Người dân có quyền lật đổ chế độ Cộng sản độc tài, dă man


Luật sư Lê Duy San

 


 
Chính quyền là do dân mà ra. Không có dân làm sao có nước? Không có nước làm sao có chính quyền? Bởi vậy, nếu chính quyền trở nên tồi tệ, không biết phục vụ cho người dân, bảo vệ quyền lợi và tính mạng của người dân, mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân th́ người dân phải t́m cách lật đổ chính quyền để lập một chính quyền khác có lợi cho ḿnh. Đó là quyền lật đổ chính quyền của người dân trong một nước.


I/ Nguồn gốc quyền lật đổ chính quyền của người dân:


 a/ Trong học thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa của Khổng Mạnh.


 Người cầm quyền xưa thường dựa vào lời nói: “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu” của người xưa và đă hiểu theo nghĩa đen của từng chữ như sau: “Vua xử chết, mà (bầy tôi) kháng cự là bất trung. Cha bảo chết, mà (con) c̣n luyến tiếc cuộc đời là bất hiếu (không xứng đáng là đại trượng phu, là nam tử hán)”.


 Hai câu giáo điều này của Nho Giáo đă ngự trị ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa từ nhiều ngàn năm trước và đă được người cầm quyền thời đó tức các vua chúa ngày xưa căn cứ vào đó để trị nước một cách độc tài, độc đoán. Thực ra th́ mặc dù quan niệm Vua là Thiên Tử, nhưng theo Khổng Tử, DÂN cũng là con TRỜI, chỉ khác là VUA là con trưởng mà thôi (Phàm nhân giai vân Thiên chi tử Thiên tử vi chi thủ nhĩ). Không những thế, DÂN mới là người đáng qúy nhất (Dân vi qúy, Xă Tắc thứ chi, Quân vi khinh). Thực vậy, không có DÂN th́ làm ǵ có nước ? Không có nước th́ làm ǵ có vua ? Bởi vậy, dù là Thiên Tử, làm ǵ cũng phải theo ư trời mà ngày nay ta phải hiểu là ư Dân. Thuận theo ư TRỜI th́ sống, nghịch ư TRỜI th́ phải chết (Thuận Thiên gỉa tồn, nghịch Thiên gỉa vong).


 Chính Đức Khổng Tử cũng đă từng hành xử như vậy. Chỉ có điều v́ ngài chủ trương NHÂN TRỊ CHỦ NGHĨA, lại sống dưới chế quân chủ chuyên chế nên cách giải quyết của ngài để phế bỏ những ông vua tàn ác, bạo ngược không thể thuyết giảng công khai mà chỉ âm thầm nhưng vẫn không thiếu phần tích cực và dũng cảm. Đó là sự ra đi (treo áo từ quan) và t́m người khác xứng đáng hơn để phù trợ mà vẫn không mang tiếng là bất trung, là phản nghịch. Một khi những người tài giỏi đă bỏ ra đi hết th́ chẳng sớm th́ muộn, ông vua tàn ác bạo ngược kia cũng bị mất ngôi, mất nước. Đọc chuyện Đức Khổng Tử bỏ nước Lỗ trong cuốn Ôn Cố Tri Tân, tập 2 trang 657 của Mộng B́nh Sơn, chúng ta thấy Ngài đă được vua nước Lỗ là Lỗ Định Công mời về và phong cho làm Tướng Quốc. Ngài đă giúp cho vua nước Lỗ chỉnh đốn lại được kỷ cương trong nước khiến nước Lỗ mỗi ngày một cường thịnh. Nhưng khi ngài thấy Lỗ Định Công không c̣n xứng đáng là một vị vua nữa, và cũng không c̣n cách nào cải sửa được nữa v́ đă bỏ mất điều LỄ nên ngài đă bỏ nước Lỗ ra đi, sang nước Vệ rồi nước Tống, t́m minh chủ để pḥ trợ. Ai dám bảo Đức Khổng Tử, một người đă đề ra thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa, lấy Tam Cương Ngũ Thường làm giường cột, là bất trung?


 Quan niệm của Đức Khổng Tử về Trung và Hiếu cũng như Quân, Sư, Phụ, lúc nào cũng phải dựa vào NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ và TÍN. Bởi vậy, không phải lúc nào cũng “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu”. Câu này sở dĩ luôn luôn được nói tới trong thời phong kiến bởi v́ thời nào cũng vậy, hôn quân, bạo chúa, gian thần, nịnh thần th́ nhiều mà minh quân, anh quân, trung thần th́ ít, nên bọn gian thần, nịnh thần luôn luôn nêu câu này lên để hăm hại trung thần. Ngày nay, bọn Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam tuy bề ngoài th́ đả phá chế độ quân chủ, phong kiến, nhưng cũng bấu víu vào hai chữ TRUNG và HIẾU của Khổng Tử để đàn áp dân chúng cũng như những người bất đồng chính kiến. Nhưng chúng đă sửa đổi một chút cho phù hợp với xu hướng của thời đại và nhu cầu của chế độ là TRUNG với ĐẢNG, HIẾU với DÂN”.


 Thực ra th́ bọn chúng (bọn Cộng Sản Việt Nam) chỉ bắt DÂN phải TRUNG với ĐẢNG mà thôi, chứ làm ǵ có chuyện bọn chúng HIẾU với DÂN ? Nếu bọn chúng biết HIẾU với DÂN th́ đâu có chuyện hàng triệu người phải bỏ nước ra đi để hàng trăm ngàn người phải bỏ xác ngoài biển cả ? Là bầy tôi trung, phải hiểu là trung với nước, Vua hay Tổng Thống chỉ là người đại diện. Nếu không xứng đáng, người bầy tôi trung, nói riêng, công dân tốt, nói chung, không những có quyền mà c̣n có bổn phận đứng lên t́m cách phế bỏ hay đạp đổ. Liệu bọn Cộng Sản Việt Nam c̣n có thể tồn tại được đến bao giờ nếu chúng không thay đổi cách cư xử đối với dân và cách phụng sự đối với đất nước?


 Người xưa thường nói: “Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong. Thiên ở đây chính là ḷng dân. Do đó, nếu chính quyền của một quốc gia không tạo được an sinh và hạnh phúc cho dân, mà chỉ tham nhũng và dùng quyền bính của ḿnh để ức hiếp và áp chế người dân, người dân có quyền xử dụng quyền lật đổ chính quyền của ḿnh để tạo lập một chính quyền khác, biết lo cho quyền lợi và hạnh phúc của ḿnh hơn. Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy có nhiều bầy tôi đă hiểu chữ TRUNG, chữ QUÂN một cách tích cực như vậy, mà cụ Chu Văn An, cụ Nguyễn Trăi là những người điển h́nh.


 b/ Trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc.


 Nguồn gốc thứ hai của Quyền lật đổ chính quyền của người dân cũng tiềm ẩn trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp, Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ và nhất là trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyên của Liên Hiệp Quốc. Điều 21 bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đă gián tiếp công nhận quyền lật đổ chính quyền của người dân qua quyền bầu cử và ứng cử của người dân như sau:  

 

 1. Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của ḿnh, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.


 2.Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách b́nh đẳng.


 3.Ư muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ư muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và b́nh đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.


 II/ Các h́nh thức để thực hiện quyền lật đổ chính quyền.

 

 a/ Các h́nh thức ôn hoà.


 Tại các nước tự do, dân chủ, khi người dân bất măn với chính quyền, họ thường xử dụng những quyền tự do đă được luật pháp công nhận như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền bầu cử và ứng cử v.v. để tỏ bầy những sự bất măn của họ và yêu cầu chính quyền phải sửa sai. Nếu không được, họ sẽ dùng những quyền tự do khác, cũng được luật pháp công nhận, nhưng mạnh mẽ hơn để làm áp lực như quyền đ́nh công, băi thị, quyền mít tinh, biểu t́nh để yêu cầu các người đại diện của họ tức các dân biểu, nghị sĩ phải đưa các vấn đề mà họ yêu cầu ra trước quốc hội để chất vấn chính phủ (các bộ trưởng) và nếu cần, khiển trách hoặc đàn hạc (impeachment), kể cả Tổng Thống. Một Tổng Thống mà đă bị quốc hội đàn hạc th́ dù có thoát tội, và không chịu từ chức th́ cũng khó ḷng mà có thể được tái cử trong nhiệm kỳ tới.


 b/ Các h́nh thức bạo động.


 Tại các nước theo chế độ độc tài, nhất là chế độ độc tài cộng sản, các quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí v.v. đều bị cấm đoán hoặc nếu có đề cập tới, th́ cũng chỉ là h́nh thức. Thí dụ như Điều 69 bản Hiến Pháp 1992 của Việt Cộng ghi: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu t́nh theo quy định của pháp luật”, nhưng rồi chúng lại đặt ra luật pháp để cấm đoán. Thí dụ như để ngăn cấm những quyền tự do này, Việt Cộng đă ghi vào bộ H́nh Luật của chúng hai điều luật sau: Điều 79, khoản 1 bộ Luật H́nh Sự quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân th́ bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, th́ bị phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử h́nh”. Điều 88, Bộ Luật H́nh sự Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: “Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lư, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam. Nguời phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm. Nếu trường hợp đặc biệt nghiêm trọng th́ bị phạt tù từ 10 năm đến 20 mươi năm”.


Như vậy chúng ta chấy, mặc dù Hiến Pháp Việt Cộng tuy có đề cập tới các quyền tự do cũng bằng không. Làm sao người dân c̣n có thể lật đổ được chính quyền bằng các biện pháp ôn ḥa? Người dân cũng không có thể yêu cầu các Dân Biểu hay Thượng Nghị Sĩ đưa Tổng Thống hay Chủ Tịch nhà nước ra trước Quốc Hội để mà chất vấn (question severely) hay đàn hạc (impeachment) v́ họ (các dân biểu hay Thượng Nghị Sĩ) đều là người của Đảng (Cộng Sản), đại diện cho Đảng chứ không phải là người đại diện cho dân. V́ thế có thể nói rằng việc sử dụng các h́nh thức ôn hoà tại các nước theo chế độ độc tài để lật đổ chính quyền là điều bất khả thi. V́ thế người dân phải sử dụng những h́nh thức bạo động như biểu t́nh có bạo động, có đổ máu như hô những khẩu hiệu đ̣i hỏi những người lănh đạo phải từ chức, quốc hội phải giải tán, đập phá, đốt xe cộ của công an, cảnh sát. Nếu bị công an, cảnh sát dùng những biện pháp mạnh như đánh đập người biểu t́nh th́ người biểu t́nh phải chống đối lại bằng gạch đá, gậy gộc hoặc bằng bom xăng, đưa tới t́nh trạng bạo động đổ máu hoặc nội chiến gây nhiều tang tóc cho dân chúng, không thể lường trước được. Việc sử dụng những h́nh thức ôn hoà chỉ hữu hiệu tại các nước dân chủ mà thôi. Bởi vậy tại các nước dân chủ thực sự, không bao giờ xẩy ra những cuộc cách mạng đổ máu. Trái lại, tại các nước độc tài quân phiệt hay độc tài Cộng Sản, nếu không có cuộc cách mạng đổ máu, thật khó mà có thể lật đổ được chính quyền của những nước này nhất là tại những nước theo chế độ Cộng Sản. Bởi v́ mặc dầu những nước này cũng đă kư vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và cũng có ghi vào bản Hiến Pháp của họ. Nhưng trên thực tế, mọi quyền tự do đều bị cấm đoán. Không những thế, họ c̣n đặt ra những điều luật để hù dọa như "điều 79, khoản 1 bộ Luật H́nh Sự" của Việt Cộng. Điều khoàn này quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân th́ bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, th́ bị phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử h́nh” để hù họa những người muốn xử dụng “Quyền lật đổ chính quyền”.


 Tóm lại, khi một chế độ không biết chăm lo săn sóc quyền lợi của người dân, không biết bảo vệ quyền lợi của người dân mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân, không biết lo cho tương lai của dân tộc, tiền đồ của đất nước th́ người dân có quyền lật đổ chính quyền. Khi mà một chế độ chỉ biết vâng lời ngoại bang, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang và gây ra không biết là bao nhiêu cảnh tang thương, chết chóc cho dân tộc như bọn lănh đạo Cộng Sản Việt Nam hiện nay đă làm th́ đó là một chế độ phản dân, hại nước, người dân lại càng có lư do chính đáng lật đổ chúng để xây dựng một chế độ tốt đẹp hơn. V́ thế việc lật đổ chính quyền Cộng Sản Việt Nam hiện nay, không những là một quyền tối thượng của người dân mà c̣n là một nhiệm vụ cao cả của người dân.Bọn lănh đạo Cộng Sản Việt Nam không thể vịn vào bất cứ lư do ǵ để trừng phạt hay cản trở người dân yêu nước khi xử dụng quyền tối thượng này.


 Bọn lănh đạo Cộng Sản Việt Nam hăy mau mau tỉnh ngộ, đừng để cuộc cách mạng đổ máu xẩy ra. Nếu không, chắc chắn sẽ không một lực lượng nào có thể ngăn chặn nổi sự giận dữ cuồng nộ của người dân. Chắc chắn lúc đó người dân sẽ, không những t́m những tên đầu sỏ Việt Cộng, những tên Công An Việt Cộng ác ôn để thanh toán mà c̣n thanh toán luôn cả các tên đảng viên cộng sản, các tên công an, và có khi cả các thân nhân của bọn chúng và cả những tên đă dựa hơi bọn chúng để làm giầu hay để ức hiếp dân lành.

 


Luật sư Lê Duy San

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính