Con chú săi chùa lại quét lá đa

 

Mặc Ngôn

 

 

 

Săi là một từ thuần Việt nên không hiện diện trong các từ điển Hán-Việt, kể cả từ điển của Đào Duy Anh. Dùng Khai Trí Tiến ĐứcĐại Nam Quấc Âm Tự Vị để tra từ săi th́ lại đưa ta đến một khó khăn. Theo KTTĐ th́ săi là từ để chỉ “người dàn ông ở giữ chùa”, nghĩa là có thể không phải là thầy tu; nhưng ĐNQATV th́ lại bảo săi là “thầy chùa, thầy tu đạo Phật”.  Đă là thầy tu th́ làm sao mà có con nối nghiệp quét lá … đa?!  Có ba chấm trước chữ đa v́ người viết không thể không liên tưởng đến cái “lá đa” khác trong ca dao Việt [1] .

 

Thôi th́ đi hỏi từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes xem sao.  Theo A. Rhodes săi là thầy chùa (bonzo, Bồ), hay người thờ phụng (sacrifuculus, Latin). Nhưng nghĩa của săi văi  mới là đặt biệt:

 

săi văi:

homens e molheres que se ajuntao perao culto dos idolos, ou tambien iuntame uto pera outras obrai, como pera fazer pontes ergendos, cazas pera os passageiros &c. (Bồ.)

cultores & cultrices idoloru qui simul co-ueniunt ad idolou cultum, uel etiam ad alia opera simul facieda ut ad pontes erigendos, uel domos aedificandas ad peregrinorum hospitium. (Latin.)

 

Cả hai dịnh nghĩa Bồ và Latin có cho ta “đàn ông và đàn bà tụ họp để thờ thần vật, hay để làm việc khác như xây cầu, dựng nhà đón khách. Ta có thể thấy ngay rằng A. Rhodes không nói săi và văi thờ Phật – các từ phật và bụt có trong từ diển với nghĩa chùa (pagode, P.) hay thần vật (idolum, L.) – và khó mà nói rằng nhà truyền giáo này đă khách quan trong việc chuyển ngữ ở một quốc gia ông ta đến khai hóa và truyền đạo Chúa! Dù sao chăng nữa, định nghĩa của A. Rhodes cho ta ư niệm rằng chú săi có thể có con nên ta có thể bàn tiếp và so sánh con vua với con chú săi

 

      Con vua th́ lại làm vua; con chú săi chùa lại quét lá đa (Ca dao Việt Nam)

 

Từ thời c̣n bé tí tẹo, tôi đă cám cảnh câu ca dao này, v́ cho dù không lời truyền ngôn nào của tiền nhân có thể đúng cho mọi trường hợp, và hiếm khi có vua nào mà trọn bầy con đều được lên làm vua; và cho dù con chú săi chùa không được làm vua, nó có thể được làm dân ngu khu đen buôn thúng bán mẹt, không cần phải ở măi trong chùa để chỉ quét lá đa.

 

(Con vua chưa chắc đă sẽ được ngồi ngai vàng v́ trong triều đ́nh chỉ có một ngai vàng nhưng vua th́ con đàn cháu đống. Và sử liệu h́nh như cũng đă có trường hợp ngoại lệ cho săi chùa. Ta không có sử kiện dứt khoát nào về gốc gác của Lư Công Uẩn nhưng một nguồn tin bảo rằng mẹ ông không có chồng phải nương tựa chùa Ứng Thiên để sống lúc 20 tuổi, có nghĩa rằng ta có thể xem cô là một loại văi theo định nghĩa của A. de Rhodes; và nếu các sư ở Ứng Thiên tuân thủ Phật pháp th́ có thể rằng cha của Lư Công Uẩn là một … săi. Và cậu con của săi-văi đó sau này là người sáng lập nhà Lư.)

 

Ư tưởng viết bài tản mạn này đến v́ một thân hữu dùng từ power struggle—tranh dành quyền lực khi đang bàn luận về thời cuộc.  Ta có thể thấy h́nh tượng của sự tranh dành quyền lực trong bối cảnh cuộc đối thoại giữa Khổng Tử và Tử Lộ về sự chấp chính. Khổng Tử không nhận chấp chính cho nước Vệ v́ vua Vệ Xuất Công bất hiếu, tranh dành quyền lực với cha và để cha sống kiếp lưu đày (Khánh Hội phải sống lưu đày sau khi âm mưu giết mẹ v́ nghe đồn mẹ ngoại t́nh bị bại lộ!). Xuất Công làm vua lần đầu được 12 năm (493-480 BCE) th́ bị cha-Khánh Hội lẻn về nước đánh đuổi phải chạy trốn sang Tề. Khánh Hội làm vua (Vệ Trang Công) được hai năm th́ bị dân ghét đuổi đi rồi giết. V́ những tranh dành quyền lực giữa các đại phu nước Vệ, Xuất Công lại được về nước làm vua (477-?).  Dấu hỏi ở cuối câu trước là v́ sử sách bận ghi chép chuyện tranh dành quyền lực trong triều đ́nh thay v́ số phận của vua! Triều đ́nh thối nát như thế th́ Khổng Tử không nghĩ có ai xứng danh quân tử để cho ngài đến pḥ tá là phải.

 

Chuyện tranh dành quyền lực như thế đầy rẫy trong lịch sử thời Xuân Thu, và vẫn c̣n tái diễn trong lịch sử cận đại (như những bí mật loại Thanh Cung bí sử của triều đ́nh Anh quốc gợi ư trong đợt phim The Crown về vua Edward VIII của Anh quốc) nhưng chuyện 25 thế kỷ trước th́ dính dáng ǵ tới thời cuộc ngày nay? Thời nay không c̣n có lắm vua nhưng nếu ta nh́n kỷ th́ cũng có thể thấy hiện tượng tranh dành quyền lực ở xứ Ả Rập bây giờ. Tuy nhiên, tôi dùng từ Anh ngữ power struggle trong một bài tiếng Việt là v́ đại đa số mọi người không hiểu nó là ǵ, kể cả người Mỹ! Bách khoa từ diển Wikipedia Anh ngữ được xem như có giá trị tương đương với Encyclopedia Britanica nhưng nếu ta vào đó t́m mục từ power struggle th́ sẽ chưng hửng v́ được – hay bị -- chuyển sang trang nói về power vaccum của chính trị. Nghĩa thông dụng của power struggle—tranh dành quyền lực là hiện tượng hai hay  nhiều người cạnh tranh để được chỉ huy, kiềm chế mọi người khác.  Định nghĩa đặt trọng tâm trên khái niệm quyền lực.  Nhưng đây là một lối nh́n phiếm diện hay thông manh, và là lư do chính làm ta không thể hiểu lối hành xử của nhân loại. Có một cách định nghĩa khác thực tiễn hơn mà ta có thể suy diễn ra từ lời tuyên bố của Jesse Carr (một lănh tụ lao động) với báo Newsweek năm 1976 (xin chia buồn với quư vị nào nghĩ rằng câu nói này là của Margaret Thatcher):

 

Being powerful is like being a lady. If you have to tell people you are, you aren't.” Dịch: Có uy quyền cũng giống như làm công nương. Nếu quư vị phải bảo người khác rằng quư vị (là thế), quư vị không (là thế).

 

Thế có nghĩa rằng những người cạnh tranh quyền lực là những người yếu đuối, bất an trong nội tâm, cho dù họ biết hay không, và thường th́ là không, v́ không biết mới làm … bậy! Con người, và mọi sinh vật ra đời với bản năng sinh tồn. Bản năng sinh tồn giúp con người nhận thức được những t́nh trạng hay hoàn cảnh hiểm nghèo để mà tránh hay t́m cách đối phó. Và sớm muộn ǵ con người sẽ biết – trong thâm tâm – rằng đời quá bất an, khôn lường v́ đầy hiểm nghèo (thiên tạo và nhân tạo), và ta quá yếu đuối, không thể đương đầu với mọi hoàn cảnh. Người nào may mắn th́ không để cái kiến thức tiềm ẩn đó chi phối cuộc sống. V́ kiến thức hạn hẹp, ta thường nghĩ rằng điều tương phản với sự yếu kém là quyền lực, và những người xui xẻo bị hoàn cảnh nhắc nhở sự yếu kém của ḿnh có thể phản ứng bằng cách tập luyện thành lực sĩ hay tranh dành quyền lực để mong được an toàn … hơn người.

 

Kinh nghiệm cá nhân, hay nhận  xét ngoài xă hội, cho một số người thấy rằng của cải hay uy quyền từ cha ông có thể giúp họ ăn trên ngồi trốc, sung sướng và có hy vọng sống an toàn hơn người khác. Và nhận xét đó được thể hiện qua câu “con vua th́ lại làm vua.” Con của giai cấp “dại gia” thời nay ở Việt Nam, hay của the top 1% ở Mỹ sẽ có nhiều cơ hội nối gót cha mẹ hơn con chú săi chùa ở quê hương, hay con người gốc nô lệ da đen, gốc thổ dân da đỏ, v.v ở Mỹ.

 

Các người phái “cực hữu”, da trắng, theo Thiên chúa giáo nghĩ rằng họ là những người entitled, tạm dịch là ưu tiên, v́ di truyền, chủng tộc, hay tôn giáo. Tùy theo các nền văn minh trên địa cầu và tùy theo cách tính toán dựa trên sử kiện – hay đúng hơn huyền sử, tuổi của nhân loại được ước đoán từ ~240.000 (huyền thoại Sumerian) qua từ ~10.000 đến hơn 6.000 năm tùy theo cách đọc và tính các dữ kiện thánh kinh). Dùng số nào đi nữa th́ người da trắng cũng là người sinh sau đẻ muộn. Các dữ kiện khoa học đưa đến kết luận là loài người “tân thời” phát xuất từ Vùng có tên là Ethiopia bây giờ và loài người bắt đầu phân tán ra khỏi Phi Châu trong hai đợt, đợt đầu ~200.000 năm trước và để lại ít vết tích. Đợt thứ nh́ ~120.000 năm trước, đến Trung Đông. Nghiên cứu về các gene tạo màu da cho biết những người có da nhạt (light skin), cũng c̣n gọi là da trắng phát xuất quanh 30.000 năm trước trong nhóm tiền Ấn-Âu  (pre-Eurasian) ở Trung Đông. Tổ tiên của những người da trắng Âu châu bây giờ chỉ mới xuất hiện quanh 12.000 năm trước. Thế có nghĩa là không thể dùng màu da trắng để bảo rằng ta có ưu tiên từ đấng sáng tạo v́ người nguyên gốc ở Ethiopia là người da màu.

 

Nếu có một đấng sáng tạo à la chrétien th́ làm sao giải thích chuyện sinh sau đẻ muộn của người da trắng, cũng như chuyện người Do Thái được ân sủng của thượng đế?

 

"For you are a holy people to YHWH your God, and God has chosen you to be his treasured people from all the nations that are on the face of the earth.” (Deuteronomy 14:2) [Tạm dịch: V́ các người là một dân tộc thánh thiện đối với YHWH, Thượng Đế của các người, và Thượng Đế đă chọn các người làm dân tộc trân quư từ tất cả các quốc gia trên quả đất.]

 

Đệ Nhị Luật của Do Thái Giáo được sáng tác quanh 7 thế kỷ trước khi Christ ra đời. Tôi đă đọc nhiều lời bào chữa từ các tín đồ và rabbi Do Thái về câu này nhưng có bào chữa cách nào đi nữa th́ cũng vẫn có những tín đồ của nhóm tôn giáo abrahamique lo ngay ngáy rằng nếu thượng để đă nói thể th́ chúng ta, những kẻ “ngoại đạo” c̣n xơ múi ǵ trong ngày tận thế?! Biết tin ai bây giờ? YHWH, Christ, người viết kinh, người diễn dịch? Người/sắc dân nào sẽ được tiếp tục làm vua, lên thiên đường, và người/sắc dân nào sẽ măi là kẻ chân lấm tay bùn, sống để quét sân chùa và chết để đày đọa xuống địa ngục?

 

Trong một bài tọa đàm tựa dề “Tư cách của trí thức Việt Nam” trước một cử tọa nào đó ở Đức năm 2000, nhà văn Phạm Thị Hoài nói đến sự sóng đôi của trí thức và quyền lực và dùng khái niệm sự bất an để giải thích thái độ hay lối hành xử của giới trí thức Việt:

 

Bởi v́ ngoài cái nghèo và lạc hậu, th́ đến đầu thế kỷ 21 này xă hội Việt Nam c̣n là chỗ hội tụ của những dịch bệnh dường như vô phương cứu chữa khác mà bao trùm lên tất cả là một khái niệm, tôi đặt tên khái niệm đó là sự bất an. Với một nhà văn th́ đương nhiên sự bất an trong tinh thần và tâm hồn là mối quan tâm chính. Theo cách nh́n của tôi, th́ sức mạnh của một xă hội là khả năng đem lại cho các thành viên của nó cảm giác an toàn và yên tâm nhất định. ...[2]

 

Rất tiếc rằng PTHoài không đi thêm một bước nữa và khai triển cái khái niệm sự bất an. Có ấn tượng, cảm nghĩ bất an tức nhiên là phải có nhận thức ta không tin đời sẽ măi an vui, no đủ, không tai ương loạn lạc. Thế có nghĩa rằng thâm tâm ta luôn ngay ngáy lo chuyện tự (bảo) vệ. Một cách tự vệ là dùng sức mạnh hay quyền lực. Làm nhà văn, hay nhà Nho trói gà không chặt, th́ chỉ có cách là tựa vào sức mạnh của kẻ cầm quyền, của vua chúa. Người ra đời với thân phận con chú săi hay thị mẹt th́ có mơ tưởng cũng không được, cho dù đang là công dân của America the Great, the Land of Opportuinity. 26 thế kỷ trước, Thích Ca cũng ư thức được đời đầy bất an nên đi tầm đạo. Nhưng giác ngộ xong rồi th́ ngài lại chỉ nói đến những yếu tố tâm lư làm con người bất an: đến thất t́nh lục dục. Tại sao không có từ nào trong đó để nói về sự sợ hăi, đến nỗi bất an hiện sinh?! Tại sao phải tách riêng hiện tượng tâm lư này vào một cuốn kinh riêng trong Trung Bộ Kinh? Đọc qua cuốn kinh Sợ Hăi và Khiếp Đảm th́ ta thấy Thích Ca nói về … thất t́nh! Phải chăng v́ 26 thể kỷ trước, chưa có khái niệm về tâm lư học? Cũng có thể rằng v́ Thích Ca đi từ những sự thực gần gũi “sanh, lăo, bệnh, tử”, những nguyên nhân thực tế của bất an hiện sinh  qua những khái niệm trừu tượng thất t́nh lục dục nên Phật tử về sau đi … lạc đường!

 

PT Hoài cũng đă viết nhiều lần về vai tṛ thảm thương của phụ nữ trong xă hội Việt ngày xưa. Cho dù trên nguyên tắc cụm từ trí thức không có giống và có thể áp dụng cho cả hai phái nam nữ, ai ai cũng nhận thấy rằng phái nữ hầu như không được nhắc đển trong các b́nh luận về vai tṛ của giới trí thức Việt. Dĩ nhiên đa số mọi người lại thấy yếu tố tranh dành quyền lực trong hiện tượng bất b́nh đẳng nam-nữ. Nhưng có thật vậy không? Đàn ông ức hiếp, chèn ép đàn bà v́ muốn có quyền lực hay v́ yếu tố tính dục, v́ phải sống theo một nhu cầu bẩm sinh chung cho mọi loài vật? Không có đàn bà th́ không có hậu duệ, không c̣n ṇi giống, không tương lai cho chính ta. Có nỗi bất an hiện sinh trong đời nào lớn hơn sự nhận  thức thực tiễn đó? Phải chăng đó là lư do mà đại đa số các nền văn hóa-văn minh, và tôn giáo “lớn” đều dựa trên căn bản trọng nam khinh nữ? Có mấy người dám chỉ trích Khổng Tử v́ khía cạnh bất b́nh đẳng nam nữ này như PT Hoài? Một trong những hiện tượng xă hội đáng để ư nhất trong thế kỷ 21 này là phong trào #MeToo trên Twitter.  Mấy ngàn năm lịch sử qua rồi nhân loại mới đi đến được bước đó.  Cần bao nhiêu thế kỷ nữa nhân loại mới chấp nhận được rằng vai tṛ của “phái yếu” phải được thay đổi để mong cứu văn văn minh nhân loại?

 

Có lẽ ta nên bắt đầu bằng một sự “chỉnh (dấu hỏi) danh”cho cái lá đa và thôi xem hay gọi phụ nữ là phái yếu hay phái đẹp. Chưa thấy nhà trí thức Việt nào bàn đến chuyện đó!

 

 

Mặc Ngôn

_________________

[1] Sáng trăng  em tưởng tối trời
     Em ngồi em để cái sự đời em ra.
     Sự đời như cái lá đa,
     Đen như mơm chó, chém cha sự đời!

[2] Tư cách của trí thức Việt Nam - E-CaDao.com

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính