Nhận diện các vị Vọng Các công thần theo Công giáo trong thời đầu triều Nguyễn

 

- Phần kết -

 

 

Ngô Anh Lân, S.J

 

 

 

Những nhân vật khai quốc công thần theo Công giáo

 

Phaolô Hồ Văn Nghị (?-1810)

Linh mục Phaolô Hồ Văn Nghị không có tên trong Liệt truyện dành cho các vị “Vọng Các công thần” mà chỉ được nhắc đến một lần trong Thực lục.[1] Theo chính sử nhà Nguyễn, Linh mục Nghị chỉ là một chấm phá nhỏ trong lịch sử vào dịp Đức giám mục Bá Đa Lộc đem hoàng tử Cảnh qua Tây năm 1783. Bộ lịch sử gần đây th́ lại cho ông là một thừa sai Pháp mang tên Việt.[2] May mắn là khi so sánh với Sử kư, ông là rường mối để ḍ t́m thêm các nhân vật Công giáo “ẩn” trong chính-trường nhà Nguyễn trung hưng.

 

Sử kư thuật lại chi tiết t́nh cảnh bi đát của cậu Nguyễn Phước Ánh sau khi Định vưong và đoàn hộ giá bị quân Tây Sơn thảm sát năm 1777. Trong ṿng ba tháng trời, cậu thiếu niên này cùng một người hầu trốn trên một chiếc ghe lênh đênh từ rừng lau này qua rừng lau kia. Sử kư tiếp với chuyện gặp Linh mục Hồ Văn Nghị:

T́nh cờ gặp thuyền ông Phao-lồ là thầy cả bổn-quốc, cũng đang chạy giặc. Bấy giờ ông Nguyễn-anh tuy chưa quen biết thầy Phao-lồ, song đă biết là thầy đạo, th́ xưng ḿnh là người nọ người kia, và xin thầy Phao-lồ cứu. Thầy Phao-lồ liền chịu và đem qua giấu trong thuyền ḿnh và chèo thẳng về Hà-Tiên giao người cho Đức-Thầy Vê-rô. Khi ấy Đức-Thầy đă sang bên Cao-mên, cho nên thầy cả Phao-lồ vội vàng gởi tin cho người biết sự ấy cho kịp.[3]

 

Qua đoạn này, Sử kư cho thấy cậu hoàng trẻ này trước đây đă có dịp gặp Linh mục Hồ Văn Nghị dù không biết thân thế của ông, do đó khi nhận ra ông Nghị là linh mục cậu cảm thấy an toàn để xưng danh tánh và nhờ giúp. Một điểm khác cũng nên chú ư là người đầu tiên cậu hoàng này gặp là Linh mục Nghị chứ chưa phải là vị giám mục thừa sai v́ theo Sử kư vị giám mục c̣n đang chạy giặc bên Chân Lạp. Sử kư tiếp:

Vậy qua một tháng, th́ chẳng c̣n lẽ nào mà giấu trong nhà nữa, nên ông Phao-lồ phải đưa ông Nguyễn-anh lên trên rừng nơi vắng vẻ. Đoạn hoặc ông Phao-lồ hoặc thầy giảng kia, tên là ông Toán, thỉnh thoản[g] lén bới cho mà ăn thôi. Vậy ông Phao-lồ chịu khó mà liệu cách khôn ngoan thể ấy đặng hai ba tháng, th́ có công với ông Nguyễn-anh cả thể lắm. V́ chưng nếu chẳng có thầy cả ấy th́ ông Nguyễn-anh chẳng khỏi phải bắt.[4]

 

Sau vài tháng ẩn dấu tại Rạch Giá, quân trinh thám Tây Sơn ḍ biết được vùng lẩn trốn của cậu, nhưng vừa kịp Đức giám mục Bá Đa Lộc trở về và đứng ra che chở cậu Nguyễn Phước Ánh thay cho Linh mục Hồ Văn Nghị.[5] Sự kiện này được nhắc lại bởi Thừa sai Julien Faulet (1741-1783) trong bức thư gởi năm 1780: “Chính cha Phaolô đă nuôi và che dấu ông hoàng trẻ trong ghe của ḿnh. Cha cũng giới thiệu ông hoàng bé này với Đức thầy và đạo thánh của chúng ta.”[6]

 

Vai tṛ quan trọng và là cầu nối đầu tiên của Linh mục Hồ Văn Nghị trong việc liên hệ giữa giai cấp lănh đạo nhà Nguyễn và nhóm thiểu số Công giáo được chính Đức giám mục Bá Đá Lộc ghi lại. Trong bức thư tự minh oan cho ḿnh trước những lời chỉ trích từ các thừa sai khác về việc vị giám mục đă nhúng tay quá nhiều vào chuyện chính trị điạ phương và gây lan tiếng xấu cho cả miền truyền giáo, vị giám mục nói ông chỉ giữ lịch sự và đáp lễ lại vua quan nhà Nguyễn mà thôi; theo lời vị giám mục, chính Nguyễn vương mới là bên chủ động. Cùng trong thư đó, Đức giám mục Bá Đa Lộc dù không nêu đích danh Linh mục Hồ Văn Nghị như trong thư của Julien Faulet, nhưng vị giám mục đă xác nhận vai tṛ quan trọng của một thừa sai gốc Đàng-trong, “un missionnaire cochinchinois;” người đă “cứu ông hoàng… và sau được mấy người Công giáo thăm nuôi hơn cả tháng.”[7] Cái lư thú cần chú ư trong lá thư của Đức giám mục Bá Đa Lộc khi gọi Linh mục Hồ Văn Nghị với danh hiệu “thừa sai” (un missionnaire) chứ không dùng cụm từ “linh mục bản xứ” (un prêtre du pays hay là un prête indigene) mà chúng ta hay gặp trong các bản báo cáo hay thư từ của các thừa sai ngoại quốc thời đó. Nói cách khác, chính vị giám mục cũng có một niềm kính trọng đặc biệt với Linh mục Nghị. Theo cách xưng hô, Đức giám mục Bá Đa Lộc xem vị linh mục này như một đồng liêu chứ không phải là một phụ tá của ḿnh. Đây là một điểm khác nhiều với cách nh́n thường thấy của các thừa sai đến các linh mục bản xứ. Nguyễn Phước Ánh cũng nhận ra vai tṛ quan trọng của Linh mục Hồ Văn Nghị và nhóm Công giáo tản mát trong vùng trải dài từ Nam bộ qua đến Chân Lạp. Nguyễn vương đă nhờ linh mục này kêu gọi nhóm Công giáo hỗ trợ đứng về phía nhà Nguyễn trong những năm đầu tập tễnh của Nam triều và khi khí thế của Tây Sơn vẫn c̣n đang thế mạnh và đang làm chủ t́nh h́nh Đàng Trong cũ.[8] Sử kư trong phần tóm tắt tiểu sử Linh mục Hồ Văn Nghị khi ông mất chỉ sau vài tháng nhưng cùng năm khi Đông cung Cảnh qua đời:

Nguyên ông ấy có công cả thể, và có tiếng khôn ngoan sốt sắng đạo đức lắm. Người làm chơn tay Đức-Thầy Vê-rô mọi bề như đă nói trước nầy. Vua thương tiếc ông ấy lắm. Khi nào Đức-Thầy Vê-rô có việc ǵ riêng tâu vua, hoặc người chẳng đi đặng, th́ sai ông Phao-lồ tâu thay v́ ḿnh. Khi ông ấy qua đời, th́ dầu vua dầu các bổn đạo ai ai đều đem ḷng thương tiếc lắm.[9]

 

Trong lời tóm tắt tiểu sử trên, Sử kư cho thấy Linh mục Hồ Văn Nghị là đường dây liên lạc quan trọng giữa nhóm Công giáo từ chức sắc cho đến giáo dân và với lớp lănh đạo chung quanh Nguyễn vương. Linh mục Hồ Văn Nghị cũng sẽ là ch́a khoá mở ra các cánh cửa trong sử liệu mà ít ai để ư để nhận diện thêm các nhân vật Công giáo khác trong giai đoạn nhà Nguyễn trung hưng. Hơn nữa, qua sử liệu chính sử và các tư liệu của các thừa sai bổ sung và xác tín các diễn tiến được ghi chép trong Sử kư. Điều này củng cố hơn tính sử liệu chính xác khá cao của tập dă sử 1879 này. Đây là nguồn sử liệu mới mà bài viết này dùng làm gốc để so sánh với các sử liệu thường được dùng lâu nay, và triển khai cho việc truy tầm gốc tích các nhân vật Công giáo khác trong giai đoạn đầu triều Nguyễn.

 

Phạm Văn Nhân (1740-1811) và Nguyễn Văn Liêm/Khiêm (1759-1815)

          Trong một câu Thực lục vắn vỏi về đoàn sứ bộ tháp tùng hoàng tử Cảnh và Đức giám mục Bá Đa Lộc nhưng v́ nhờ nhắc đến Linh mục Hồ Văn Nghị, chúng ta có cơ hội gần như chắc chắn để xác định hai vị “Vọng Các công thần” khác trong thời gian “chiến sự” đă theo Công giáo. “Bá Đa Lộc đem hoàng cả Cảnh sang nước Đại Tây, Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Liêm cho Hồ Văn Nghị phụng biểu về hành tại ở Vọng Các báo tin, rồi ở lại hầu vua.”[10] Sử sách sau này thường chỉ để ư tới vị giám mục và hoàng tử Cảnh và thường giả định một chuyến đi thông suốt của đoàn sứ Nam qua Pháp triều. Như đă viết ở đoạn “Chuyện dài chíến sự” ở trên, đoàn sứ gặp nhiều trắc trở, nghi ngờ và ngăn chận từ chính các quan chức thuộc địa tại Pondichéry (Tiểu Tây). Gần hai năm sau vụ “gởi con và thỏi vàng” của đầu năm 1783 Quư Măo, sau cuộc thua tan tành tại Rạch Gầm Xoài Mút, rồi đến cuối 1784 phái đoàn mới đến được Pondichéry. Theo thư của Thống chế de Castries, đầu tháng bảy năm 1785, phái đoàn Nam triều vẫn c̣n kẹt ở Ấn Độ cho đến chừng giữa năm 1786. Đến tháng hai năm 1787, đoàn sứ bộ mới cập bến Lorient của Pháp quốc.[11] Những điểm mấu này quan trọng, để mở khóa một lá thư của Đức giám mục Bá Đa Lộc ghi ngày 20 tháng 3 năm 1785.[12]

 

          Nhưng trước khi mở khóa lá thư này, chúng ta cần có một cái nh́n bao quát hoàn cảnh dẫn đến bức thư đặc biệt này. Khi đoàn sứ Nam-triều đến được Pondichéry, bên cạnh gần hơn kém ba mươi chủng sinh, một đoàn tùy tùng hộ tống hoàng tử Cảnh và sự hướng dẫn của Đức giám mục Bá Đa Lộc, Linh mục Hồ Văn Nghị, và Linh mục Trần Văn Học. Bên quan lại th́ có Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Liêm, và cậu của hoàng tử là Tống Phước Sóc và vài gia nhân tùy tùng.[13] Nhưng v́ không được ủng hộ đắc lực của toàn quyền Pháp tại Pondichéry nhất là chi phí cho chuyến đi Pháp này, nên đoàn tháp tùng ban đầu phải cắt xuống và nhiều người trong đó có cả hai vị quan, Linh mục Nghị và Linh mục Học.[14] Theo Sử kư trước khi phái đoàn “hụt” này quay về lại với Nguyễn vương, họ đă được Đức giám mục Bá Đa Lộc dạy về đạo và nhận phép rửa tội:

Đầu năm 1786, là Cảnh Hưng tứ thập ngũ niên, cùng là năm Bính Ngọ, th́ người dọn ḿnh đi sang Tây làm cùng con đầu ḷng vua An-nam. Khi ấy Đông cung mới sáu bảy tuổi. Vua cũng cho bốn người An Nam khác theo giúp con, mà trong bốn người An Nam ấy th́ có em bà Hoàng hậu, tên là Sóc. Lại có hai quan lớn vua sai làm thầy dạy con. Bấy giờ người ấy chưa có đạo; nhưng mà bỡi đă sẵn ḷng trở lại, th́ Đức Thầy Vê-rô làm phép rửa tội cho, cùng ra sức dạy dỗ cho thuộc kinh mà sinh nên ḷng mộ sự đạo.[15]

 

Nhưng lời văn của Sử kư không rơ, “bấy giờ người ấy chưa có đạo; nhưng mà bỡi đă sẵn ḷng trở lại, th́ Đức Thầy Vê-rô làm phép rửa tội cho,” theo đây th́ có thể chỉ có Tống Phước Sóc nhập đạo Công giáo mà thôi. Rồi khi đoàn sứ bộ về lại Gia Định năm 1789, Sử kư đề cập vài lần chuyện Đông cung mộ đạo, nhưng “Đức Thầy biết ư vua và các quan chẳng muốn cho Đông cung theo đạo, th́ chẳng dám dạy dỗ lẽ đạo.”[16] V́ bị canh chừng ḍm ngó, Đông cung Cảnh “xin Đức-thầy dạy cho biết cách rửa tội, để sau hoặc ḿnh phải ốm đau mà chẳng có ai có đạo cho rửa tội cho, th́ ḿnh đặng bày cho kẻ khác biết đàng làm phép ấy cho ḿnh.[17] Vậy theo Sử kư, năm 1786, chúng ta chỉ có thể chắc hai chuyện: Tống Phước Sóc đă được rửa tội, và hoàng tử Cảnh th́ không. Nhưng đây là ch́a khoá của bức thư do Đức giám mục Bá Đa Lộc viết ngày 20 tháng ba năm 1785, giám mục ghi: “Tôi đă đến Pondichéry vào cuối tháng hai của 1784… Hai vị quan và sáu binh sĩ hộ tống đứa trẻ đă được dạy kỹ lưỡng và họ sẽ được rửa tội vào đêm vọng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.”[18] Vậy chúng ta có thể chắc là mọi người trong đoàn sứ bộ Nam triều đă gia nhập Công giáo, ngoại trừ hoàng tử Cảnh. Chuyện hoàng tử Cảnh không có rửa tội trong dịp đó cũng hợp lư và hợp giáo luật. Theo giáo luật, v́ cậu ta c̣n nhỏ tuổi, th́ cậu chỉ được rửa tội khi có sự đồng ư của cha mẹ hay chỉ trong trường hợp nguy cập đến tính mạng.

 

Ngoài đôi lời vắn tắt từ Sử kư, chúng ta không biết ǵ hơn về Tống Phước Sóc. Nhưng Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Liêm tiếp tục nắm giữ chức vụ quan trọng sau khi Gia Long xưng đế và lập ra triều Nguyễn. Cho đến năm 1914, bài vị của Phạm Văn Nhân vẫn c̣n thấy được thờ trong Thế Miếu cùng với mười bảy vị mà triều Nguyễn tôn kính vào bậc khai quốc công thần.[19] Liệt truyện th́ c̣n cho biết thêm là cả hai vị quan này được làm thông gia với Nguyễn Phước Ánh. Cả hai vị quan này, mỗi người đều có con trai làm pḥ mă của Gia Long.[20] Chúng ta không biết được đời sống nội tâm và giữ đạo giáo của các gia đ́nh này trong thời cấm đạo như thế nào v́ giáo sử chỉ nói về các vị chịu tử đạo. Có thể v́ thuộc thế giá hoàng tộc của nhà Nguyễn, gia đ́nh con cháu họ đă âm thầm giữ đạo và tránh được các hạch sách truy nă mà các thường dân khác phải gánh chịu.

 

Tống Phước Đạm (?-1794)

Việc cải đạo qua Công giáo của Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Liêm không gây nhiều chú ư và xáo động lớn trong triều Gia-định như trường hợp của Tống Phước Đạm. Sử kư không nói ǵ nhiều hay ngay cả nhắc đến Phạm Văn Nhân hay Nguyễn Văn Liêm, nhưng có nhiều mẩu chuyện của một vị quan lớn, “Ông Giám,” xưa kia “thuở đầu th́ ghét đạo, mà bỡi đă nói lẽ đạo với Đức-Thầy nhiều lần, th́ quyết trở lại chịu đạo.”[21] Sử kư đôi khi lại nhắc đến một vị khác “Ông Dinh trung.” Nhưng rất có thể hai chức danh này đều về một người v́ Sử kư nhiều lúc đề cập đến cùng những sự kiện khá tường tự trùng hợp nhưng lúc nói về “Ông Giám” lúc gọi là “Ông Dinh trung.” Bên cạnh Sử kư, thơ của vị Thừa sai Jacques Liot (1751-1811) viết vào tháng sáu 1795 cũng nhắc đến chuyện một vị quan mới mất cùng tên là “Ông Giám.”[22] Theo Liệt truyện, khi Nguyễn vương tái lập lại nam-triều Gia Định năm 1788, vương đă phong cho Tống Phước Đạm chức “Cai đội Giám quân Trung doanh.”[23] Và, Liệt truyện cũng cho biết là Tống Phước Đạm mất vào năm 1794 Giáp Dần.[24] Năm này trùng với thông tin trong thư của Thừa sai Liot viết về cái chết của “Ông Giám” vào hè năm sau đó. Thêm nữa, trong dịp kéo quân ra đánh Phú Xuân, Thực lục ghi Nguyễn vương đă “sai Đông cung nguyên soái Cảnh quận công trấn thành Diên Khánh, cho Bá Đa Lộc và bọn thị học đi theo. Khiến Phó tướng Tả quân Phạm Văn Nhân, Giám quân Trung dinh Tống Phước Đạm…, cùng các tướng sĩ đi theo để điều bát.”[25] Do đó, chúng ta có thể đưa đến xác định là chức danh “Ông Giám” hay “Ông Dinh-trung” của Sử kư đều là một người: Giám quân Trung doanh Tống Phước Đạm.

 

Tống Phước Đạm theo Công giáo vào những năm cuối đời của ông ta và với vị trí cao trong tân triều, hành động của ông đă tạo ra nhiều phản ứng mạnh hơn cả việc hoàng tử Cảnh từ chối bái lạy bàn thờ tổ tiên khi mới đi sứ tây về. Tống Phước Đạm đă tham gia triều chánh từ thời Nguyễn Phước Khoát (1714-1765) và Nguyễn Phước Thuần (1754-1777).[26] Khi nhà Nguyễn bị kẹt trong thế gọng ḱm tấn công của nhà Trịnh từ bắc xuống và của Tây Sơn từ nam lên, chúa Nguyễn đă phải bỏ Phú Xuân vào nam. Trong t́nh h́nh nguy cập, Nguyễn Phước Thuần đă cấp cho Tống Phước Đạm lên chức Trung dinh Giám quân, chức mà sau này Nguyễn Phước Ánh đă phong lại cho ông khi nắm lại được đất Gia Định.[27]

 

Để thấy thêm vài tṛ quan trọng của Tống Phước Đạm trong tổ chức triều chánh, chúng ta có thể nh́n tổ chức hành chánh ban đầu của triều Gia Định. Khi mới thành lập, đất Gia Định được chia làm ba dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ. Nhưng v́ thấy yếu điểm quan trọng cho cả ba dinh đó, Nguyễn vương lập ra một dinh mới, Trường Đồn mà sau đổi tên một lần nữa thành dinh Trấn Định. Và, không ai khác mà chính Tống Phước Đạm được cử ra trấn giữ dinh này để cai quản mọi công việc từ binh cho đến dân.[28] Chúng ta cũng có thể thấy được vị thế của ông dựa theo chức tước triều đ́nh đă truy tặng cho ông khi mất. Minh-mạng sắc phong ông tước “Tá vận Công thần, Vinh lộc Đại phu, Hiệp biện Đại học sĩ, Thiếu sư, kiêm Thái tử Thái sư.”[29] Chỉ trong bốn chữ cuối của tước này, ông ta được nằm trong hàng nhất phẩm trong cửu phẩm. Và, c̣n hơn thế nữa, trong hàng nhất phẩm, lại chia ra mười đẳng cấp: Thái sư, Thiếu sư, Thái phó, Thiếu phó, Thái bảo, Thiếu bảo, Cần chánh điện đại học sĩ, Văn minh điện đại học sĩ, Vơ hiền đại học sĩ,Đông các đại học sĩ.[30] Vậy theo trong mười đẳng cấp trong hàng nhất phẩm, ông được truy tặng cả hai cái cao nhất là “Thiếu sư” và “Thái tử Thái sư.” Có thể v́ chức vụ cao này, Sử kư hay nói về chuyện của ông ta hơn là nhắc tới Phạm Văn Nhân hay Nguyễn Văn Liêm v́ có thể vị trí quyền hành ông chỉ sau Nguyễn vương và Đông cung.

 

Nhưng từ khi gia nhập đạo Công giáo, Tống Phước Đạm đă quá hăng hái tuyên xưng và biểu lộ thái độ chống lại các lễ nghi mà ông cho rằng đạo mới của ông đă không cho phép. Sử kư thuật lại chuyện ông từ chối lạy bàn thờ tổ tiên của nhà Nguyễn và đôi co với Nguyễn vương. Trong cuộc tranh căi này, Nguyễn vương ngạc nhiên v́ vị lăo tướng này lại không làm các lễ nghi mà chính Đức giám mục Bá Đa Lộc đă du di cho phép. Tống Phước Đạm căi lại: “‘Giám mục nói chẳng có tội sao được?’ Vua rằng: ‘Trẫm hỏi lại Thầy Giám mục.’” Khi thấy cuộc tranh co không đi đến đâu, Nguyễn vương phán: “‘Thằng nầy là nghịch thần.’ Đoạn th́ vua nói qua đều khác.”[31] Tống Phước Đạm mất không lâu sau đó và trước khi Nguyễn vương lấy lại Phú Xuân. Không như Phạm Văn Nhân hay Nguyễn Văn Liêm có con trai làm pḥ mă, ông Phước Đạm không có con nối ḍng. Theo Liệt truyện, vị lăo tướng này có “tật ngầm,” thứ nhất là “tính sợ súng” và thứ hai là “không gần đàn bà.”[32]

 

Nhưng nh́n chung qua việc nhiều vơ tướng “Vọng Các công thần” theo Công giáo, chúng ta có thể h́nh dung một làn sóng ngầm từ từ hợp lực để tẩy trừ nhóm thiểu số tôn giáo này ngay trong nội bộ của triều Gia Định. Theo nhăn quan tích cực th́ biện luận chặt chẽ và hợp lư của giáo lư thần học của Công giáo đă khiến nhiều người tin theo; tiêu cực mà nh́n th́ đây là cạnh tranh nguy hiểm với chính sách của nhà cầm quyền v́ khả năng mê hoặc của tôn giáo này không chỉ trong dân ngu muội mà ngay cả thành phần cột trụ của triều đ́nh. Nhóm Công giáo thiểu số của “chuyện thời chiến-sự” trở thành một liên hệ quá khứ bất tiện cho triều mới của Nguyễn trung hưng.

 

Khó có thể biết được chính xác con số và những ai trong triều đ́nh Gia Định và sau đó là triều đ́nh Huế là dân theo đạo Công giáo v́ chính sách tẩy xóa “Gia Tô tả đạo” của các đời sau vua Gia Long. Để tránh sự phiền phức nhiều người khôn khéo dấu kín được lư lịch đức tin của ḿnh. Điển h́nh trong số các vị được phong tử đạo có những vị làm trong triều lâu năm sau mới bị “lộ” như vụ Đội trưởng Cấm vệ Phaolô Tống Viết Bường (1773?-1833) hay quan Thái bộc Tự khanh Micae Hồ Đ́nh Hy (1808-1857). Trong nhóm hoàng thân quốc thích, chắc cũng có vài người ẩn danh như bài nghiên cứu này đă t́m ra người cậu của Gia Long là Tống Phước Sóc. Các vị công chúa và là con dâu của Phạm Văn Nhân và Nguyễn Văn Liêm có theo Công giáo hay không? Khó có thể xác tín, nhưng theo phép đạo thời ấy khá khắt khe, hôn nhân Công giáo chỉ được phép khi cả cô dâu chú rể đều đă chịu rửa tội. Nhưng trong một bức thư của vị thánh Thừa sai François Jaccard “Phan” (Ninh) (1799-1838) kể dịp mừng thọ bốn mươi của Minh Mạng trong địa hạt thần kinh có cho thấy khả thể các vị vương tôn công chúa đă theo và giữ đạo. Vị thừa sai lúc này đang được triều đ́nh bổ làm quan thất phẩm thông dịch ở Hành nhân ty, nhân dịp này đă có tổ chức một buổi lễ công khai cầu nguyện cho hoàng đế. Trong thư, vị thừa sai khoe với bề trên “nhiều vị quan văn vơ, ngay cả một người cháu trai và người chị của vua, đều trầm trồ nghi thức uy nghiêm và trang trọng của buổi lễ với số đông người tham dự chưa từng thấy bao giờ.”[33] Không thể nói được cách chắc chắn đây là những người đến xem chỉ v́ ṭ ṃ, hay là đă tham dự trong vai tṛ tín hữu. Nhưng chúng có thể nói là cho đến thời đầu nhà Nguyễn, nhóm Công giáo chỉ là một “thiểu số ẩn” (invisible minority) trong dân chúng. “Ẩn” là v́ trước đây họ chưa đạt tới được số đông đáng kể để thu hút sự chú ư của giai cấp cầm quyền. Ngăn cấm cũng đă săy ra nhưng chỉ là những đợt bách hại và rồi lại cho tự do hành đạo. Nhưng, từ thời “chiến sự” của những năm tháng “Gia Long tẩu quốc,” người Công giáo “thiểu số ẩn” trở thành “thiểu số nổi” (a visible minority). “Nổi” là v́ vài người trong nhóm họ trở thành hay vào được trong nội bộ của giới thống trị như tầng lớp quan lại và ngay cả vài thành viên trong hoàng phái. Và, đây là hiện tượng xă hội (a social phenomenon) hay thường xăy ra trong lịch sử nhân loại, số phận của những nhóm “thiểu số nổi” dễ trở thành tâm điểm của kỳ thị và phân biệt đối xử từ giới cầm quyền và là nạn nhân của sách nhiễu bạo động từ những đợt quần chúng tự phát khi t́nh thế xă hội bất ổn. Bách hại trở thành chính sách v́ nhóm Công giáo đă trở nên thế lực nổi cộm theo nhăn quang chính trị.

 

 

Kết Luận

 

          Chúng ta có những nguồn tài liệu chính sử rất phong phú từ cuối thời Đàng Trong-Đàng Ngoài tới nay. Đây là những kho tàng vô giá được biên tu soạn thảo bởi các sử gia được đào tạo trong các môi trường giáo dục chính thống. Bên giáo sử, truyền thống đạo đức viết về hạnh các đấng tử đạo thường để ư tới các gương mà Phúc Âm gọi là những ngọn đèn cháy sáng đáng được “đặt để trên giá đèn.” Nhưng bài nghiên cứu này cũng mong đóng góp nhỏ để chúng ta nếm được chút ư vị của những người âm thầm nhẫn nhục sống đức tin như “men trong đấu bột” dù họ không nằm trong danh sách hiển thánh. Đó là Linh mục bản xứ Phaolô Hồ Văn Nghị hay Linh mục Trần Văn Học, các vị vơ quan như Tống Phước Đạm, Phạm Văn Nhân, hay Nguyễn Văn Liêm, hay những người hoàng thân quốc thích như Tống Phước Sóc. Nhưng chúng ta cũng thấy, có nhiều sự kiện vẫn cần được rà soát lại và bổ sung thêm từ các tài liệu trong và ngoài nước. Nguồn dă sử như, Sử kư Đại nam Việt quấc triều, như bài nghiên cứu này khai thác, kiểm chứng, và dẫn chứng giúp chúng ta thấy được những góc cạnh sống động hơn mà chính sử không để ư đến. Chắc c̣n nhiều tài liệu gia phả, thông sử và dă sử khác c̣n được trân giữ trong các gia đ́nh Công giáo Huế nay rải rác xa gần trong và ngoài nước, đang chờ đợi được thu tập và hệ thống hoá hơn qua phương tiện số hóa và vi tính hiện nay, và rồi mong đợi thêm những nghiên cứu góc nh́n mới từ giới học giả. Đối với tang lễ của Đức giám mục Bá Đa Lộc có cả một trăm hai chục thước voi trong đoàn rước, bài nghiên cứu này chỉ xin được góp một phần nhỏ như trong chuyện sĩ tử xem voi.

 

 

Phụ Lục

 

 

Thứ tự niên đại và sự kiện

 

·        Giáp Ngọ (1774): Phú Xuân thất thủ

·        Đinh Dậu (1777): Tây Sơn chiếm Gia Định lần một

·        Mậu Tuất (1778): Chúa Nguyễn dành lại Gia Định

·        Canh Tư (1780):    Nguyễn Phước Ánh xưng Vương

·        Nhâm Dần (1782):          Tây Sơn chiếm Gia Định lần hai

·        Quư Măo (1783):   Tây Sơn chiếm Gia Định lần ba

·        Giáp Th́n (1784): Nguyễn Vương cầu viện Xiêm

·        Ất Tỵ (1785):                  Sứ bộ rời Pondichéry, Ấn-độ

·        Đinh Mùi (1787): Sứ bộ đến Pháp

·        Mậu Thân (1788): Nguyễn Vương tái lập Nam-triều

·        Kỷ Dậu (1789):     Sứ bộ từ Pháp về lại Gia Định

·        Tân Hợi (1791):    Hoàng tử Đảm (Minh Mạng) ra đời

·        Giáp Dần (1794): Tống Phước Đảm qua đời

·        Kỷ Tỵ (1799):       Đức giám mục Bá Đa Lộc qua đời

·        Nhâm Tuất (1802):         Năm thứ nhất Gia Long

 

Thừa sai được nhắc đến trong bài

 

·        Lm. Julien Faulet                                                  (1741-1783)

·        Lm. Jacques Liot                                                   (1751-1811)

·        Gm. Joseph Pierre Pigneau[x] de Béhaine (Bá Đa Lộc)    (1741-1799)

 

Người Việt Công giáo có liên hệ với đầu triều Nguyễn

 

·        Lm. Phaolô Hồ Văn Nghị                                      (? – 1810)

·        Nguyễn Văn Liêm/Khiêm                                      (1759-1815)

·        Phạm Văn Nhơn/Nhân                                          (1740-1811)

·        Tống Phước Đạm                                                  (? – 1794)

·        Tống Phước Sóc                                                    (? - ?)

·        Lm. Trần Văn Học                                                (? – 1821)

 

 

Tên địa dư nước ngoài

·        Chân Lạp (Cao Mên)      Campuchia

·        Đại Tây                 Pháp quốc

·        Tiểu Tây               Pondichéry, Ấn Độ

·        Vọng Các              Bangkok

·        Xiêm                     Thái Lan

 

 

 

Thư Mục

 

 

Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions-Étrangères, Tome 2, Téqui, Paris, 1894.

 

Alexander Barton Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Harvard University Press, Cambrige, Mass., 1971.

 

Cao Thế Dung, Việt nam Công giáo sử Tân biên, Quyển II, Thời Phát triển và Bách đạo, Cơ sở Truyền thông Dân Chúa, Gretna, 2002.

 

Catherine Marin, Le Role des Missionnaires Francais en Cochinchine aux XVII et XVIII Siècles, Églises D’Asie, Paris, 1999.

 

François Jaccard, “Lettre de M. Jaccard, miss. en Cochinchine, à M. Langlois, supérieur du séminaire des Missions étrangères,” Annales de l’Association de la propagation de la foi 5 (1831): 404-407.

 

L’Institute de recherche France-Asie. “Pierre Joseph Pigneaux de Béhaine,” tiếp cận ngày 5 tháng 10 năm 2020,

          https://www.irfa.paris/fr/fiches-individuelles/pigneaux-de-ba-c-haine.

 

Jacques Liot, “Lettre de Mons. Liot, Missionionaire Apostolique de Cochinchine à MM.

Boiret et Descourvieres, Lettres édifiantes et curieuses, J. P. Cochlan, Londres, 1797.

 

Jean Felix Onésime Luquet, Lettres a Mgr l’Évêque de Langres sur la Congrégation des Missions Étrangères, Gaume Frères, Paris, 1842.

 

Keith W. Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press, Cambridge, 2013.

 

L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Bulletin des amis du vieux Huế 1, no.2 (Avril-Juin 1914): 121-144.

 

Léopold Miche Cardière, “Les Français au service de Gia-Long: Nguyễn Ánh et la mission, documents inédits,” Bulletin des amis du vieux Hué 13, no.1 (Jan.-Mar. 1926): 1-50.

 

Louis-Eugène Louvet, Mgr. D’Adran: Missionnaire et Patriote, Librairie Delhomme & Briguet, Paris, 1900.

 

Nguyễn Quang Hưng, Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802-1883), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2007.

Pierre Pigneau[x] de Béhaine, “Extrait d’une letter de monseigneur l’évêque d’Adran, vicaire apostolique de Cochinchine, aux directeurs du séminaire des Missions Étrangères, écrite de Pondichéry, le 20 mars 1785,” Lettres édifiantes et curieuses concernant l’Asie, l’Afrique et l’Amérique, avec quelques relations Nouvelles des missions, et des notes géographiques et historiques, vol. 4. Sociéte du Panthéon Littéraire, Paris, 1843.

 

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện. 4 tập, Nxb. Thuận Hoá, Viện Sử học Việt Nam, Huế, 2006.

 

_______, Đại Nam thực lục, 10 tập, Nxb. Giáo dục, Viện Sử học, Hà Nội, 2006.

 

Stanilas Lefebvre, “Lettre III.” Bulletin des amis du vieux Hué 13, no. 4 (Oct. – Déc. 1926): 366-368.

 

_______ . “Lettre IV.” Bulletin des amis du vieux Hué 13, no. 4 (Oct.-Déc. 1926): 368-369.

 

Sử kư Đại Nam Việt Quấc triều [SKĐNVQT], in lần thứ hai, Tân Định, Sài G̣n, 1885.

 

Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Việt Hương, Sài G̣n, 1973.

 

Trần Mỹ Vân, A Vietnamese Royal Exile in Japan: Prince Cường Để (1882-1951), Routledge, New York, 2005.

 

Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược. 2 volumes, Cơ sở xb. Đại Nam, Sài G̣n, 1971.

 

Trương Bá Cần, Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam, Tập 1, Nxb.Tôn giáo, Hà Nội, 2008.

 

Viện Hàn lâm Khoa học Xă hội Việt nam, Lịch sử Việt Nam. Tập 4, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, chủ biên Trần Thị Vinh, Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội, 2017.



[1] Thực lục quyển 2, tập I, Sđd, tr. 226.

[2] Viện Hàn lâm Khoa học Xă hội Việt nam, Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, tập 4, cb. Trần Thị Vinh, Sđd, tr. 451.

[3] Sử kư, Sđd, tr. 17-18.

[4] Sử kư, Sđd, tr. 17-18.

[5] Sử kư, Sđd, tr. 17-18.

[6] Catherin Marin, Le Role des Missionnaires Francais en Cochinchine aux XVII et XVIII siècles, Églises d’Asie, Paris, 1999, tr. 131.

[7] Catherin Marin, Le Role des Missionnaires Français en Cochinchine aux XVII et XVIII siècles, Sđd, tr. 132.

[8] Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt nam, tập I, Sđd, tr.316.

[9] Sử kư, in lần hai (Sài G̣n: Tân Định, 1885), 135-136.

[10] Thực lục quyển 2, tập I, Sđd, tr. 218, 226; Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt nam, tập I, Sđd, tr. 330; Jean Felix Onésime Luquet, Lettres a Mgr l’Évêque de Langres, sur la Congrégation des Missions Étrangères, Gaume Frères, Paris, 1842, tr. 358-384.

[11] Adrien Launay, Histoire générale de la Sociéte des Missions-Étrangères, tập II, Sđd, tr.236.

[12] Pierre Pigneau[x] de Béhaine, LEC, vol. 4 (1843), tr. 623.

[13] Sử kư, Sđd, tr., 44; Thực lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 218, 223; L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Bulletin des amis du vieux Huế 1, no.2 (Avril-Juin 1914): tr. 136.

[14] Thực lục quyển 2, tập I, Sđd, tr. 226; Thực lục, quyển 12, tập I, Sđd, tr. 312.

[15] Sử kư, Sđd, tr. 44.

[16] Sử kư, Sđd, tr. 86.

[17] Sử kư, Sđd, tr. 88.

[18] Pierre Pigneau[x] de Béhaine, LEC, vol. 4 (1843): 623.

[19] L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Sđd, tr. 137; Thực lục, quyển 27, tập II, Sđd, tr., 354.

[20] Liệt truyện, quyển 3, tập II, Sđd, tr., 76; Liệt truyện, quyển 7, tập II, Sđd, tr.143; Liệt truyện, quyển 13, tập II, Sđd, tr. 251.

[21] Sử kư, Sđd, tr. 86.

[22] Jacques Liot, “Lettre de Mons. Liot, Missionionaire Apostolique de Cochinchine à MM. Boiret et Descourvieres, Lettres édifiantes et curieuses, J. P. Cochlan, Londres, 1797, tr. 162.

[23] Liệt truyện, quyển 8, tập II, Sđd, tr. 179.

[24] Liệt truyện, quyển 8, tập II, Sđd, tr. 180.

[25] Thực lục, quyển 6, tập I, Sđd, tr. 302.

[26] Thực lục, quyển 11, tập I, Sđd, tr. 181; L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Sđd, tr. 137.

[27]Thực lục, quyển 12 tập I, Sđd, tr., 189; L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Sđd, tr. 137.

[28] Viện Hàn lâm Khoa học Xă hội Việt nam, Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, tập 4, cb. Trần Thị Vinh, Sđd, tr. 456-457.

[29] Liệt truyện, quyển 8, tập II, Sđd, tr. 180-181.

[30] L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Sđd, tr. 128.

[31] Sử kư, Sđd, tr. 91-93.

[32] Liệt truyện, quyển 8, tập II, Sđd, tr. 181.

[33] François Jaccard, “Lettre de M. Jaccard, miss. en Cochinchine, à M. Langlois, supérieur du séminaire des Missions étrangères,” Annales de l’Association de la propagation de la foi, vol. 5 (1831): 405.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính