Nhận diện các vị Vọng Các công thần theo Công giáo trong thời đầu triều Nguyễn

- Phần 1 -

 

Ngô Anh Lân, S.J.[1]

 

 

Tóm Lược: Khi bàn về triều Nguyễn, các nhà sử học thường hay bắt đầu từ cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Gia Long và Đức giám mục Bá Đa Lộc. Nhưng thời điểm hai vị ấy tiếp xúc với nhau chưa được xác định rơ rệt. Bài tŕnh bày hôm nay khởi đầu chỉ là một cuộc rà soát đơn thuần nhằm xác định được mốc điểm trong lịch sử Việt Nam cận đại, nhưng cuộc rà soát ấy dẫn đến khám phá thêm những nhân vật Công giáo góp phần đáng kể trong việc thành lập triều Nguyễn. Trong nhóm đó, có những người hoàng thân quốc thích, có người là linh mục bản xứ, và hơn nữa có vài người có nhiều yếu tố trùng hợp với danh tính các vị khai quốc công thần được thờ tại Thế Miếu. Những khám phá này không dám quả quyết tất các nhân vật này đều theo Công giáo, nhưng chỉ nằm trong phạm trù khả năng cao có thể có. Lư do cho việc kết luận dè dặt là v́ hoàn cảnh bài Công giáo sau đó đă đưa nhiều nhân vật này vào bóng tối khi đề cập đến tâm linh tín ngưỡng của họ. Mặc dù vậy, khi so sánh và đối chiếu các nguồn tư liệu khác nhau, từ sử liệu của triều đ́nh đến các thư từ của các nhà truyền giáo, và những tư liệu địa phương về các vị này, chúng ta có thể nhận diện vài nhân vật Công giáo nổi bật vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX của triều Nguyễn.  Việc khám phá các nhân vật này cho thấy cộng đồng Công giáo vào cuối thời Tây Sơn và vào đầu nhà Nguyễn đă chuyển hướng từ một “thiểu số ẩn” (invisible minority) trong xă hội thành “thiểu số nổi” (visible minority) trong chính trường Gia Long.[2]

 

         

         Vào sáng sớm ngày 16 tháng 12 năm 1799 (Kỷ Tỵ),[3] là sau gần hai tháng từ lúc Đức giám mục Bá Đa Lộc (Pierre Joseph Pigneau[x] de Béhaine, 1741-1799) qua đời tại Qui Nhơn,[4] dân Đồng Nai náo nức ngóng chờ để được chứng kiến  cuộc tang lễ có một không hai trong xứ. Sách xưa thuật lại, quan tài sơn son thếp vàng với năm mươi đèn cầy thắp sáng trên áo quan. Tám mươi người được cắt cử khiêng ḥm và đi theo sau là Đông cung Thái tử Nguyễn Phước Cảnh (1780-1801). Hơn thế nữa, quốc vương Nam triều Nguyễn Phước Ánh (1762-1820) cùng quốc mẫu, hoàng hậu, các bà công chúa và các vị phi tần khác cùng tham dự. Đó là chưa kể các quan văn vơ. Rồi thêm hai mươi ngàn binh lính nhập đoàn cùng với một trăm hai mươi con voi trận hộ tống.[5]  Đám tang của vị giám mục chắc chắn thu hút nhiều sự chú ư ṭ ṃ của mọi người v́ thấy cả vua quan Nam triều đứng ra chủ lễ cho vị “Thái tử Thái phó Quận công.” Trong dân chúng, nếu chưa dịp nghe hay biết về Công giáo, cũng trong dịp này cũng sẽ thắc mắc về một nhóm người theo đạo và “Đức Thầy Vêrô” quá cố của họ. Không chỉ có dân Đồng Nai-Gia Định của năm Kỷ Tỵ ấy thắc mắc ḍ xem, mà từ đó đến nay trong các tài liệu lịch sử trong và ngoài nước, có nhiều kẻ bĩu người khen quanh vai tṛ của vị giám mục thừa sai xứ Pháp này.

 

Nhưng có một yếu tố khác đáng ngạc nhiên là các sử sách lại không thống nhất tháng ngày và hoàn cảnh mà vị giám mục này đă gặp hoàng đế Gia Long tương lai như thế nào. Bài nghiên cứu này không chỉ mong xác định mốc điểm lịch sử ấy, nhưng muốn giới thiệu thêm các công thần của nhà Nguyễn theo Công giáo thời đó. V́ những nhân vật nổi bật trong chính trường này, nhóm Công giáo “thiểu số ẩn” (invisible minority) đă trở nên nhóm “thiểu số nổi” (visible minority) trong lịch sử Việt Nam cận đại.

 

Gởi con, chẻ vàng

 

          Theo chính sử triều Nguyễn, Đại Nam thực lục [từ đây trở đi bài viết xin được gọi tắt là Thực lục], Đức giám mục Bá Đa Lộc được nhắc đến nhưng chỉ là vai phụ trong một bước ngoặt lịch sử éo le vào sinh ra tử của nhà Nguyễn. Đó là vào năm Quư Măo (1783). Biến cố này quan trọng đến độ, khi nhà Nguyễn trung hưng đă ǵn giữ một kỷ vật c̣n lại của dịp này và tôn kính nó như một thánh vật của triều đ́nh—thoi vàng khắc chữ “Thế Tổ Đế Hậu Quư Măo bá niên thiên tín vật (Vật giữ làm tin của Thế Tổ Đế Hậu lúc phiêu dạt đi xa về năm Quư Măo)—được thờ tại điện Phụng Tiên. Đầu năm 1783 số phận của Nam triều giống như ngàn cân treo đầu sợi tóc. Tân vương mười tám tuổi Nguyễn Phước Ánh và đám tàn quân hợp tan liên tục. Tháng hai năm ấy, sau khi thua trận tại Cần Thơ, ông chỉ c̣n vỏn vẹn năm hay sáu thủ hạ và chưa đầy một trăm lính. Họ phải long đong từ đảo này trốn qua đảo kia. Trong bước đường cùng, vị vương trẻ liên lạc được với Đức giám mục Bá Đa Lộc và trao gởi người con cả mới bốn tuổi là Hoàng tử Cảnh nhờ vị giám mục chăm lo.[6] Sử quan triều Nguyễn sau này tả lại cảnh chia ly đầy kịch tính dồn dập trong những tháng đó. Trong cơn nguy cập và sắp trốn khỏi Phú Quốc để qua Xiêm, Nguyễn Phước Ánh đă gởi mẹ ḿnh lại cho Tống Phước thị Lan (1762-1814), người vợ ông mới cưới được năm năm. Đại Nam liệt truyện [từ đây trở đi bài viết xin được gọi tắt là Liệt truyện] ghi: Vua “bèn đem ra nửa dật vàng tốt cho Hậu, bảo rằng con ta đi rồi, ta sẽ đi đây, Phi phụng dưỡng Quốc mẫu ở đây, chưa biết sau này gặp nhau ở nơi nào và ở ngày nào, đem vàng này để làm của tin.”[7] Câu chuyện thoi vàng gần như bị quên lăng cho đến khi Gia Long trị v́ được vài năm. Sử quan nhắc lại biến cố Quư Măo năm xưa để kết thúc đoạn tiểu sử của vị hoàng hậu đầu tiên của triều Nguyễn: “Kịp khi thiên hạ đă yên định, Hậu thong dong tŕnh dâng. Vua nói rằng: Vàng giữ làm tin đây, thực trời giúp đấy, không thể quên lúc gian nan, vậy nên lưu lại để bảo cho con cháu biết. Hậu nhận lấy dật vàng ấy cho Thánh Tổ Nhân Hoàng đế [Minh Mạng].”[8] Qua câu chuyện “gởi hoàng đi Tây” và “thỏi vàng Quư Măo,” chúng ta có thể hiểu tại sao thuở đầu Nam triều Gia Định đă đứng ra tổ chức một cuộc an táng cho một vị giám mục với lễ nghi xứng bậc vương tôn cùng với sự hiện diện của tất cả hoàng thân quốc thích và cả bá quan văn vơ vào năm Kỷ Tỵ ấy.

 

Lấn cấn ngày giờ gặp gỡ

 

          Dù biến cố “gởi con, chẻ vàng” mang một dấu ấn tâm lư lịch sử cho hoàng tộc và triều đ́nh nhà Nguyễn như vậy, nhưng tài liệu và sử sách sau này lại không thống nhất về thời gian Đức giám mục Bá Đa Lộc và vị vương lưu vong đă gặp nhau trong thời điểm và t́nh huống nào. Theo chính sử nhà Nguyễn và Linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874) th́ cuộc gặp gỡ định mệnh này xảy vào năm 1783.[9] Theo lá thư của chính Đức giám mục Bá Đa Lộc th́ vị giám mục nói đến hai cuộc gặp gỡ với ông hoàng thất thế vào tháng một và tháng hai năm 1784.[10] Đầu thế kỷ XX, sử gia Trần Trọng Kim dù không xác định thời điểm nhưng cho rằng trước chuyến cho ông hoàng Cảnh đi Tây cầu viện th́ Nguyễn vương đă “có quen một người nước Pháp làm giám mục đạo Gia Tô” rồi.[11]

 

Những nghiên cứu gần đây cho thấy cuộc gặp gỡ đă có thể xảy ra sớm hơn. Giáo sư Nguyễn Quang Hưng đưa ra mốc điểm sớm nhất là vào khoảng tháng 11 năm 1776.[12] Hai sử gia, Tạ Chí Đại Trường và Trương Bá Cần, th́ cho là vào ngay sau tháng 10 năm 1777 khi bên Tây Sơn tàn sát gần hết chúa tôi nhà Nguyễn gần Long Xuyên, Hà Tiên.[13] Nhà nghiên cứu giáo sử Cao Thế Dung đặt vào tháng Giêng 1778.[14] Trần Mỹ Vân, học giả chuyên về Cường Để và lịch sử thời thực dân, th́ trích dẫn năm 1782.[15] Bộ Lịch sử Việt Nam của Viện Sử học, Tập 4 do Trần Thị Vinh chủ biên, đồng ư với các học giả gần đây thống nhất chọn giữa những tháng cuối của năm Đinh Dậu (1777) và vào đầu năm Mậu Tuất (1778) là khởi đầu cuộc một mối liên hệ lâu dài giữa vị hoàng đế tương lai và Đức giám mục Bá Đa Lộc.[16] Nhưng hoàn cảnh gặp gỡ chính xác ra sao th́ khó có thể nói; sử gia Trương Bá Cần lưu ư độc giả: “Chúng ta không rơ là Nguyễn Phước Ánh trốn trong nhà của Đức giám mục Pigneau[x] ở Hà Tiên hay ở Cao Miên, bởi v́ trong thời gian chờ đợi vào Đàng Trong (1775-1778), Đức giám mục Pigneau[x] khi th́ ở kinh đô Cao Miên, khi th́ ở Hà Tiên.”[17] Nói tóm lại, dù bao sách vở sử liệu đă được ḍ t́m, học giả vẫn không thống nhất với nhau về địa điểm và năm tháng của cuộc hội ngộ này. Nơi gặp th́ có thể bất cứ nơi đâu từ Hà Tiên cho đến thủ phủ của Cao Mên; thời điểm th́ lại rơi vào trong ṿng sai suất khá lớn ít là từ vài tháng cho đến tám năm!

 

Tài liệu dă sử Sử kư Đại Nam Việt Quấc Triều

 

          Để so sánh và xác định sử sự quanh biến cố Quư Măo (1873), bài nghiên cứu này dựa vào một dă sử công giáo, Sử kư Đại Nam Việt quấc triều [từ đây trở đi bài viết xin được gọi tắt là Sử kư], được xuất bản từ nhà in Imprimerie de la Mission, Tân Định năm 1879.[18] Rất tiếc v́ chưa có thể t́m ra nguyên bản 1879, nên bài nghiên cứu này phải dựa trên tái bản lần hai của Sử kư vào năm 1885. Tác giả khuyết danh bắt đầu với thời suy sụp của Đàng Trong từ năm 1737 và kết với việc Gia Long đổi tên nước thành Việt Nam năm 1812. Nội dung của dă sử rơ ràng là trên quan điểm của một tác giả Công giáo, nhưng lối viết không có thần thoại hoá hay luân lư hoá các nhân vật mà chúng ta thường thấy trong các sách sử kư theo thể loại hạnh tích các thánh tử đạo. Đó là so với luồng sách nhà đạo, c̣n khi so chính sử, thông sử, hoặc dă sử khác cùng thời kỳ, Sử kư không dùng niên hiệu của các đương kim hoàng đế mà dùng dương lịch. Văn thanh của Sử kư theo âm từ Nam bộ cho độc giả địa phương. Khi nhắc đến các địa danh, tác giả vẫn dùng tên thông dụng như “Cao mên” thay v́ tên gọi hành chánh “Chân lạp.”[19]Sử kư viết cho độc giả Công giáo nhưng không theo thể loại hạnh các thánh tử đạo, nên các nhân vật Công giáo dù không chết v́ đạo vẫn được nhắc đến. Yếu tố này góp phần quan trọng cho việc truy t́m các người theo đạo trong thời đầu triều Nguyễn của bài nghiên cứu này. Độc giả của Sử kư sẽ hiểu rơ và với đầy mầu sắc điạ phương và đối thoại đằng sau các sự kiện mà văn phong triều chánh của Thực lục không cho phép, lướt qua hay lược bỏ. Lối diễn tả sống động như ghi lại “tai nghe mắt thấy” từ nhân chứng sống có thể kiểm chứng dễ dàng với chính sử. Do đó, Sử kư có tính cách sử liệu dồi dào để đọc song song, xác tín và bổ khuyết vào sự thiếu sót của Thực lục do các sử quan ghi chép. Nhưng v́ Sử kư mang nhiều sắc thái điạ phương tính, nên việc truy tầm danh tánh các nhân vật Công giáo là một thách đố lớn. Trong Sử kư, tên gọi thường dùng chức danh giản lược và thêm phong tục kỵ huư nên không đầy đủ họ tên chức tước như tài liệu trong chính sử thường hay có. Do đó, để xác tín giá trị sát thực của sử liệu cũng như về nội dung sự kiện quanh các nhân vật có thể theo Công giáo trong triều, bài nghiên cứu này phải dựa vào việc đối chiếu giữa Sử kư với Thực lục, Liệt truyện, mười bốn bức thư của Nguyễn Phước Ánh được ghi lại trong Bulletin des amis du vieux Hué [từ đây trở đi bài viết xin được gọi tắt là BAVH],[20] thư của các thừa sai được in trong Lettres édifiantes et curieuses [từ đây trở đi bài viết xin được gọi tắt là LEC], và một bài nghiên cứu mô tả Thế Miếu vào năm 1914.[21]

 

Bốn câu chuyện của ba mươi năm triều Gia Định

 

          Như đă nêu về nhiều điểm bất cập thời gian chưa kể khác biệt trong nội dung sử liệu, bài viết này xin tạm đặt lại các sử kiện theo mốc năm tháng gần ba thập niên từ lúc chúa Nguyễn mất Phú Xuân chạy vào Gia Định năm Giáp Ngọ (1774) cho đến lúc Nguyễn vương xưng đế vào Nhâm Tuất (1802). Các sử kiện được chọn v́ chúng liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới sử Công giáo, và xin được nôm na gọi là bốn câu chuyện gồm: tư-sự, chiến-sự, chánh-sự và giáo-sự.

 

Chuyện tư-sự

 Chúng ta có thể tạm gọi giai đoạn tư-sự là từ lúc nhà Nguyễn mất nghiệp chúa ở Phú-xuân năm Giáp Ngọ (1774) cho đến trận Long Hồ năm Đinh Dậu (1777). Trong ba năm này, Nguyễn Phước Ánh chỉ là một nhân vật trẻ và thứ yếu trong đoàn tùy tùng của Định vương Duệ Tông Nguyễn Phước Thuần (1765-1776).[22] Nếu có cuộc gặp nhau nào giữa nhóm Công giáo và chúa tôi nhà Nguyễn, th́ Đức giám mục Bá Đa Lộc chỉ có thể có vài sơ giao hay đơn thuần biết mặt một chút về cậu hoàng tôn mười mấy tuổi trong đoàn lưu vong Phú Xuân. T́nh h́nh trở nên bi đát khi quân Tây Sơn bắt giết gần hết nhà chúa Nguyễn. Sau bốn tháng lẩn trốn tại Sa Đéc, vị hoàng tôn trẻ sống sót và tập hợp lại tàn quân.[23] Qua lời giới thiệu của Đức giám mục Bá Đa Lộc, một người Pháp, “ông Gioang,” đă góp mẹo binh với quân Nguyễn để chế tạo và xử dụng một loại kiểu trái phá dù đơn sơ nhưng đủ tạo rối loạn trong trận thủy chiến Long Hồ, Vĩnh Long.[24] Sau trận này, tướng tá cũ tôn vị hoàng tôn sống sót lên làm đại-nguyên-súy. Cuối năm 1777, Nguyễn Phước Ánh thu lại được đất Gia Định.

 

Chuyện dài chiến-sự

 Từ năm Đinh Dậu (1777) đến Mậu Thân (1788), xin được tạm gọi đây là những năm thay đổi trong quen biết từ “tư-sự” đến “chiến-sự.” Đây là mười một năm hợp tác giữa Đức giám mục Bá Đa Lộc cùng nhóm Công giáo với quan quân nhà Nguyễn Nam triều. Đây là những ngày tháng cam go và có khi gần như tan ră hoàn toàn cho phía theo Nguyễn Phước Ánh. Ba lần (1777, 1782 và 1784), họ cố gắng chiếm lại Gia Định và những vùng phục cận, và ba lần đều bị Tây Sơn sát phạt. Chỉ đến năm 1788, nhà Nguyễn mới bám trụ được vùng tái chiếm từ Tây Sơn. Trong những năm đầu long đong, nhóm Công giáo dù chỉ là một thiểu số không đáng kể, nhưng đă sát cánh sống c̣n với đoàn cựu triều mà nhiều lúc chỉ là đồng hành với nhau qua việc chia cơm sẻ muối trôi nổi từ thuyền này qua đảo nọ. Nhóm tàn quân Gia Định và một số người Công giáo chạy loạn nương tựa vào nhau và đôi lúc hỗ tương trong chiến sự để chống trả lại các lần càn quét săn lùng của quân tướng Tây Sơn.

 

          Có lẽ sau trận Long Hồ 1777 một thời gian, Đức giám mục Bá Đa Lộc mới t́m gặp và hứa cộng tác hay ủng hộ trong dịp vị đại-nguyên-súy trẻ vừa xưng vương vào năm Canh Tư (1780). Theo Liệt truyện viết về một người trong nhóm “Vọng Các công thần”— đó là những trung thần đă theo pḥ Nguyễn vương từ thời lưu vong bên thủ phủ Vọng Các, nước Xiêm, đơn cử như “Trần Văn Học: Người huyện B́nh Dương thành Gia Định, lúc đầu theo Bá Đa Lộc đến yết kiến Thế Tổ Cao Hoàng Đế ở Gia Định, năm Nhâm Dần.”[25] Vậy dù Đức giám mục Bá Đa Lộc có biết và ngay cả giới thiệu người Pháp như “Ông Gioang” chế thuốc nổ đến với Nguyễn Phước Ánh trước đây, nhưng có vẻ ra mặt công khai hợp tác khi vị tướng trẻ chính thức lên ngôi vương vào năm 1780. Không chỉ trong Sử kư mà hai bức thư của Stanis Lefebvre, một trong những người sĩ quan Pháp sau này tham gia với quân nhà Nguyễn, đều nhắc đến việc Đức giám mục Bá Đa Lộc ra gặp vị tân vương. Theo ba sử liệu đó th́ lần này, vị giám mục giới thiệu thêm một người Pháp nữa là “Ông Màn Hoè [Ma-no-e hay Emmanuel].”[26] Vậy lúc này qua trung gian của vị giám mục, trong hàng ngũ Nam triều có ít nhất hai người Pháp: “Ông Gioang” và giờ thêm “Ông Màn-Hoè.” Chúng ta không biết nhiều ǵ về “Ông Gioang” ngoại trừ qua Sử kư, nhưng “Ông Màn Hoè” th́ được ghi công trong Thực lục do hy sinh chết trong một trận thủy chiến với quân Tây Sơn.[27] Trong thời gian ngắn, ḷng tin và sự thân tín giữa tân vương và vị giám mục tăng nở. Hành dinh của vị vương trẻ và chủng viện G̣ Mít gần nhau chỉ vài bước đi bộ. Nguyễn Phước Ánh tin vị giám mục đến độ dám chia sẻ ḷng uất ức v́ bị tướng Đỗ Thành Nhân lấn áp, và tiết lộ âm mưu trừ khử vị tướng này.[28] Các thừa sai khác th́ tường tŕnh lại bề trên bên Pháp chuyện họ cho rằng vị giám mục đă nhúng tay quá lố vào nội bộ chính trị tại địa phương.[29] Ḷng người mấy ai nào có tài cán cao siêu dám chủ quan nói có thể đo biết thâm tâm và dụng ư của kẻ khác, nhưng các sự kiện này khách quan cho thấy vị tân vương và Đức giám mục Bá Đa Lộc qua lại rất thân quen và tin tưởng thêm với nhau trong mấy năm này hơn chỉ là “tư-sự” sơ sài như thời trước trận Long Hồ 1777.

 

          Tiếp đến là câu chuyện lịch sử nhiều người biết đến: Đức giám mục Bá Đa Lộc nhận nuôi cậu bé bốn tuổi, Nguyễn Phước Cảnh. Bắt đầu vào tháng hai năm 1783, quân Tây Sơn tiến chiếm và đẩy quân nhà Nguyễn ra khỏi vùng Gia Định lần thứ nh́. Đức giám mục Bá Đa Lộc và Linh mục Trần Văn Học đă đem gia đ́nh vợ con vị tân vương đi lánh nạn với mấy người bên đạo qua Chân Lạp (Campuchia).[30] Nhưng khi được tin Chân Lạp ngầm bắt nộp nhóm lưu vong cho quân Tây Sơn, Nguyễn Phước Ánh phải gởi người thân tín đến giải cứu trong lúc phải đối đầu và bị thua thảm hại tại trận thủy chiến Cần Giờ.[31] Nguyễn vương ít nhất đă giải nguy được gia đ́nh, nhưng không cứu văn được đội quân mới thành lập trong mấy năm qua. Sau trận Cần Giờ, quân nhà Nguyễn chỉ c̣n lại vỏn vẹn chưa đầy bẩy trăm người. Trong trận này, Thực lục nhắc tới Nguyễn vương may mắn thoát dù phải nhảy bơi trên đoạn sông đầy cá sấu.[32] Họ lên thuyền chạy thoát ra biển và tạm trú ḷng ṿng các đảo hoang. Hy vọng được tăng lên chút đỉnh khi có thêm tám mươi người Công giáo đến nhập đoàn với họ.[33] Về phía Đức giám mục Bá Đa Lộc, ông và chủng sinh chạy trốn xuống Hà Tiên và sau đó họ đi thuyền trốn ra Phú Quốc. Tại Phú Quốc, Nguyễn vương, gia đ́nh và đoàn tùy tùng gặp lại giám mục và sống nương vào gạo mà thuyền vị mang theo.[34] Nhưng không được bao lâu, mỗi người lại chạy mỗi ngă v́ Tây Sơn kéo binh ra truy lùng. Theo thơ của Đức giám mục Bá Đa Lộc, sau khi ổn định tại Chanthaburi, vương quốc Xiêm, ông đă nhắn người ḍ xem gia quyến Nguyễn vương lưu lạc nơi đâu. May mắn là “ông trùm Nam” đă t́m gặp được họ đang trốn tại Ḥn Dừa và tiếp tế cho ít gạo trước khi quay về khẩn báo cho giám mục tại Chanthaburi.[35] Được tin từ “ông trùm Nam,” Đức giám mục Bá Đa Lộc kể lại, “tôi ngay lập tức đến và t́m ra được ông hoàng tội nghiệp đang trong một hoàn cảnh đáng thương. Ông ta có với ông chừng sáu đến bảy trăm quân chen sống trên một chiến thuyền lớn và chừng hơn kém mười lăm ghe nhỏ khác. Nhưng đó cũng là một số quá lớn để ông ta lo cho họ ăn. Quân lính đă phải quay qua ăn gốc củ rau cỏ. Tôi phải đành nhường lại một số lương thực của chúng tôi.”[36]

 

Trong dịp này mới có câu chuyện của năm 1783 khi Nguyễn vương gởi gắm người con cả của ḿnh cho Đức giám mục Bá Đa Lộc. Nhưng chuyện Đông cung đi cầu viện th́ không đơn giản như vài ḍng được ghi trong Thực lục. Chuyến Tây du không bắt đầu ngay vào năm 1783 mà chỉ xẩy ra ba năm sau đó. Có thể ư định đi Tây cầu viện chỉ là một trong nhiều dự định ban đầu, và lúc này nhóm quân nhà Nguyễn vẫn c̣n đặt nhiều hy vọng vào quân trợ giúp từ Nước Xiêm. Năm sau Giáp Th́n (1784), Nguyễn vương cùng với hai mươi ngàn quân và ba trăm chiến thuyền do Chiêu Tăng và Chiêu Sương về đánh lực lượng Tây Sơn, nhưng Nguyễn vương đă phải trả giá đắt trong vụ này. Ngay từ sớm, Nguyễn vương nhận ra, nhưng lại quá trễ, khi thấy cái sai lầm chọn theo quân Xiêm về dành lại nam bộ v́ tính cách hà hiếp quấy nhiễu và vô kỷ luật của họ. Sau khi thua trận Rạch Gầm và Xoài Mút, Nguyễn vương than: “Muốn lấy được nước, phải được ḷng dân… Nếu được Gia Định mà mất ḷng dân th́ ta cũng không nỡ làm. Thà hăy lui quân để đừng làm khổ nhân dân.”[37] Theo Thực lục, trong trận này, Nguyễn Phước Ánh thua chạy và c̣n lại chỉ vỏn vẹn ba vị tướng và mười quân sĩ.[38] Vào cuối năm 1784, Đức giám mục Bá Đa Lộc dẫn đầu đoàn Nam triều đi Pháp (Đại Tây) cầu viện qua đường Pondichéry (Tiểu Tây), thuộc địa Pháp tại Ấn Độ. Nhân tiện, ông cũng đem theo ba mươi chủng sinh và lánh dời chủng viện tới Pondichéry.[39] Các nhà viết sử sau này hay cho rằng việc truyền giáo là mầm mống của một chương tŕnh xâm chiếm thực dân đặt sẵn cả trăm năm trước, nhưng sự thật là Đức giám mục Bá Đa Lộc không được sự ủng hộ nồng nhiệt nào từ chính phủ thuộc địa tại Pondichéry. Toàn quyền David Charpentier de Cossigny (1740-1801) của Pondichéry không muốn tham dự và dính líu với một nhóm lưu vong nhà Nguyễn tại nước Xiêm mà theo họ là không có một cơ hội thành công nào.[40] Khi phái đoàn sáu người của Nam triều đặt chân tới cảng Lorient, Pháp, năm Đinh Mùi (1787), Đức giám mục Bá Đa Lộc nhận được thư đón tiếp lạnh nhạt từ Thống chế Charles de Castries (1743-1801): “Mong muốn lâu nay của chúng tôi là ngài không đứng ra lănh giúp mấy người này cho đến khi có ư định rơ ràng từ hoàng thượng. Nhưng với sự thể bây giờ, ngài hăy đem họ tới Paris. Tôi sẽ báo với bề trên của Hội Thừa Sai Paris. Ngài hăy liên lạc với vị bề trên này để lo những chuyện cần thiết và chỗ tá túc cho những người này.”[41] Đến năm Kỷ Dậu (1789), phái đoàn đi sứ mới về lại Gia Định với hiệp ước bất thành v́ lúc này chế độ quân chủ của Pháp đă bị lật đổ. Tuy vậy Hiệp ước Versaille vẫn là cái cớ sau này cho chính phủ Pháp áp đặt chế độ thuộc địa trên Việt Nam.

 

Vai tṛ và đóng góp thật sự của người Công giáo Việt, thừa sai, và lính Pháp đánh thuê trong giai đoạn cho việc trung hưng của nhà Nguyễn là bao nhiêu? Cho tới nay, các sử gia chưa bao giờ nhắc đến người Công giáo Việt mà chỉ nói về Đức giám mục Bá Đa Lộc và những sĩ quan Pháp. Mà dù có nhắc đến các thừa sai và vài trăm quân nhân Pháp, theo lời sử gia Alexander Woodside nhận định, những người Pháp này cũng không phải là một thực lực đáng kể. Woodside cho rằng sử sách sau này thổi phồng vai tṛ của người Pháp trong thời điểm tái lập nhà chúa Nguyễn ở Gia Định. Và, học giả này có thể đúng v́ nhóm người Công giáo có giúp được ǵ th́ giỏi lắm cũng chỉ là vài thúng gạo hay hơn nữa là vài ghe gạo.[42] Số tám mươi người của năm Quư Măo th́ thấm vào đâu so với những đoàn quân vạn người trở lên. Nhưng với tấm ḷng người Việt th́ chắc sẽ thấy sự kiện này với góc này cạnh khác. Ông bà ta thường nói:

 

“Một miếng khi đói, bằng một gói khi no.”

 

Hay,

“Của một đồng, công một lượng.”

 

Có thể v́ vậy, mà ngay cả trong thời với quốc sách diệt sạch cội rễ “Gia Tô tả đạo” trên vương thổ của ḿnh, nhất là thời cấm đạo của thời Minh Mạng, triều đ́nh Huế cũng cam ḷng chịu, và dù có muốn tẩy đi cái dính dáng bất tiện của quá khứ, cũng chỉ có thể hạ chỉ cắt bớt công thổ và người lo cho lăng tẩm này, mà triều Gia Long trước đây đă cấp, chứ không đào mồ đập mả của Đức giám mục Bá Đa Lộc hay các biểu tượng sĩ nhục trên mộ phần người quá cố như đă làm trên lăng tẩm của Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832).

 

Chuyện chính sự

 

          Trong thời gian đoàn sứ bộ qua Pháp, t́nh h́nh Nam bộ thay đổi với lợi thế cho Nguyễn vương. Năm Mậu Thân 1788 nhà Thanh kéo quân vô Bắc bộ mượn tiếng cứu nhà Lê, nên khi Nguyễn Huệ chuyển quân lực về hướng bắc, vùng Gia Định trở nên dễ dàng hơn cho quân nhà Nguyễn về tái lập Nam triều. Nếu cái mạnh của lực lượng Tây Sơn là chiến thuật quân sự, th́ ưu điểm của triều đ́nh Gia Định là khả năng tổ chức hành chính.[43] Điền địa và làng mạc được tổ chức lại rất nhanh đặc biệt là hệ thống đồn điền. Các ty nha chiêu dân lưu tán trở về khai hoang lập đồn điền. Ai chiêu mộ được mười người th́ được phong làm cai trại và được miễn lao dịch.[44] Dân Công giáo lưu lạc và sinh cơ lập nghiệp tại Vương quốc Xiêm trở thành tai mắt đối ngoại cho Nguyễn vương. Như năm 1785, Nguyễn vương sai “thầy cả Minh” ḍ xét t́nh h́nh:

 

Vậy sai quan tham tướng đệ tờ tŕnh tấu Nhị vương sự cớ, lại có sai thầy cả Minh tùng sự vào đó, phải đạt phiến tờ ngơ tường âm tín. Như cơ thường, biến dường nào th́ thầy Minh tựu đó sự cơ hiệp liệu cùng theo. Bằng có ghe, phiền tu [hăy ngay liền] đưa thầy Minh trở về khải tấu ngơ tường hư thiệt cơ yếu Xiêm t́nh.[45]

 

Khi t́nh thế, Gia Định ổn định và tổ chức hơn, Nguyễn vương vẫn tiếp tục nhờ dân Công giáo ngoại kiều như một hệ thống ngoại giao bán chính thức. Trong thư của Nguyễn vương vào năm 1789, khi vương không nghe tin ǵ từ phái bộ được gởi qua đem lễ vât tặng vua và phó vương Xiêm, ông viết nhắn tin:

Vả tháng 8 ta đánh Tây tặc vừa yên, về ở Sài G̣n, có dạy sứ đem lễ vật vào tạ đức Phật vương cùng Nhị vương, tuy là bạc lễ, dùng thảo tấm ḷng. Như sứ ta đă vào đến nơi mà dưng lễ ấy, hay là chưa vào đến nơi, cớ sao chẳng thấy tiêu [tin] tức tín hồi.[46]

 

Tóm lại sau gần mười bốn năm (1774-1788) lưu vong, t́nh thế nhà Nguyễn bắt đầu chuyển hướng thuận lợi dẫn đến khôi phục lại Đàng Trong và sau đó lập ra triều Nguyễn. Trong mười bốn năm này, nhóm Công giáo thiểu số dần dần thu hút nhiều chú ư trong chính trường v́ những cộng tác của họ pḥ theo cựu triều, sống c̣n với Nguyễn vương ngay cả khi vị vương lưu vong không có một tương lai sáng sủa ǵ, và nhóm Công giáo hiện hữu rơ nét hơn trong các thành phần tướng lănh cai đội dưới triều Gia Định.

 

Chuyện giáo sự

          Ngoại yên, nội náo có thể nói là t́nh h́nh chuyển biến bên trong triều đ́nh Gia Định. Nếu trong những năm tháng lưu vong mà triều Nguyễn gọi là những năm tháng “Gia Long tẩu quốc” là những ngày chia cơm xẻ ngọt theo kiểu Sử kư thuật lại: “Những người thuộc về vua và những người thuộc về Đức Thầy, th́ là như con một nhà ở chung với nhau,”[47] th́ bây giờ trở nên lục đục nhiêu khê. Sử gia Tạ Chí Đại Tường đă phân tích giai đoạn lủng củng nội bộ trong Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam đặc biệt trong chương “Dao động ư thức hệ ở Gia Định.”[48] Nhiều tác giả đă bàn về các dịp đụng độ trong các nghi thức tôn giáo lạy bái bàn thờ tổ tiên nhất là vụ Đông cung Cảnh từ chối bái yết Tông Miếu khi mới từ Tây trở về,[49] nhưng bài nghiên cứu này xin được đóng góp thêm một góc cạnh khác: tranh chấp giữa nhóm quan vơ và nhóm quan văn trong triều. Chuyện đụng độ giáo-sự trở nên gây cấn hơn khi nó được xen lồng với tranh chấp quyền lực bên trong.

 

Trong thời điểm ban đầu thời Nguyễn trung hưng, nhóm quan vơ có vẻ ở thế thượng phong và nắm giữ nhiều quyền lực. Trong Liệt truyện có thuật lại hạnh tích một vị quan văn của Hàn lâm viện, Trần Đại Luật, theo chiều chính trị lúc ấy cùng một số đồng môn khác xin chuyển ngạch qua bên vơ. Nhưng không phải là một chuyển đổi dễ dàng v́ ông bị bên vơ chê không cho tham dự bàn chiến thuật mà cười rằng: “Bọn quan văn chưa nghe tiếng súng [đă] tự són đái trước, đâu được nói đến việc quân lữ chiến trận.”[50] Qua lời trích cuộc đối thoại, chúng ta có thể h́nh dung ra được không khí tranh chấp quyền lực giữa hai nhóm văn và vơ.

 

Như phần “chuyện chiến sự” trên đă cho thấy, trong nhóm vơ quan không ít th́ nhiều đă có sự hiện diện của nhóm Công giáo hay những người có nhiều thiện cảm với Công giáo v́ nhờ mười bốn năm đồng lao cộng khổ với nhau. Qua tiểu sử của Trần Đại Luật, hiểm khích và nghi kỵ càng tăng dần v́ nhóm quan văn thấy nhóm Công giáo và nhất là vị giám mục nắm giữ được Đông cung Cảnh.[51] Trần Đại Luật đă viết mật tấu xin Nguyễn vương trừ khử Công giáo để tránh hậu hoạ sau này v́ “Đa Lộc mang giáo Thiên Chúa để lừa ngu dân, không có t́nh thân cha con, nghĩa lớn vua tôi, lại tự cậy là bảo hộ Đông cung có chút công lao, sinh ḷng kiêu ngạo, không sợ hăi ǵ, nay như thế, ngày khác lại như thế nào.”[52] Nguyễn vương mật triệu Trần Đại Luật và khen: “Ngươi có lời nói thẳng, trẫm không phải là không tin, nay đánh Đông dẹp Tây về việc dùng người, rất là việc cần kẻ dối trá và ngu cũng nên dùng, không nên tỏ cho người biết là hẹp ḥi, tạm hăy để đó.”[53] Không chỉ dựa trên câu nói này của Nguyễn vương mà thêm vào các hành động sau này khi ông lên ngôi hoàng đế, Nguyễn vương thật sự cũng có nhiều dè chừng với Công giáo.[54] Trong thời binh chiến và cần nhờ ngoại viện, Nguyễn Phước Ánh không có chính sách bài bác Công giáo. Nhưng cáchđối đáp của ông cho thấy thái độ khôn ngoan chính trị của ông, ông cho họ thấy ông cũng chia sẻ với hàng quan văn nghi kỵ của ḿnh về tôn giáo này. Câu chuyện ngắn của Trần Đại Luật trong Liệt truyện t́nh cờ cũng cho thấy một bạn quan văn đồng môn với Trần Đại Luật tại Hàn lâm viện là Trịnh Hoài Đức (1765-1825). Trịnh Hoài Đức là một trong hai quan được cắt đặt để tách ảnh hưởng của vị giám mục trên Đông cung và dạy lại Đông cung khi đi sứ Tây mới về.[55] Trần Đại Luật chết sớm khi mới bốn mươi mốt tuổi. Ngược lại, Trịnh Hoài Đức sau này thăng quan thượng thư cả bộ Lại và bộ Lễ. Nhóm quan văn đă kiên nhẫn chờ đợi để hất cẳng và dẹp bỏ từ từ ảnh hưởng của nhóm vơ quan “Vọng Các công thần.” Chuyện giáo-sự trở nên rối rắm hơn v́ liên hệ dính dáng nhiều với chuyện chính-sự và chiến-sự trong hàng ngũ khai quốc công thần của thời trung hưng của nhà Nguyễn.



(Xin đọc tiếp phần cuối)


[1] Tác giả, Linh mục Giáo sư Ngô Anh Lân, SJ hiện đang giảng dậy trong khoa Á Châu học tại trường Đại Học Loyola-Marymount (Los Angeles). Tác giả tốt nghiệp tiến sĩ ngành sử học năm 2016 tại Đại Học Georgetown với luận án tiến sĩ Nguyễn–Catholic History (1770s–1890s) and the Gestation of Vietnamese Catholic National Identity.

[2] Tác giả xin chân thành cám ơn ông Nguyễn Tiến Đạt và Linh mục Giáo sư Trần Quốc Anh đă hiệu đính các lỗi chính tả và giúp cho câu cú bớt tối nghĩa hơn. Tác giả cũng cám ơn ông Nguyễn Phước Vĩnh Hượt và ông Ngô Anh Tuấn đă giúp đỡ cung cấp và hướng dẫn các tài liệu về hoàng tộc. Bài nghiên cứu này là phóng tác lại từ một chương của luận án tiến sĩ sử học của tác giả, dưới sự hướng dẫn và góp ư của các giáo sư và ban giám khảo của Đại học Georgetown: Giáo sư Carol Benedict, Giáo sư Sandra Horvath-Peterson, Giáo sư James Millward, Linh mục Giáo sư Phêrô Phan Đ́nh Cho, và Giáo sư Trần Tuyết-Nhung của Đại học Toronto, Canada.

[3] Sử kư Đại Nam Việt Quấc triều (từ đây trở đi ghi là Sử kư), in lần hai (Sài G̣n: Tân Định, 1885), 117.

[4] ‘Pierre Joseph Pigneaux de Béhaine,” L’Institut de recherche France-Asie, tiếp cận ngày 5 tháng 10 năm 2020, https://www.irfa.paris/fr/fiches-individuelles/pigneaux-de-ba-c-haine.

[5] Sử kư Đại Nam Việt Quấc triều (từ đây trở đi ghi là Sử kư), in lần hai, Tân Định, Sài G̣n, 1885, tr. 116-117.

[6] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên (từ đây trở đi ghi là Thực lục), quyển 2, tập I, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 218.

[7] Thực lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 218; Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam liệt truyện, (từ đây trở đi ghi là Liệt truyện) quyển 2, tập II, Nxb. Thuận hoá, Huế, 2006, tr. 36.

[8] Liệt truyện, quyển 1, tập II, Sđd, tr. 42.

[9] Lam Giang và Vơ Ngọc Nhă, Đặng Đức Tuấn: Tinh hoa Công giáo Ái quốc Việt Nam, Tân văn Ấn quán, Sài g̣n, 1970, tr. 52.

[10] Pierre Pigneau[x] de Béhaine, “Extrait d’une letter de monseigneur l’évêque d’Adran, vicaire apostolique de Cochinchine, aux directeurs du séminaire des Missions Étrangères, écrite de Pondichéry, le 20 mars 1785,” Lettres édifiantes et curieuses concernant l’Asie, l’Afrique et l’Amérique, avec quelques relations Nouvelles des missions, et des notes géographiques et historiques, vol. 4, Sociéte du Panthéon Littéraire, Paris, 1843, tr. 617-624.

[11] Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, vol. 2, Cơ sở xb. Đại Nam, Sài G̣n, 1971, tr. 109-110.

[12] Nguyễn Quang Hưng, Công giáo Việt Nam thời kỳ triều Nguyễn (1802-1883), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2007, tr. 66.

[13] Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Việt hương, Sài G̣n, 1973, tr. 91; Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt nam, tập I, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2008, tr. 291-292.

[14] Cao Thế Dung, Việt nam Công giáo Sử Tân biên (1553-2000), quyển II, Thời Phát triển và Bách đạo, Cơ sở Truyền thông Dân Chúa, Gretna, 2002, tr. 1043-1044.

[15] Trần Mỹ Vân, A Vietnamese Royal Exile in Japan: Prince Cường Để (1882-1951), Routledge, New York, 2005, tr. 12-16.

[16] Viện Hàn lâm Khoa học Xă hội Việt nam, Lịch sử Việt nam, tập 4, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, chủ biên Trần Thị Vinh, Nxb. Khoa học Xă hội, Hà Nội, 2017, tr. 450; Keith Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press, Cambridge, 2013, tr. 370.

[17] Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập I, Sđd, tr. 291.

[18] Sử kư, Sđd.

[19] Sử kư, Sđd, tr. 29; Thực Lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 228.

[20] Léopold Michel Cardière, “Les Français au service de Gia-Long: Nguyễn Ánh et la mission, documents inédits,” Bulletin des amis du vieux Hué 13, no.1 (Jan.-Mar. 1926), tr. 1-50.

[21] L. Sogny, “Les associes de gauche et de droite au culte du The Miêu,” Bulletin des amis du vieux Huế 1, no.2 (Avril-Juin 1914), tr. 121-144.

[22] Thực Lục, quyển 11, tập I, Sđd, tr. 181.

[23] Thực Lục, quyển 12, tập I, Sđd, tr. 191; Thực Lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 204-205.

[24] Sử kư, Sđd, tr. 19.

[25] Liệt truyện. quyển 12, tập II, Sđd, tr. 311; Alexander B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Harvard University Press, 1971, Cambridge, Mass., 219.

[26] Sử kư, Sđd, tr.21, 33-34; Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập I, Sđd, tr. 314; Stanilas Lefebvre, “Lettre III,” BAVH, vol. 13 (1926), tr. 366; Stanilas Lefebvre, “Lettre IV,” BAVH, vol. 13 (1926), tr. 368.

[27] Thực lục, quyển 1, tập I, Sđd, tr. 211-212.

[28] Sử kư, Sđd, tr., 24; Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập I, Sđd, tr. 315.

[29] Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions-Étrangères, tome 2, Téqui, Libraire-Editeur, Paris, 1894, tr. 137-139.

[30] Sử kư, Sđd, tr. 37; Liệt truyện, quyển 28, tập II, Sđd, tr. 311.

[31] Sử kư, Sđd, tr., 37-38; Thực lục, quyển 1, tập I, Sđd, tr. 213; Liệt truyện, quyển 28, tập II, Sđd, tr. 311.

[32] Thực lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr.217.

[33]Thực lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr.  216-218; Pierre Pigneau[x] de Béhaine, LEC, vol. 4 (1843), tr. 617.

[34] Sử kư, Sđd, tr. 39.

[35] Sử kư, Sđd, tr. 41-42.

[36] Pierre Pigneau[x] de Béhaine, LEC, vol. 4 (1843), tr. 621.

[37] Thực lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 221-223; L. Cadière, “Les français au service de Gia-Long: Nguyễn Ánh et la mission, documents inédits,” BAVH, vol. 13, no. 1 (1926), tr. 20, plate V; Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Sđd, tr. 367-368.

[38] Thực lục, quyển 2, tập I, Sđd, tr. 223.

[39] Sử kư, Sđd, tr.40; Trương Bá Cần, Lịch sử Phát triển Công giáo ở Việt Nam, tập I, Sđd, tr. 328.

[40] Louis-Eugène Louvet, Monseigneur d’Adran: Missionnaire et patriote (Paris: Librairie Delhomme & Briguet, 1900), tr. 117-118.

[41] Adrien Launay, Histoire générale de la Sociéte des Missions-Étrangères, tập II, Sđd, tr. 236.

[42] Alexander Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Harvard University Press, Cambridge, Mass.,1971, tr. 17.

[43] Keith Taylor, A History of the Vietnamese, Sđd, tr. 380.

[44] Viện Hàn lâm Khoa học Xă hội Việt nam, Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, tập 4, cb. Trần Thị Vinh, Sđd, tr. 456-467.

[45] L. Cadière, “Les français au service de Gia-Long: Nguyễn Ánh et la mission, documents inédits,” BAVH, vol. 13, no. 1 (1926), 21, plate V; Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Sđd, tr.368.

[46] L. Cadière, “Les français au service de Gia-Long: Nguyễn Ánh et la mission, documents inédits,” plate XXIV-XXVI, Sđd, tr. 48; Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Sđd, tr.381.

[47] Sử kư, Sđd, tr. 39.

[48] Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử Nội chiến ở Việt Nam từ 1771 đến 1802, Sđd, tr. 288-307.

[49] Thực lục, quyển 196, tập V, Sđd, tr. 401-402.

[50] Liệt truyện quyển 16, tập II, Sđd, tr. 328.

[51] Sử kư, Sđd, tr., 88.

[52] Liệt truyện, quyển 16, tập II, Sđd, tr. 329.

[53] Liệt truyện quyển 16, tập II, Sđd, tr. 329.

[54] Sử kư, Sđd, tr. 94-95, 140-141.

[55] Liệt truyện, quyển 2, tập II, Sđd, tr. 58.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính