thu đệ tử?

 

Nếu ta nghĩ lại th́ Thích Ca dạy ǵ: kiềm chế thất t́nh luc dục và sống vị tha – đó là những điều mà ta có thể biết chắc khi nh́n vào đời sống của ngài sau khi khải thị. Có tu theo tông hay bộ nào th́ cũng phải làm chừng đó chuyện. Có đọc hàng vạn kinh sách giải thích các từ tham sân si, ngă, không. v.v. th́ vẫn không hành xử ǵ hơn trên đời để có b́nh an trong tâm hồn, và vẫn có thể trở thành người như Nhất Hạnh hay Trí Quang. Nếu muốn nghĩ xa hơn th́ ta có thể nhận xét rằng hầu như – hầu như là v́ tôi không thể biết hết các thiền sư – không thấy có tài liệu nào nói các thiền sư đặt trọng tâm trên kinh điển để huấn luyện đồ đệ. Tôi chỉ biết chuyện Vân Môn đ̣i xách gậy đánh Phật v́ kinh sách bảo Phật tuyên bố câu ‘duy ngă độc tôn’. Nhiều Phật tử cũng biết rằng lục tổ Huệ Năng không biết chữ khi được truyền y bát.

 

Tôi không dại ǵ mà bảo Thích Ca là huyền thoại. Thích ca là người bằng xương bằng thịt và rất có thể rằng một số xá lợi là xương của Thích Ca thật. Nhưng Thích Ca không phải là thần thánh Những chuyện đánh nhau với Ma vương, có tiền kiếp, hậu thân, v.v. là chuyện tôi không thể tin. Huyền thoại đây là những chuyện không cần thiết để hiểu Thích Ca muốn dạy đời cái ǵ mà các tăng thầy đă đặt ra. Tây phương cực lạc cũng là sản phẩm của óc tưởng tượng. Ngày xưa ta đọc Tây du kư và thắc mắc không biết cái xứ Thiên Trúc ở đâu, v́ t́m không thấy trên bản đồ, cũ hay mới. T́m không được là phải v́ thiên trúc--天竺 là cách người Tàu chuyển âm Indus, tên của Ấn hà; một cách khác có thể quen thuộc hơn cho các người đọc sử là Thân Độc--身毒. Đă thế “nước Ấn Độ chỉ mới thành h́nh từ lúc bị người Anh chiếm làm thuộc địa; trước đó chỉ có một mớ tiểu quốc với quanh 700 thổ ngữ. Có lẽ có một số người đọc cũng nhận ra rằng Anh ngữ có công dụng tương đương với Hán ngữ trong việc nối kết các sắc dân của hai vùng đất giờ gọi là Ấn Độ và Trung Quốc.

 

Ngay chính cái khái niệm mạt pháp cũng chưa chắc đă đến từ miệng Thích Ca. Thích Ca t́m được đường vị tha để thoát khỏi khổ năo nên muốn quảng bá cho người đời; nếu không làm thế th́ lại vướng vào ṿng vị kỷ. Bây giờ ta gọi các người đến nghe ngài giảng dạy là môn đồ nhưng ngày xưa ngài gọi họ là ǵ ta không biết. Ngài chỉ muốn chỉ đường, nghĩa gốc của từ đạo. Chữ giáo cũng có thể dùng v́ nó nghĩa là dạy.

 

Nhưng c̣n pháp -- trong chữ Hán? Đây là chữ pháp trên triện

 

 

Chữ trong kim văn cũng đă t́m ra rồi, khá giống chữ triện ở trên. Từ điển Thuyết Văn [4] cho ta biết rằng người Tàu xưa dùng một con thú độc giác có dạng giống con trâu, có khả năng biết phân biệt người phải—trái và húc người không ngay thẳng để xét án. Đó là phần bên góc trái phía trên của chữ, phần c̣n lại là các chữ khứ (h́nh vẽ một người đi ra khỏi một hang động) và thủy, tượng trưng cho sự công bằng. Sau này chỉ c̣n lại phần thủy và khứ. Cho những người nào không rành ngữ nguyên, các chữ Hán không t́m thấy dưới dạng giáp cốt văn có thể chỉ xuất hiện từ thời đồ đồng và thế có nghĩa rằng chữ pháp là một khái niệm trừu tượng tương đối mới trong nền văn minh Hoa Lục. Nghĩa gốc của chữ pháp là thế th́ làm sao mà dùng cho những ǵ Thich Ca muốn dạy đời? Pháp là những quy luật đặt ra để cho người trong một cộng đồng tuân thủ, và hàm ư ép buộc, độc đoán. Đó có phải là lối Thích Ca muốn dùng để dạy người? Sống vị tha là sống ngoài quy luật, cho người khác, tại sao lại phải ràng buộc họ bằng quy luật?

 

Các hư cấu và huyền thoại đó là lư do tinh tủy của những ǵ Thích Ca để lại cho đời “mạt” măi, trong khi Phật giáo có quanh 500 triệu tín đồ trên thế giới.

 

Ô hô, ai tai!

 

Trong thời buổi mà gần một nửa cử tri Mỹ bỏ phiếu cho một  con người vị kỷ, không tôn trọng nhân quyền của những không phải là da trắng vài chỉ biết tôn thờ thần Tư Bản, tôi nghĩ nhắc lại nhân loại những ǵ Thích Ca muốn dạy cho đời là chuyện nên làm.

 

 

Mặc Ngôn

Halloween, 2017

___________________________

 

[1] Những điểm đặc sắc của Phật Giáo. - Page 3 - Diễn Đàn Phật Pháp ...

[2] Phạm Công Thiện - Bài giảng về Quán Thế Âm Bồ Tát |GS... | Facebook

[3]  Chapter I: Religious Situation in India Before Buddha's Time

[4]  Hán Tự Tố Nguyên, Lư Nhạc Nghị,  nxb Thế Giới. 1998, tr. 530

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính