Bát Nhă Ba La Mật Đa

Tâm Kinh hay Thần chú?

 

Mặc Ngôn

 

 

Tôi đă đôi khi gặp những trao đổi về Bát Nhă Tâm kinh trên vài diễn đàn Việt ngữ nhưng không bao giờ tham dự v́ tôi không phải là một Phật tử và sống với nguyên tắc không bàn căi hay đụng chạm đến đức tin của người khác. Nhưng tránh cũng không được v́ một người bạn chuyển đến tôi một bài phê b́nh [1,2] bản Anh ngữ Thích Nhất Hạnh dịch [3] Tâm kinh Bát Nhă (ra ḷ tháng 9-2014) và yêu cầu tôi góp ư kiến. Có lẽ lư do hợp lư nhất cho lời yêu cầu của bạn là v́ bạn biết tôi có khả năng t́m tài liệu về ngôn ngữ, cho dù tôi biết rất ít chữ Hán và không biết ǵ về Phạn ngữ. Nhưng thôi, bạn đă nghĩ tôi có thể góp ư kiến th́ cũng đành lặn lôi trong không gian vô ảnh xem thử ta có thể t́m ra ǵ. Đa số những dữ kiện tôi dùng trong bài tiểu luận này không đến từ trong đầu tôi mà từ bộ bách khoa từ điển lớn nhất thể giới: Internet, và tôi chỉ mới khám phá ra chúng tối hôm qua. Và lúc bắt đầu t́m kiếm, tôi không hề có ư định “chỉ trích” Tâm kinh. Và xin người đọc hiểu rằng tôi dùng từ Tâm Kinh riêng cho BNBLMĐ Tâm kinh, c̣n từ Bát Nhă th́ dùng cho các kinh khác nói về sự giác ngộ.

 

Điều thứ nhất tôi t́m ra th́ rằng th́ là cho dù chưa hề đọc, tôi đă từng gặp những từ ngữ và những câu đặc thù của Tâm kinh trong nhiều bài báo tôi gặp từ hồi c̣n bé, và những điều người đời bàn căi thật ra không xa lạ ǵ. Có xa lạ chăng th́ chỉ v́ lư do tôi là người “ngoại đạo” và chưa bao giờ để tâm tới … Tâm kinh. Đă có nhiều bàn luận trên Internet về Tâm Kinh và lối Thích Nhất Hạnh dịch Tâm Kinh nhưng dĩ nhiên chỉ những người có khả năng đọc Anh ngữ mới biết đến. Và cũng như tôi, những người không ở trong Làng Mai không biết rằng TNH đă cho “đệ tử” dùng một bản dịch qua Anh ngữ nghe xuôi tai hơn từ lâu trước khi người đời nghe dến những bàn luận về cái bản dịch mới mẻ và độc đáo này. Độc đáo là v́, cũng tựa như Phạm Công Thiện – một hiên tượng văn chương khác cũng đă được người đời xưng tụng danh hiệu thiền sư, TNH không dịch kinh với tư cách là một người  học kinh mà với tư cách thi sĩ Nhất Hạnh, muốn dùng Anh ngữ để biến Tâm Kinh thành một thi phẩm để đời  cho hợp với cái nguyện vọng thầm kín được người đời xem như là luận sư Long Thọ thứ hai. Chỉ có cách giải thích đó mới giúp ta hiểu tại sao TNH đă kích rằng vị trưởng lăo hai ngh́a năm trước đă viết Bát Nhă không … thông và TNH phải viết lại! Đă có người phê b́nh rằng có thể TNH không biết phiên bản Hán văn chỉ ra đời 13-14 thể kỷ trước nhưng chưa chắc đă thế. Rất có thể rằng TNH chỉ trích các thượng tọa trong Đại hội tập kết kinh điển lần thứ tư để tăng thêm phần trang trọng của chính ta và lấp liếm sự kiện rằng ông ta đang dùng một hư cấu sáng tác 8 thể kỷ sau. Có một điều tôi không thấy các tác giả nghiên cứu về xuất xứ của Tâm Kinh là nguồn gốc của Quan Âm bồ tát. Các nhà nghiên cứu cho ta biết rằng bồ tát Avalokitasvara chưa xuất hiện trong văn chương và kiến trúc Ấn trước thế kỷ thứ 2. Nếu thế th́ Avalokitasvara không thể là một bồ tát mà Phật nói đến trong các kinh Bát Nhă; và bài độc thoại của Quan Âm nói với Xá Lợi Phất trong Tâm Kinh không thể được trưởng lăo nào viết xuống hơn 2000 năm trước khi TNH dịch nó sang Anh ngữ và chê người không rành ngôn ngữ!

 

 Điều thứ nh́ tôi t́m ra là tại sao Tâm kinh lại có cái tên … ngộ vậy?

 

Câu Hán-Việt đầu của kinh đọc: “Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm bát nhă ba la mật đa.” Quán Tự Tại là một tên mới của bồ tát Avalokiteśvara -- nghĩa gốc là Đấng nh́n xuống  (thế gian) -- theo lối dịch của Huyền Trang--Đường Tam Tạng. Nhưng nếu không t́m hiểu th́ ít người biết rằng  QTT cũng là tên của Quán Thế Âm mà Cưu Ma La Thập dịch cho tên cũ Avalokitasvara. Tên cũ này có trong các phiên bản tiếng Phạn từ thế kỷ thứ 5, c̣n Quán Tự Tại xuất hiện từ thế kỷ thứ 7, phản ảnh một khuynh hướng – hay nhu cầu thần thánh hóa Phật giáo v́ ảnh hưởng của Ấn giáo thời đó; và các người muốn giữ tên Quán Thế Âm là người “vô thần”.

 

Phần chữ Hán theo sau tên bồ tát là phần kỳ quái mà tôi không thấy ai bàn đến v́ sau ‘hành thâm’ (nghĩa là thực hành thâm sâu) “bát nhă ba la mật đa” không có nghĩa ǵ trong Hán tự mà chỉ là cách chuyển âm cho prajñāpāramitā trong (các) bản Phạn ngữ. Theo các bản dịch sang Anh ngữ mà tôi đă đọc, prajñāpāramitā có nghĩa là sự toàn hảo của trí tuệ, và đạt được bát nhă có thể hiểu là giác ngộ hay nhập niết bàn. Không khó dịch ǵ lắm! Thế th́ tại sao không dịch ra cho chúng đệ tử nhờ mà lại chuyển âm qua chữ Hán để rồi không ai hiểu ǵ hết?! Thay v́ t́m cách dịch prajñāpāramitā th́ tôi lại thấy vài bài viết bàn về ngũ uẩn, từ chỉ thấy trong Tâm kinh, với những giải thích hoàn toàn khác nhau cho năm cái uẩn kỳ lạ đó! Quư vị nào không tin tôi th́ chỉ cần đọc các trang Wikipedia cho mục từ ngũ uẩn—Skandha--.

 

Lối (không)-dịch một câu tiếng Phạn có thể dịch dể dàng làm tôi liên tưởng đến câu thần chú Om manipadme hum. Theo các nhà nghiên cứu Phạn ngữ, om manipadme hum chỉ có nghĩa là “Hỡi Quan Âm Bồ tát!” bất kể quái tượng Phạm Công Thiện hay Đạt Lại Lạt Ma có giải thích cách ǵ khác. Đạt Lại Lạt Ma là lănh đạo tâm thần của phái Mật Tông Tây Tạng, và được xem như là hiện thân của Avalokiteśvara, nên phải có trách nhiệm giải thích câu thần chư Om mani một cách … thỏa đáng, nhưng giải thích bằng lối cương ẩu của PCT th́ chỉ làm xấu hổ những người gọi ông ta là thiền sư.

 

Phần tiếp sau của bài kinh bắt đầu với “Xá Lợi Tử, sắc bất dị không …” là phần làm điên đầu các nhà t́m hiểu cũng như nghiên cứu Tâm kinh v́ … không ai hiểu Quan Âm muốn nói ǵ. Phải chờ tới 1992, khi Jan Nattier, một tiến sĩ của bộ môn Tôn giáo đối chiếu, chuyên về Phật giáo và dịch kinh sách công bố kết quả [4] các đối chiếu kinh điển của cô ta mới có một giải thích thỏa đáng cho sự hiện diện cũng như dạng đặc thù của Tâm Kinh. Nattier so sánh các phiên bản chữ Phạn có chứa những câu của đoạn kinh Bát nhă và cho ta thấy rằng có nhiều đoạn trong các kinh Bát Nhă Ba La Mật Đa khác đủ giống với Tâm kinh để ta có thể kết luận rằng Tâm kinh được ai đó sáng tác thể theo các nguyên tác mà Huyền Trang và Cưu Ma La Thập dịch qua Hán văn. Và khi đọc các phiên bản đó (dịch qua Anh ngữ) tôi thấy ngay một điểm rằng trong các phiên bản đó, bắt đầu với sự đối thoại giữa Thích Ca và Tu Bồ Đề (như thường thấy trong các kinh loại đó), không có sự hiện diện của Quan Âm v́ Tu Bồ Đề chỉ hỏi Thích Ca về cách các bồ tát thực hành để thành chánh quả.  Và câu hỏi ta nên đặt ra bây giờ là “thế th́ tại sao Quan Âm lại xuất hiện trong bản Hán văn?”

 

Công tŕnh đối chiếu của Nattier cho ta thấy rằng bản Tâm Kinh mà chúng ta quen thuộc xuất hiện trước tiên dưới dạng Hán văn quanh thế kỷ thứ 7 rồi sau đó mới được dịch sang Phạn văn. Cho tới 1992, ta cứ nghĩ rằng bản Tâm kinh mà mọi Phậ tử tụng niệm như vẹt đó có gốc tiếng Phạn và đă được lưu truyền từ thời Thích Ca c̣n sống, nhưng sự thực không phải thế! Và như thế, tụng Tâm kinh bằng tiếng Việt hay tiếng Phạn có ích ǵ? Quan Âm không thể hiểu nếu ta tụng bằng tiếng Tàu cho dù bồ tát là Quán Thế Âm, nghe được tiếng than của toàn nhân loại?

 

Và Nattier kết thúc sự nghiên cứu của cô với câu hỏi trong tựa đề “The Heart Sutra: A Chinese Apocryphal Text?[3] Heart sutra là tên Anh ngữ của Tâm kinh (để phân biệt với Diamond sutra—Kim Cương kinh). Apocryphal có nghĩ là ngụy tạo, hay hư cấu! Tôi viết đợt bài Hư cấu và Huyền thoại vài tuần nay để nói rằng câu “thiên thượng thiên hạ duy ngă độc tôn” và đa số những ǵ ta đọc từ các kinh điển chỉ có thể là hư cấu, bây giờ có một tiến sĩ từ đại học Harvard chuyên môn về Phật học cho tôi biết rằng đoạn kinh tinh  yếu của bộ kinh Đại Bát Nhă cũng là một … hư cấu!

 

Một điểm đặc biệt khác nữa của Tâm kinh mà Nattier nêu ra là kinh không được viết dưới dạng thường thấy với đối thoại bắt đầu bằng câu hỏi của Tu Bồ Đề mà lại chỉ gồm có một độc thoại của Quan Âm nói cho Xá Lợi tử nghe. Kinh cũng không chấm dứt bằng những lời ca tụng Thích Ca mà lại bằng một thần chú! Đọc kinh đă chẳng ai hiểu ǵ, rồi lại đọc thêm câu thần chú th́ phải chăng đây là kết quả của sự thoái hóa tiếp tục của đạo Phật từ một lối tu bằng cách sống vị tha để tâm hồn yên ổn khi sắp nhắm mắt ĺa đời đến một lối thờ phụng một vị thần du nhập từ Ấn Độ để mong được thoát ṿng luân hồi hay được độ thành Bồ tát hay Phật!

 

Độc giả nào muốn biết các câu “sắc bất dị không không bất dị sắc, …” nghĩa là ǵ trong nguyên bản tiếng Phạn trước khi bị biến thể thành thần chú th́ có thể đọc hai cách dịch qua Anh ngữ của đoạn tương đương từ hai bản dịch của Bát Nhă Ba La Mật Đa (v́ có nhiều phiên bản Phạn ngữ của Bát Nhă, có rất nhiều bản dịch trên Internet và tôi chỉ lấy hai ví dụ.)

 

[5] The Buddha told Subhūti, “Bodhisattva-mahāsattvas should pacify their minds thusly: ‘All different types of sentient beings, whether born from eggs, born from wombs, born from moisture, or born from transformation; having form or no form; having thought, no thought, or neither thought nor no thought — I will cause them all to become liberated and enter Remainderless Nirvāṇa.’ Yet when sentient beings have been liberated without measure, without number, and to no end, truly no sentient beings have been liberated. Why? Subhūti, if a bodhisattva has a notion of a self, a notion of a person, a notion of a being, or a notion of a life, then he is not a bodhisattva.

 

 

[6] The Buddha said to Subhuti, "This is how the bodhisattva mahasattvas rnaster their thinking. 'However many species of living beings there are--whether born from eggs, from the womb, from moisture, or spontaneously; whether they have form or do not have form; whether they have perceptions or do not have perceptions; or whether it cannot be said of them that they have perceptions or that they do not have perceptions, we must lead all these beings to the ultimate nirvana so that they can be liberated. And when this innumerable, immeasurable, infinite number of beings has become liberated, we do not, in truth, think that a single being has been liberated,'

 

Cho dù chúng hơi khác nhau, nghĩa của chúng không có ǵ khó hiểu. Phật chỉ muốn nói (qua miệng Ananda!) rằng mọi sinh vật không phân biệt nguồn gốc, bản chất, khả năng, v.v. đều có thể nhập niết bàn và được giải thoát. Dịch từ Phạn ngữ tương đối dể hơn (dĩ nhiên cho các người rành Phạn ngữ) dịch từ Hán văn v́ văn phạm Tàu rất mù mờ, không như văn phạm của tiếng Phạn. Và xin thú thật rằng có ai bảo tôi thử dich từ bản Hán văn th́ tôi xin đầu hàng. Các người đọc tinh mắt cũng có thể để ư rằng khi Thích Ca dạy Tu Bồ Đề cách tu để được giải thoát, ngài không dùng từ gi có nghĩa là uẩn hay ngũ uẩn. Và thế có nghĩa rằng khái niệm ngũ uẩn cũng có thể là một sáng chế, cống hiến, hay … hư cấu mà tăng lữ Tàu đưa vào kinh sách từ thế kỷ thứ 7!

 

Bát Nhă Tâm Kinh rất có thể chỉ là một hư cấu ngụy tạo, mượn lời Quan Âm trên căn bản những hư cấu khác đặt vào miệng Thích ca, chúng ta có nên bỏ th́ giờ t́m hiểu hay tụng niệm? Chưa ai trả lời tôi câu hỏi Thích Ca tụng kinh ǵ hay đọc thần chú nào để khải thị và nhập niết bàn nhưng h́nh như đa số tăng lữ không để ư đến chuyện đó và tự sáng chế kinh và thần chú lấy. Không hiểu Thích Ca muốn dạy người đời cái ǵ th́ một cách để che dấu cái dốt của ta là nói/viết trên trời dưới đất, đưa các người tầm đạo vào mê hồn trận để họ không thể t́m ra rằng chính ta, người “chân tu”, cũng không biết … đường.

 

Ô hô, ai tai!

 

 

Mặc Ngôn

11-09-2017

_______________________________

 

1.    Đính chính và cáo lỗi những sai sót trong bản dịch phê b́nh Thích

2.    Jayarava's Raves: Thich Nhat Hanh's Changes to The Heart Sutra.

3.    New Heart Sutra translation by Thich Nhat Hanh – Plum Village  

4.    The Heart Sūtra: A Chinese Apocryphal Text? - Terebess

5.    Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra

6.    The Vajracchedika Prajnaparamita Sutra

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính