Hư cấu và Huyền thoại

 

Mặc Ngôn 

 

 

Chuyện trùng hợp ngẫu nhiên xảy ra khá thông thường trong đời sống và đôi khi điều làm ta chú ư đến chúng là tác dụng của chúng trên luồng tư tưởng của ta. Sáng hôm nay tôi nhận được hai lá thư từ hai người bạn về hai đề tài có chung một đặc điểm : hai bài viết bàn quanh những hư cấu về những tư tưởng hay đối thoại của Phật và thiền sư.

 

Lá thư đầu đến từ một người bạn mộ đạo hỏi ư kiến về một bài bạn viết để phản hồi cho bài  Từ chuyện một con ruồi [1] của tác giả Nguyễn Văn Thương. Tôi chưa hề nghe nói đến hay đọc tác giả này nhưng bạn đă hỏi th́ phải đọc. NVT mở đầu bài tiểu luận nói đến một hư cấu như sau của Lê Công Tâm (tôi cũng chưa hề nghe tên)

 

 

Truyện rằng:

 

Con Ruồi

 

“Một hôm, đức Phật mở mắt, đứng dậy rời cội bồ đề. Ngài dạo quanh sườn núi. Nắng ấm. Gió nhẹ. Tâm hồn Ngài trong veo như hư không. Hạnh từ bi tỏa thành một ánh sáng trên đỉnh đầu Ngài. Cuộc hành tŕnh chứng ngộ có lẽ sắp kết thúc.

 

Trên đường Đức Phật cúi xuống chiêm ngưỡng vẻ đẹp trắng nuột của một khóm hoa rừng. Bất ngờ Ngài nh́n thấy một tấm lưới nhện óng ánh giăng ngang hai nhánh lá. Một con ruồi hốt hoảng, giăy giụa nhưng không thể thoát khỏi sự trói buộc của những sợi tơ. Đằng sau chiếc lá, một con nhện luôn luôn ngắm nh́n con mồi bằng ánh mắt thỏa măn và kiêu hănh.

 

Lát sau con nhện chậm chạp ḅ tới. Con ruồi cuống quưt vùng vẫy. Đức Phật nghe nó kêu thảm thiết:

– Ḷng từ bi của Ngài để đâu? Trong trái tim hay trong ánh hào quang?

 

Không suy nghĩ, đức Phật dùng móng tay cắt một đường ngang tấm lưới, tạo một khoảng cách giữa con nhện và con ruồi. Con nhện giương con mắt đen óng nh́n đức Phật giận dữ:

– Tại sao Ngài can thiệp vào câu chuyện của tôi?

– Ta không thể đứng nh́n sự chết chóc. Ta thương con vật bé bỏng kia.

– Thế th́ ai thương tôi? Mười ngày nay tôi không có một miếng thức ăn. Ḷng từ bi của Ngài đă giết tôi. Ngài không biết ǵ về thế giới sinh tồn cả.

 

Con nhện kiệt sức, rũ xuống, bất động. Đức Phật khều con ruồi khỏi lưới nhện. Con ruồi bay chấp chới chung quanh Ngài.

– Tạ ơn Ngài đă cứu tôi.

– Nếu không gặp ta th́ sao?

– Tôi sẽ là thức ăn của con nhện.

– Ta đă cứu ngươi th́ sao?

 

Con ruồi cười vang:

– Con nhện là thức ăn nuôi sống tôi.

 

Con ruồi bám ngay vào xác con nhện bắt đầu thối rữa dưới ánh nắng. Đức Phật đưa tay lên rồi lắc đầu quay trở lại. Ngài thở dài, thấy con đường c̣n rất xa.

 

Ngài ngồi dưới gốc bồ đề và tiếp tục nhắm mắt.”

 

Đọc đến đây th́ tôi ngưng không dọc tiếp và viết hồi âm cho bạn. Theo tôi hư cấu không có giá trị ǵ cả và tiểu luận căn cứ trên nó cũng sẽ không … đáng đọc. Một số người có khuynh hướng viết hư cấu đặt vào miệng đức Phật v́ nghĩ họ hiểu Phật lư và có thể dựng chuyện để phổ biến cái “hiểu” của họ. Rất tiếc rằng nội những gịng “Tâm hồn Ngài trong veo như hư không. Hạnh từ bi tỏa thành một ánh sáng trên đỉnh đầu Ngài. Cuộc hành tŕnh chứng ngộ có lẽ sắp kết thúc.” đủ để cho ta thấy rằng người dựng chuyện không hiểu chứng ngộ là ǵ! Tâm hồn chỉ có thể trong veo như hư không nơi người đă chứng ngộ. Nếu đă chứng ngộ th́ tại sao c̣n khổ tâm về việc nên giết ruồi hay nhện? Có chưa chứng ngộ mới “thở dài, thấy con đường c̣n rất xa” và phải trở về ngồi lại dưới gốc bồ đề chứ!

 

Lâu lâu tôi cũng “bị” đọc hư cấu nhưng tôi chỉ đọc để xem người tạo ra chúng có kiến thức, tầm nh́n như thế nào chứ không phải học hiểu cái đề tài mà họ muốn nói đến. Đọc kinh sách cũng thế. Tôi đọc để hiểu tâm lư người viết kinh sách chứ không phải hiểu Phật muốn dạy ǵ. Tôi sẽ giải thích tiếp cuối bài.

 

o0o

 

Lá thư thứ nh́ đến từ một người bạn khác bàn luận về cuộc đảo chánh 11-1963 theo cái nh́n của tác giả Morris West trong cuốn truyện The Ambassador xuất bản năm 1965. V́ xuất bản hai năm sau cái chết của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm và cố vấn NĐ Nhu, sách được để ư một thời gian rồi vào quên lăng v́ nó chỉ là một truyện … hư cấu. Bàn luận này đặt căn bản trên hai lần nhân vật Maxwell Gordon Amberley -- đóng vai đại sứ Henry Cabot Lodge -- đến tham vấn thiền sư Musō Soseki trước và sau khi qua Việt Nam làm đại sứ. Tên Musō Soseki th́ có thật nhưng người thật hiện hữu ở Nhật Bản sáu thể kỷ trước câu chuyện. Musō Soseki có biệt danh là Nanachō Teishi--Thất Triều Đế Sư (thầy của bảy hoàng đế) và như ta có thể đoán từ biệt danh, là người hoạt động chính trị và biết xem gió trở cờ để hợp tác với Nhật hoàng hay Tướng Quân, tùy hoàn cảnh. Thế có nghĩa là vai thiền sư này có vẻ hợp lư để một đại sứ đến tham vấn. Tuy nhiên, Musō Soseki không có tiếng tăm trên phương diện công án trong khi câu chuyện quay quanh các công án mà thiền sư đặt ra cho đại sứ. Các công án này chỉ là hư cấu và như tôi viết ở trên, hư cấu chỉ có thể giúp ta hiểu tâm lư người đặt ra nó, không thể dùng để bàn về chuyện thật ngoài đời. Rất có thể đa số những người đặt hư cấu về công án, hay bàn luận về chúng không biết rằng, cho dù công án đă được dùng để người tập tu Thiền học về lối suy luận – hay nói đúng ra  lối tránh suy luận – của Thiền lư , mỗi công án thường ra đời v́ thiền sư biết rỏ tâm tính môn đồ và đặt một câu hỏi, một xác quyết có công dụng như một ch́a khóa riêng cho ổ khóa trên tâm năo của môn đồ đó. Người không ở trong hoàn cảnh của môn đồ đó có thể chỉ thấy rằng cái công án … vô nghĩa!

 

Morris West là một văn sĩ và kịch tác gia Úc chuyên sáng tác với bối cảnh lịch sử của Công giáo. Hư cấu dựa trên công án Thiền của West chỉ có thể đọc để tiêu khiển thay v́ dùng làm căn bản cho một tiểu luận về Henry Cabot Lodge. Thế nhưng tôi gặp những loại hư cấu từ xưa nhưng vẫn c̣n được nhắc đến hàng ngày bây giờ. Tôi muốn nói về các tác phẩm triết lư, chằng hạn như cuốn Nam Hoa Kinh của Trang tử, hay Kinh Thánh và hàng ngàn kinh diển nhà Phật. Người đời vẫn c̣n thỉnh thoảng chuyền tay nhau vài mẫu chuyện trong Nam Hoa Kinh nhưng nó chỉ là một tập ngụ ngôn, nghĩa là một thứ hư cấu. Chịu khó đọc hết Nam Hoa Kinh th́ phải đi đến kết luận tất nhiên rằng Trang Tử h́nh như không biết rơ ta là người hay bướm, và các luân lư từ bộ sách thiếu thực tiển v́ ta không thể áp dụng hư cấu vào đời sống thực tại.

 

Một hư cấu, và huyền thoại – lư do cho tựa đề của bài tiểu luận này – là câu “Thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn.” Mùa Phật Đản năm 1973, tôi t́nh cờ đi qua một ngôi chùa ở Sài G̣n và thấy một biểu ngữ tổ bố trước cổng chùa với câu tuyên bố bất hủ này. Tôi đă nghe câu này từ lâu nhưng vẫn chưng hửng v́ không hiểu tại sao tăng thầy nào mà lại có thể tin rằng câu này dến từ miệng Thích Ca. Nếu quư vị ṭ ṃ vào Internet t́m th́ thấy rằng câu đó đă làm điên đầu một số người nghiên cứu Phật học v́ họ không thể chấp nhận rằng Thích ca lại phát ngôn … bừa băi như thế. Duy ngă độc tôn th́ c̣n làm sao mà dạy người đời diệt ngă?! V́ đây là một câu Hán-Việt, tôi t́m trên mạng xem có trang tiếng Tàu có nó chăng và đi đến một kết quả khá ngạc nhiên: h́nh như người Tàu, hay ít nhất người Trung Quốc không hề nghe nói đến nên không thấy viết/bàn về nó ở đâu cả, từ một đoạn vấn đáp trong Vân Môn Khuông Chân Thiền sư quảng lục (trích ở đưới). Tất cả các trang mạng viết về câu Duy ngă độc tôn đều dùng tiếng Việt hay do người  Việt viết chữ Hán! Thế có nghĩa rằng câu này có thể có gốc Việt chứ không phải Tàu?

 

Tuy nhiên, cho dù nó phát nguyên ở Việt Nam chăng nữa, nó cũng có thể có gốc tiếng Ấn nào đó và dược dịch qua Hán-Việt; thôi th́ ta chịu khó t́m bằng Phạn ngữ vậy (Xin báo người đọc rằng người viết này biết rất ít chữ Hán, không biết ǵ về Phạn ngữ nhưng biết cách  bảo Google t́m dùm và dịch ra cho y.)

 

Kết quả của sự t́m kiếm đó đó được đúc kết thành tiểu luận Duy Ngă Độc Tôn: Một Hành Tŕnh Vào Huyền Thoại viết cuối năm 2008. Xin trích đăng vài đoạn từ đó:

Tôi không t́m được nguồn gốc Phạn ngữ của tuyên ngôn “TTTHDNĐT”, nhưng nguồc gốc Pali (trong Tam Tạng Kinh) là năm câu:

 

Aggo `ham asmi lokassa,

 

Jeṭṭho `ham asmi lokassa,

 

Seṭṭho `ham asmi lokassa,

 

Ayam antimā jāti,

 

Natthi dāni punabbhavo.

Ta là người cao quư nhất thế gian,

 

Ta là người trưởng thượng nhất thế gian,

 

Ta là người kiệt xuất nhất thế gian,

 

Đây là lần tái sinh cuối cùng,

 

Bây giờ không c̣n tái sinh!

 

Ch ham nghĩa là ta, asmi = , lokassa = của thế gian. Aggo = cao nhất, jettho = già nhất, và settho = tốt đẹp nhất (theo Access to Insight: Readings in Theravada Buddhism [2]). Trong năm câu đó không có chữ Atta (ngă, hay ātman trong Phạn ngữ). Atta hay ātman  là danh từ. Ham là đại danh từ. Ta có khuynh hướng nghĩ đến Phạn ngữ khi nói về kinh điển Phật giáo nhưng tôi có cảm giác là lời tuyên ngôn “TTTHVNĐT” bắt đầu xuất hiện bằng ngôn ngữ Pali.

 

Ta có thể thắc mắc rằng không biết chữ “ngă” trong câu Hán-Việt là danh từ hay đại danh từ v́ văn phạm Tàu mơ hồ. Thắc mắc này không phải là việc tào lao của những người vô công rồi nghề bàn chuyện ngữ nguyên. Mặc dù chữ “ngă” đă được dùng từ thời giáp cốt văn như là một đại danh từ hay chủ hữu từ (I, me, my, we, our, us), nó cũng được dùng như là danh từ (self) theo Oxford Chinese Dictionary.

 

Nếu người đầu tiên dịch câu nguyên văn tiếng Pali ra Hán tự với chữ “ngă” như đại danh từ, ta nên dựng y dậy đánh đ̣n. Ư kiến đánh đ̣n này đến với tôi đột nhiên nhưng tôi không phải là người độc nhất có phản ứng đó. Hơn 12 thế kỷ về trươc, lúc Thiền Sư Vân Môn (864-949) nghe người ta hỏi về câu này, ông trả lời "Lúc đó mà ta chứng kiến được th́ đă đánh một gậy cho chết rồi vất cho chó ăn! Một đồ án cao quư để thiên hạ được thái b́nh [3]. Nghe một thiền sư tuyên ngôn như vậy về câu nói danh tiếng nhất của đức Phật, Phật tử chắc phải đau ḷng lắm, nhất là khi sư nói về Phật, không phải về người dịch như  tôi!

 

Dù sao chăng nữa, tác giả của câu thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn có thể biện luận chạy tội rằng y chỉ biết dịch đúng theo nguyên tác và nguyên tác dùng một đại danh từ cho chữ “ngă”. Ta chẳng ngây dại ǵ mà tin rằng chính miệng Đức Phật thốt ra cái câu quái gở này. Cũng như trường hợp Jesus Christ, Khổng Phu Tử, v.v., ta chỉ có những câu nói chép lại theo sự hiểu biết và trí nhớ của môn đồ của họ. Vậy th́ nguồn gốc của câu “TTTHDNĐT” ở đâu ra?

 

Tôi đưa ra một giả thuyết sau đây. Những người nghiên cứu về tôn giáo thường thắc mắc tại sao Phật Giáo không phát triển mạnh trên đất Ấn Độ dù rằng không có một kỳ nhân nào trên vùng đất đó sánh nổi với Thích Ca Mầu Ni (Đức Khổng là người đương thời với Đức Phật  nhưng ảnh hường của ngài khó lan rộng qua vùng Tây Vực trước kỷ nguyên điện tử). Có thuyết bảo rằng Phật Giáo không phát triển v́ Bà La Môn Giáo nhận Phật Thích Ca như là một hoá thân của thần Vishnu nên tín đồ của Bà La Môn không cần phải bỏ đạo để theo Phật. Có thể nào một giới chức Bà La Môn nào đó dựng chuyện Phật Đản Sinh với các câu “aggo ‘ham asmi… “ ngớ ngẩn với thâm ư làm mất uy tín Phật v́ lư do tiền hậu bất nhất  và chưa đạt được cái mức Vô Ngă? Lịch sử cho biết Thích Ca có vài kẻ thù trong giới Bà La Môn nên ư kiến này không hẳn vô căn.

 

Lúc tôi nghĩ tới giả thuyết này, chữ hoax (tin nhảm) hiện ra trong đầu. Quư vị nào chịu khó sưu tầm và đọc vài trăm bài viết (entry) về câu tuyên ngôn này  sẽ nhận thấy rằng, dù chỉ có một bài nguyên tác bằng tiếng Pali, có rất nhiều bài dịch qua Hán tự trong các kinh sách; các bài đó giống nhau ít nhiều ở tám chữ đầu (để dịch ư ba câu Pali đầu tiên) nhưng những câu sau khác nhau rất nhiều:

- Thiên thượng thiên hạ duy ngă vi tôn. Tam giới giai khổ, ngô đương an chi.

- Thiên thượng thiên hạ duy ngă vi tôn. Tam giới giai khổ hà khả lạc giả.

- Ngă đương cứu độ, thiên thượng thiên hạ vi thiên nhân tôn, đoạn sinh tử khổ, tam giới vô thượng, sử nhất thiết chúng sanh vô vi thường an.

- Thiên thượng thiên hạ, tôn vô quá ngă giả.

- Ngă ư nhất thiết thiên nhân chi trung tối tôn tối thắng. Vô lượng sinh tử ư kim tận hỉ.

- Thế gian chi trung, ngă vi tối thượng. Ngă tùng kim nhật sanh phần dĩ tận... dư phương tất nhiên.

- Thử sinh vi Phật sinh. Tắc vi hậu biên sinh. Ngă duy thử nhất sinh. Đương độ ư nhất thiết.

 

Thậm chí có một cuốn kinh (Kinh Chúng Hứa Ma Ha Đế) tránh luôn việc dịch ba cái câu đầu quỷ quái đó và chỉ giải thích hai câu cuối. (Các câu dịch trên trích từ bài Chi tiết linh diệu nơi ngày Đản sinh của Phật theo các Kinh thuộc Hán tạng [4]). Chữ “độc” không hiện diện trong các kinh sách gốc Hán ở trên nhưng được một tác giả ở Châu Đốc viết là t́m thấy trong một cuốn Kinh A Hàm (Thiên thượng thiên hạ, Duy ngă độc tôn, Nhất thiết thế gian, Sinh lăo bệnh tử, (xem Duy Ngă Độc Tôn [5]) nên có thể câu này cũng là một hiện tượng độc đáo Việt Nam. Đọc hết mấy câu đó tôi liên tưởng tới những “tam sao thất bổn” thường thấy khi suy tầm nguồn gốc của các hoaxes – tin huyễn hoặc. Trong trưng hợp này các dịch giả không phải đă sao lại lẫn nhau nhưng cùng gặp chung một khó khăn trước việc dịch cái của lời  tuyên ngôn bằng tiếng Pali gán vào miệng một hài nhi vừa lọt ḷng – hay nách -- mẹ. Có mấy ai thấy ngay sự thật và hùng hổ đi t́m gậy?

 

Câu Thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn có thể là cái hoax tôn giáo đầu tiên trong lịch sử.

 

Trở lại các  hư cấu, những người t́m ṭi về kinh Phật biết rằng các bộ kinh được viết ra lần đầu tiên hơn 450 năm sau khi Thích Ca nhập diệt (năm 29 BCE, theo một số tài liệu.) Chúng ta không biết Thích Ca dùng tiếng địa phương nào, có biết chữ hay chăng! Những ǵ chúng ta biết ngày hôm nay về các lời dạy của Thích Ca đến từ miệng Ananda, người môn đồ có trí nhớ phi thường – theo lời truyển tụng. Nhưng chúng ta cũng biết rằng lư do các đoạn kinh trong các bộ kinh điển thường có bốn phiên bản hơi khác nhau là các trưởng lăo “làm” thế để giảm thiểu nạn thất thoát lời Phật. Ư nguyện đó có thành công chăng th́ tôi không biết nhưng tôi chỉ thấy rằng có những lối xưng hô Thích Ca trong các buổi giảng kinh nghe sao không … xuôi tai! Chẳng hạn  như các câu  bắt đầu với “Bạch Đức Thế Tôn …” Có thật một người không chịu ở triều đ́nh làm vua, bỏ điện ngọc đi khất thực để dạy người đời sống vị tha và b́nh đắng lại để người đến tham vấn gọi ta là Đức Thế Tôn? Cách gọi đă phi lư th́ làm sao tin được những lời bảo là đến từ miệng Thích Ca qua miệng Ananda? Đây là lư do tại sao tôi không đọc kinh Phật để mong biết Thích ca muốn dạy thế gian ǵ. Có lẽ ta cũng nên nh́n những ǵ Phật làm thay v́ tin những ǵ người ta bảo Phật nói.

 

 

Mặc Ngôn

10-2017

_______________________

 

[1]  Từ chuyện một con ruồi

[2] Access to Insight: Readings in Theravada Buddhism

[3] 雲門匡真禪師廣錄   Cử thế tôn sơ sanh hạ nhất thủ chỉ thiên nhất thủ chỉ địachu hành thất bộ mục cố tứ phương vân thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn. Sư vân : "ngă đương th́ nhược kiến, nhất bổng đả sát dữ cẩu tử khiết khước Quư đồ thiên hạ thái b́nh."  ]

[4]  Chi tiết linh diệu nơi ngày Đản sinh của Phật theo các Kinh thuộc Hán tạng

[5]  Duy Ngă Độc Tôn

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính