“Mặt Trận Kháng chiến Hoàng Cơ Minh” bịp hay không? Sự thật ngay trong “Khu Chiến” những ngày đầu. Phỏng vấn ông Hoàng Xuyên về “Chiến khu Hoàng Cơ Minh”.

 

Kư giả Tân Dân 

 

 

Hỏi: - Thưa bác Hoàng Xuyên, bác là nhà báo đầu tiên được về thăm Khu Chiến của “Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam” mà người ta thường nôm na gọi là Mặt Trận Hoàng Cơ Minh, tuy nay đă rơ rệt đen trắng nhưng vẫn c̣n là đề tài để đồng hương tranh luận. Có nhiều người đến nay vẫn c̣n mù quáng hoạt động cho Mặt Trận ấy, nhưng hầu hết đều kết tội bọn chủ chốt anh em Hoàng Cơ Minh, Hoàng Cơ Long, Hoàng Cơ Định đều là những tên đại bịp mà các ông Phạm Văn Liễu, Phạm Ngọc Lũy, Trần Minh Công v́ thơ ngây nhẹ dạ nên cũng bị mang tiếng lây. Bác không phải là đoàn viên Mặt Trận, chỉ là một nhà báo duy nhất được mục kích cái Khu Chiến giả tạo và tham dự “Lễ Tuyên Bố Bản Cương Lĩnh Chính Trị”, tiếng nói của bác chắc chắn trung thực để gióng lên một tiếng chuông vô tư theo sự tai nghe mắt thấy hầu làm sáng tỏ thêm vấn đề. Trước hết xin hỏi tại sao không là một người khác, mà bác lại có cái may mắn được mời về thăm Khu Chiến? 

 

Đáp: - Tôi xin đính chính ngay, đó là một “đại bất hạnh”, một “sai lầm to lớn” chớ không phải là may mắn khi tôi nhận lời đại diện tờ Văn Nghệ Tiền Phong đi về cái Khu Chiến “dởm” đó để cũng bị mang tiếng lây! Chuyện Mặt Trận Hoàng Cơ Minh cũ rích rồi, bươi ra làm ǵ nữa để đồng hương phải lợm giọng? 

 

Hỏi: - Xin bác cứ vui ḷng cho biết ư kiến. 

 

Đáp: - Tôi quen ông Phạm Văn Liễu từ khi c̣n ở Sài G̣n. Năm 1975 sang tị nạn tại Hoa Kỳ, ông Liễu thường liên lạc với tôi, tâm t́nh cho tôi biết sơ qua về dự định thành lập “Mặt Trận” với nguyên trung tướng Nguyễn Chánh Thi, rồi sau với cựu phó đề đốc Hải Quân VNCH Hoàng Cơ Minh. Dĩ nhiên tôi hết sức khuyến khích. 

 

Tháng 7 năm 1983 ông Liễu từ miền Nam Cali điện thoại cho biết hôm sau sẽ cùng với 4 người nữa đến nhà tôi ở Milpitas và yêu cầu “tiện nội” tôi sửa soạn cho một bữa cơm trưa 5 người ăn. Khoảng 2 giờ chiều, Liễu đến giới thiệu với tôi những khuôn mặt mà tôi chưa gặp lần nào như Hoàng Cơ Minh, luật sư Vũ Ngọc Tuyền, luật sư Nguyễn Tường Bá và Phạm Ngọc Lũy. Tôi được mời dự thính hội nghị bàn tṛn để nghe Hoàng Cơ Minh phân tích về t́nh h́nh thế giới liên quan đến “cái thế” xuống dốc của Cộng Sản Việt Nam và sự cần thiết khẩn cấp có một lực lượng vơ trang của người Việt hải ngoại bắn một tiếng súng khai hỏa là các tổ chức cách mạng bí mật chống Cộng trong nước sẽ đồng loạt nổi dậy th́ “cái thế tất thắng” (Minh thường dùng cụm từ này) của chúng ta chắc chắn rơ rệt như hai cộng hai là bốn. Cuối cùng, Minh cho biết hai tuần sau sẽ có một số cán bộ ṇng cốt từ Hoa Kỳ về Khu Chiến. Trong lúc ăn cơm Liễu cho biết Phạm Ngọc Lũy đă nhận lời giữ vai hề “Chủ tịch Ủy Ban Yểm Trợ Kháng Chiến Trung Ương” và yêu cầu luật sư Vũ Ngọc Tuyền nhận chức Ủy Trưởng Tài Chánh và tôi làm Phụ tá. Ông Tuyền và tôi đều giữ yên lặng không nhận lời mà cũng không từ chối. Tin buổi họp này bị tiết lộ nên một vài báo Việt ngữ địa phương đă đăng rằng nhà con trai tôi là địa điểm của một buổi họp kín lịch sử. Ít hôm sau, tôi điện thoại hỏi luật sư Vũ Ngọc Tuyền về vai tuồng được mời th́ ông cười trả lời: “Đó là các ông ấy đề nghị chứ tôi đă nhận lời đâu!” Tôi trả lời cũng cùng quan điểm. 

 

11 giờ đêm ngày 10/12/1981, Liễu điện thoại từ Sacramento rủ tôi về Khu Chiến. Trong lúc ngái ngủ, tôi hỏi không suy nghĩ: 

“Khu Chiến nào?” Liễu cười chê tôi là anh cả quỷnh rồi nói: “Ngoài MTQGTNGPVN th́ làm ǵ c̣n có Mặt Trận nào để rủ về Chiến Khu?” Tôi hỏi lại tại sao lại rủ một anh già yếu như tôi, th́ Liễu cho biết Đài Truyền H́nh CBS đă cử cameraman Nguyễn Ngọc Ấn. Liễu biết tôi có một ít kinh nghiệm về nhiếp ảnh nên yêu cầu tôi cùng đi, để phụ trách thu vào ống kính những bức ảnh lịch sử mà anh vững tâm tôi có thừa điều kiện làm tṛn việc đó. 

 

Hỏi: - Bác nhận lời? 

 

Đáp: - Không, tôi từ chối! Tôi nhắc cho Liễu biết tôi đă 64 tuổi (năm 1981) sức đâu mà băng rừng, lội suối, trèo non, th́ Liễu thuyết phục rằng, phụ nữ người ta c̣n đi về như đi chợ, tại sao một “lăo gân” như tôi lại không đi được? Rồi anh cho biết, đến biên giới sẽ có các anh em chiến sĩ vơ trang đón hướng dẫn vào Chiến Khu, họ sẽ mang hết hành lư, máy ảnh, máy quay phim, ḿnh chỉ chống gậy thơ thới hân hoan đi, khi nào mệt th́ dừng lại nghỉ. Liễu cũng cho biết hành tŕnh từ biên giới vào Chiến Khu mất hai ngày. Tôi hỏi biên giới nào, th́ Liễu trả lời: Bí mật quân sự đến nơi sẽ biết! Tôi yêu cầu để tôi suy nghĩ và bàn với tiện nội nếu đi được sẽ trả lời, th́ Liễu muốn tôi nhận lời ngay bằng cách cho tôi biết là có cả Phạm Ngọc Lũy, Hồ Anh, chủ nhiệm báo Văn Nghệ Tiền Phong và một kỹ sư trẻ tuổi ở Oregon cũng cùng đi. Đến Bangkok sẽ có “phái đoàn Nhật Bổn” gồm một giáo sư người Nhật tên Tonoko và một số sinh viên Việt Nam trong nhóm Người Việt Tự Do sống lâu năm ở Nhật, trong đó có Ngô Trí Dũng, Nguyễn Văn Đoàn vân vân... sẽ cùng nhập bọn đi Chiến Khu. Tôi vẫn không dứt khoát nhận lời. 

 

C̣n hai tuần lễ trước ngày lên đường th́ Liễu điện thoại cho biết Hồ Anh và Phạm Ngọc Lũy bị bệnh không đi được. Để tôi trả lời dứt khoát nếu không sẽ t́m người khác, Liễu cho biết Hồ Anh đề nghị sẽ trả tiền vé máy bay khứ hồi cho cả Liễu và tôi với điều kiện tôi nhận lời viết bài tường thuật cho báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tôi điện thoại cho Hồ Anh để sáng tỏ vấn đề, đồng thời tôi vẫn bảo Hồ Anh nên cố đi để viết theo đường lối của tờ báo, th́ anh ta thuyết phục tôi rằng cứ việc ghi đầy đủ tất cả những ǵ tai nghe mắt thấy rồi về viết lại. Nếu cần anh ta sẽ hiệu chính sau. Sau cùng Hồ Anh bảo tôi cứ viết như những bài tôi đă viết cho VNTP trong năm năm qua mà Lê Triết đă có lần “cho điểm” là văn viết vững, rất pro! Thật ra, trước năm 1975, tôi đă từng là thông tín viên chiến trường cho NBC, KTLA Los Angeles, British Commonwealth International News Agency và thông tín viên tự do (free lancer) cho UPI, AP và tuần báo Newsweek, vân vân trong 13 năm, với những biến cố sôi động xảy ra hàng ngày tại Nam Việt Nam, tôi đă viết hàng ngàn bài tường thuật bằng Anh văn. Vậy th́ một bài tường thuật tầm thường dù là “du kư về Khu Chiến” có ǵ mà tôi không viết nổi. Tôi dè dặt là v́ chơi với Hồ Anh từ lâu, biết tính anh ta trở mặt như trở bàn tay, khi nào muốn lợi dụng ai th́ nói như xẻ cửa xẻ nhà, nhưng khi nào v́ mục đích “mị độc giả”, anh sẽ dùng tờ “lá cải” của anh đặt điều vu khống - như vẫn làm-để bôi bẩn bất cứ ai kể cả bạn thân. Tôi sẽ nói thêm về bài báo đăng trong VNTP số 475 ngày 15/10/1995 Hồ Anh “bôi bẩn” tôi chỉ v́ tôi từ chối không làm chứng trong vụ Mặt Trận kiện Hồ Anh, Cao Thế Dung và Nguyên Vũ hồi tháng 11 năm 1994 tại San Jose. 

 

Hỏi: - Đă biết thế, sao bác lại nhận lời đi Khu Chiến để viết bài cho VNTP? 

 

Đáp: - V́ Hồ Anh than rằng hắn thật sự bị bệnh và quá bận, năn nỉ tôi cố gắng giúp hắn, hắn đă đưa tiền cho Liễu để mua vé máy bay khứ hồi cho Liễu và tôi rồi. Vốn có máu giang hồ cộng với ḷng ṭ ṃ muốn biết sự thật có kháng chiến hay không, sau khi bàn sơ qua với tiện nội, một giờ sau khi tôi điện thoại dứt khoát nhận lời đại diện tờ VNTP đi Khu Chiến. 

Theo lời yêu cầu của Liễu từ hai hôm trước, mọi người phải có mặt trước 5 giờ chiều Chủ Nhật 22/2/82 tại nhà Nguyễn Văn N., một đoàn viên của Mặt Trận ở Oakland để cùng ra phi trường San Francisco. Đến nơi, tôi thấy cả Phạm Ngọc Lũy và Hồ Anh, không ai có dáng điệu ǵ đau ốm cả. Tôi hỏi th́ Liễu nói nhỏ vào tai tôi: “Họ là những con thỏ gan to bằng... con kiến. Thoiạ đừng hỏi nữa!” Sau bữa cơm do các anh chị em đoàn viên Mặt Trận khu Oakland khoản đăi để chúc chúng tôi... một ra đi sẽ trở về! Phái đoàn Hoa Kỳ chính thức lên đường gồm có Phạm Văn Liễu, bí danh Trần Trung Sơn, trưởng đoàn, tôi, đại diện bất đắc dĩ tờ lá cải VNTP, Nguyễn Văn Ấn, quay phim cho CBS, kỹ sư trẻ tuổi Trường Sơn Bổn Tài từ Oregon tới. Chúng tôi được khoảng 20 đoàn viên Mặt Trận đưa tiễn tại phi trường San Francisco. Mọi người vui vẻ đứng chụp h́nh lưu niệm với phái đoàn, dĩ nhiên không ảnh nào thiếu mặt hai con “thỏ đế”! Lợi dụng lúc nhân viên đài truyền h́nh CBS phỏng vấn Phạm Văn Liễu trước khi lên phi cơ, Hồ Anh kéo tôi ra một nơi dặn ḍ tôi nhớ ghi mọi chi tiết những ǵ tai nghe mắt thấy để về viết bài và chụp nhiều ảnh. Tôi riễu “biết rồi, khổ lắm, nói măi!” 11 giờ đêm, chúng tôi vui vẻ bước lên phi cơ và sau 15 giờ bay, chúng tôi đến phi trường quốc tế Vọng Các. Ra đón tại phi trường có Nguyễn Kim Hườn, bí danh Nguyễn Kim (hiện giữ chức Tổng Vụ Hải Ngoại sau khi Phạm Văn Liễu bị anh em Hoàng Cơ Minh hạ bệ). Rồi ông bà Nguyễn Chí Trung, bí danh Phan Thái Ḥa (hồi c̣n mồ ma VNCH, ông Trung được bác sĩ Trần Kim Tuyến cử sang làm t́nh báo tại Ṭa Đại Sứ VNCH tại Bangkok; khi miền Nam VN sụp đổ, ông Trung ở lại và trở thành công dân Thái. Ông bà Trung rất thạo Thái ngữ nên đă thành công trong công tác môi giới trung gian với giới chức thẩm quyền Thái Lan để thuê đất rừng làm Khu Chiến cho Mặt Trận). Phái đoàn Nhật Bản gồm năm thanh niên cũng ra đón tại phi trường để cùng nhập bọn với chúng tôi đi Khu Chiến. 

 

Hỏi: - Bác có thể “bật mí” cho biết đích xác Khu Chiến nằm ở đâu không? 

 

Đáp: - Trong loạt bài du kư của tôi chỉ có một đoạn bắt buộc tôi phải viết sai vị trí của Mật Khu, v́ cả Hoàng Cơ Minh lẫn Phạm Văn Liễu đều nhiều lần nhắc nhở mọi người, nếu muốn CSVN đem máy bay đến tàn sát th́ hăy tiết lộ địa điểm Mật Khu cho mọi người biết. Chúng tôi nghĩ vấn đề quan trọng là họ có thật sự chiến đấu hay không, c̣n vấn đề giữ bí mầt địa điểm Mật Khu là điều họ không cần dặn chúng tôi cũng có ư thức bảo mật điều đó. Ít năm sau, mặt nạ bịp bợm của Mặt Trận bị phơi bày, tôi đă viết một bài trần t́nh coi như “viên đạn ơn huệ” (coup de grace) đăng trong VNTP số 233 kể rơ tất cả những bịp bợm và nói rơ địa điểm Khu Chiến nằm sâu trên lănh thổ Thái Lan, thuộc tỉnh Ubon, làng Bultarit, cách biên giới Cao Miên khoảng 15 cây số. 

Tôi xin kể tiếp là sau khi chúng tôi ra khỏi phi trường Bangkok th́ ông bà Nguyễn Chí Trung hướng dẫn mọi người lên hai chiếc xe Toyota minivan đi đến làng Ubon, cách Bangkok khoảng 500 kilômét về phía Đông Bắc, ngừng tại một tiệm ăn nhỏ để dùng bữa. Thái Lan có khoảng 500 ông đại tướng, mỗi ông chia nhau làm chủ một cơ sở thương mại; ông th́ làm chủ một số nhà tắm hơi, ông th́ cai quản một số ṣng bạc, ông th́ có một số ổ măi dâm, vân vân... Đại tướng Sud Sai làm vua vùng Ubon để khai thác gỗ, đồng thời cho thuê một số đất rừng hoang để tổ chức chiến khu như loại Chiến Khu Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Văn Chức (Công Binh) vân vân... Có lần ông Nguyễn Chí Trung hỏi tôi nếu tôi muốn có mấy mẫu đất để làm “chiến khu”, chỉ cần chi cho tướng Sud Sai 20.000 mỹ-kim tiền vào cửa là xong ngay, ngoài ra chỉ phải trả mỗi tháng 3.000 mỹ kim tiền thuê.

Cơm nước xong, mọi người lại lên xe, chạy thêm khoảng 30 cây số th́ đến một làng hẻo lánh có tên là Bultarit nằm ngay bên cạnh một khu rừng già. Xe đến một con đường ṃn độc đạo, có một khúc cây dài (barrière) chắn ngang do hai anh lính địa phương canh gác. Ông Trung xuống xe đưa cho hai người lính xem giấy phép do thủ tướng Thái Lan kư. Anh lính xem xong, chạy vào tŕnh một sĩ quan cấp trên. Viên sĩ quan trẻ tuổi đi ra nói với ông Trung rằng anh không biết Thủ Tướng là ai, chỉ được lệnh Đại Tướng không cho ai vào nếu không có giấy phép do chính đại tướng kư. Th́ ra câu “quan th́ xa, bản nha th́ gần” được áp dụng khắp mọi nơi. Ông Trung cố thuyết phục viên sĩ quan trẻ tuổi nhưng vô hiệu, đành phải cho xe lui đến một pḥng ngủ rẻ tiền gần đó, mọi người xuống để ông bà Trung lái xe trở về Bangkok vận động. Chúng tôi ăn trực nằm chờ ở Bultarit 12 ngày. Ông bà Trung trở lại với giấy phép của tướng Sud Sai sau khi đă nộp 2.000 mỹ-kim tiền măi lộ. Sáng ngày 7/3/1982 chúng tôi rời pḥng ngủ, lại lên xe vượt qua gác canh để vào đường ṃn dẫn đến một cánh rừng rậm, xuất hiện 5 người ăn mặc quần áo đen, tay cầm súng. Nhạc sĩ Trần Thiện Khải, bí danh Trần Khánh, tươi cười tiến đến cho biết anh được lệnh dẫn một tiểu đội đến đây đón chào chúng tôi và hướng dẫn mọi người vào Khu Chiến. Anh phát cho mỗi người một bộ bà ba đen, một đôi dép râu “B́nh Trị Thiên”, một khăn rằn ri và một chiếc mũ bằng vải đen, rồi yêu cầu mọi người vào gốc cây hay bụi rậm gần đó để thay quần áo. Mười phút sau, chúng tôi đă thật sự “lột xác” thành những dị nhân... nửa người nửa ngợm th́ Trần Khánh yêu cầu mọi người tập họp để anh thuyết tŕnh. Anh lập lại lời đă nói: “Tôi được lệnh chiến hữu Chủ Tịch ra đây đón chào chiến hữu Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại (Phạm Văn Liễu) và quư vị trong phái đoàn Hoa Kỳ và Nhật Bổ và mời quư vị theo tôi vào Mật Khu của chúng ta. Đường vào Mật Khu có hơi vất vả, nhưng các anh em chiến sĩ chúng tôi vừa có bổn phận hộ tống, vừa mang hành lư dùm quư vị. Ngoài ra, xin quư vị cứ an tâm, suốt lộ tŕnh vào Mật Khu đều có binh sĩ vơ trang của ta đóng rải rác. Đường đi sẽ phải mất hai ngày, chúng ta sẽ phải ngủ lại đêm nay tại một trạm giao liên”. 

Phải nói rằng Hoàng Cơ Minh và đồng bọn đă mất khá nhiều ngày giờ để soạn thảo một vụ bịp có quy củ, mặc dù đôi khi tréo cẳng ngỗng v́ ông nói gà, bà nói vịt! Đi được một đoạn đường khá xa, đến một cái đồi dưới ánh nắng khó chịu vùng nhiệt đới th́ Khải cho biết có một phụ nữ vào thăm Khu Chiến đến đây bị sỉu nên các anh em chiến sĩ đặt địa danh cho nơi đây là “đồi Bà Sỉu”. Rồi đến một khu đầy dây leo chằng chịt th́ cũng có tên là “đồi Tarzan”, rồi “suối Yamamoto” để kỷ niệm một thân hữu Nhật Bổn đă vào Khu Chiến đến đây v́ nóng bức quá phải xuống tắm. Quá trưa, mọi người ngừng dưới một khu rừng rậm, bóng mát dầy đặc, trên nhiều cây cổ thụ có những cụm lan rừng nở đầy hoa. Gần đó là vài vũng nước đọng trên vài khối đá to bằng cánh phản đầy rêu và cung quăng bơi lội. Khải nói địa danh này là “hồ Xuân Hương”. Ăn trưa xong, mọi người lại khăn gói bị gậy lên đường đi một quăng qua “Suối Mơ”, v́ cách đó khoảng 500 mét có một cái thác nhỏ. Vất vả nhất là lúc băng qua một vùng cát trơ trụi không cây cối dài khoảng 4 cây số. Nắng trên trời chiếu xuống hắt hơi nóng dưới cát lên khiến mọi người vô cùng khó chịu, nơi này cũng được đặt tên là “sa mạc Kháng Chiến”. Khi mặt trời đă lặn, chúng tôi đến một nơi có sẵn một nhà sàn, mái tranh, vách lá c̣n khá mới mà Khải nói đó là “trạm giao liên”. Các anh em “chiến sĩ” chia nhau công tác, người th́ đem thức ăn ra (sôi nếp, muối vừng, cá khô, lạp xưởng...), người lo chụm lửa nấu nước, người lo trải báo làm nơi bày thức ăn. Các anh em khác vác súng chia nhau mỗi người một góc để bảo vệ an ninh cho mọi người. Đêm hôm đó, chúng tôi được nằm trên căn nhà sàn ọp ẹp, c̣n các anh em “chiến sĩ” th́ mắc vơng nằm chung quanh. 

Sáng hôm sau, mặt trời vừa hừng sáng, mọi người lại chuẩn bị lên đường. Từ đây đường đi phần nhiều dưới bóng mát và ít phải leo trèo nên đỡ mệt. Khoảng quá ngọ, chúng tôi được hướng dẫn leo lên một ngọn đồi đầy tre già mọc chi chít. Đến một ven đồi, Khải chỉ cho mọi ngườithấy xa xa phía dưới khoảng 5 cây số đường chim bay, có đường ṃn và rải rác vài căn nhà tranh mà Khải nói đó là “khu vực của Việt Cộng”, rồi y phịa ra những chuyện giật gân rằng khoảng nửa năm về trước, hai chiến sĩ của ta đă phục kích chỗ gần bản doanh của địch, phá hủy một xe Jeep, giết chết hai tên Việt Cộng, nhưng một trong hai “chiến sĩ anh dũng” của ta đă đền nợ nước. Cái đặc biệt là tuy chết nhưng chiến sĩ can trường của ta vẫn ôm trong người khẩu tiểu liên! Mỗi người t́m một chỗ dưới rặng tre để ngồi nghỉ trong khi Khải ra lệnh cho ba chiến sĩ trong “đội thám báo” đi trước thám thính xem có an toàn hay không. Nửa giờ sau, Khải cho biết các chiến sĩ đă trở về và cho biết t́nh h́nh tương đối an toàn nên mọi người âm thầm luồn lách qua những rặng tre để đi thêm khoảng 30 phút th́ trong bụi rậm nhô ra “chiến hữu chủ tịch” và “bộ tham mưu” của ông. Sau này tôi đoán 3 anh “thám báo” chỉ là “đóng kịch” cho có vẻ quan trọng, thật ra họ đi trước báo cho Hoàng Cơ Minh biết chúng tôi đă đến nơi để ra đón. 

 

Hỏi: - Ngày giờ... “lịch sử” ấy là ngày nào? 

 

Đáp: - Khoảng 2 giờ chiều (giờ địa phương) ngày 7/3/1982. Hoàng Cơ Minh gầy g̣, mảnh khảnh trong bộ bà ba đen, râu ria cũng gần giống ... già Hồ! Đầu tiên, “ông Chín” (bí danh của Minh) tiến đến ôm chặt, bắt tay Phạm Văn Liễu và tươi cười nói: 

“Đây là Chiến Khu của chúng ta, xin mời tất cả các chiến hữu đi theo tôi”. Rồi ông ôm từng người và giới thiệu các chiến hữu trong Bộ Tham Mưu gồm có thiếu tướng Tư Lệnh Lê Hồng, bí danh Đặng Quốc Hiền, Nguyễn Trọng Hùng, Trần Văn Lộc, Hoàng Nhật, v.v... Đi khoảng 100 mét th́ đến “đại bản doanh” (sic!) của Mặt Trận. Đây là một khu đất rừng khoảng hơn một mẫu tây, cây nhỏ và cỏ tranh được dọn sạch, chỉ c̣n rải rác một số cây cổ thụ. Mọi người được dẫn vào “hội trường” là một căn nhà mái tranh, vách tre dài khoảng 15 mét, rộng 5 mét. Cuối nhà là một bàn thờ Tổ Quốc làm bằng cây rừng cao khoảng 1 mét 30, trên tường có h́nh bản đồ Việt Nam đè lên lá quốc kỳ Việt Nam màu vàng ba sọc đỏ. Trên bàn thờ ở giữa là một lư hương lớn bằng đồng khói hương nghi ngút, hai bên có hai cây cắm nến (chandeliers) cũng bằng đồng, một bên là đĩa trái cây, một bên là một b́nh bông cắm các loại hoa rừng. Dọc theo chiều dài của các bức tường, treo rải rác những cụm hoa lan (orchids) đủ màu sắc. Đầu bên này căn nhà, đối diện với bàn thờ là lá quốc kỳ VNCH được ghim chặt vào tường. Giữa căn nhà, theo chiều dài là một bàn dài làm bằng thân cây rừng, hai bên có hai dẫy ghế dài cũng làm bằng thân cây c̣n cả vỏ. Đầu bàn hướng về phía trên bàn thờ là một ghế cá nhân có dựa tay cũng bằng cây rừng. Vào đến “hội trường”, Hoàng Cơ Minh ngồi trên chiếc ghế chủ tọa và mời tất cả các “đồng chí” an tọa hai bên. Ngồi cạnh Minh bên tay mặt là Liễu, bên trái dành cho tôi, người lớn tuổi nhất trong đám. Sau những lời chào sáo ngữ, Minh lại “vở cũ soạn lại” kể lể và phân tích những khó khăn Việt Cộng đương gặp phải nhất là vấn đề kinh tế lụn bại, mức sống của người dân sau 7 năm độc lập, thống nhất vẫn đói khổ, Việt Nam được xếp hạng là một quốc gia nghèo nhất thế giới nên dân t́nh oán trách, những phong trào cách mạng trong nước bí mật thành h́nh chỉ chờ hải ngoại “bắn súng lệnh” là họ sẽ nhất loạt đứng lên tiêu diệt bọn Cộng Sản khát máu. Đến phần phát biểu ư khiến, tôi hỏi vấn đề lương thực có đủ cho các anh em chiến sĩ th́ Minh đáp: “Nhờ tinh thần vượt mọi khó khăn, quyết tâm diệt Cộng giải phóng quê hương nên các chiến hữu cũng như cá nhân tôi, cơm th́ ngày được ăn với cá khô, một tuần phải xen kẽ một vài bữa cháo hoa với trứng vịt muối, đau ốm th́ chỉ có aspirin và tylenol. Nói đến đây, Minh vén ống quần lên cho tôi thấy từ đầu gối xuống đến mắt cá chân có nhiều mụn nhọt to bằng vẩy cá hay đồng quarter, rồi nói tiếp: “Chính bản thân tôi bị ghẻ lở như thế này mà cũng không dám bỏ tiền đi khám bác sĩ.” Hít một hơi thuốc lá, Minh lại nói: “Quần áo không ai đủ mặc, nhưng ai cũng vui vẻ hăng hái làm nhiệm vụ.” Tôi lại hỏi: “Sao không sắm lấy ít chiếc nỏ để anh em chiến sĩ săn hươi nai, cáo chồn... tưởng cũng giải quyết được phần nào vấn đề lương thực.” Minh cười: “Có chứ, thỉnh thoảng cũng hạ được hoặc heo rừng hoặc mang mễn, nhưng hàng ngày th́ có hai đồng chí có kinh nghiệm cao về “bẫy chuột”. V́ sợ chuột nghe thấy nói đến tên ḿnh sẽ không vào bẫy nên các anh em cứ phải nói trệch hỏi nhau”hôm nay được mấy ông chí, chứ không dám dùng danh từ “chuột”! Tôi lại hỏi có được sự trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp của Hoa Kỳ không, th́ Minh trả lời: “Hoàn toàn không. Trước hết chúng ta phải tự cứu và phải làm được những ǵ cụ thể tốt đẹp mới mong người ngoài trông thấy rồi trợ giúp chúng ta.” Rồi ông phịa ra câu chuyện: “Nếu có tiền th́ công cuộc giải phóng quê hương rất nhanh, v́ cách đây không lâu có một tiểu đoàn địch, khoảng 300 người, liên lạc cho biết muốn đem cả vũ khí chạy về với chúng ta. Nhưng chúng tôi không dám nhận v́ tiền đâu mà nuôi họ ăn hàng ngày. Người nào không có quần áo, vũ khí th́ tiền trang bị vũ khí, quần áo mỗi người cũng phải tốn khoảng 200 mỹ-kim.” Rồi Minh kết luận: “Công cuộc giải phóng quê hương là nhiệm vụ chung của mọi người Việt Quốc Gia, tôi yêu cầu các chiến hữu khi trở lại Hoa Kỳ hăy dùng cơ quan ngôn luận kêu gọi đồng hương khắp nơi trên thế giới tiếp tay cùng chúng tôi th́ chắc chắn quê hương chúng ta sẽ được giải phóng một ngày không xa.” Sau khoảng 2 giờ trao đổi ư kiến mà đúng ra là để nghe “ông Chín” phịa ra những chuyện trên trời dưới biển, mọi người được mời tham quan một vài nơi như nhà bếp, sân tập dượt quân sự, ngôi nhà tranh nhỏ nơi “ông Chín” làm việc và ngủ, rồi ông dẫn đến một cái suối nước chảy rất yếu, cách “đại bản doanh” khoảng 100 mét, được gọi là “Suối Thiên Phù”, v́ - theo lời Minh - ở một khu rừng thiêng nước độc như thế này, bỗng có một ngọn suối nằm ngay bên cạnh Mật Khu th́ quả là thượng đế thương mà phù hộ cho những người chiến đấu v́ quê hương. Khi mặt trời đă bắt đầu lặn, chim chóc đă xào xạc bay về tổ, mọi người được mời đến một góc rừng, dưới mấy cây cổ thụ có một bàn dài làm bằng thân cây rừng. Ngay gần đó là một lều tranh dùng làm nhà bếp. Ông Chín ngồi đầu bàn, mọi người ngồi hai bên. Ông Chín cho biết bữa cơm hôm nay là “đại tiệc” v́ được ăn rau, cá khô, lạp xường và ruốc thịt heo. 

Sau bữa “đại tiệc”, tôi được một chiến hữu dẫn đến một căn lều nhỏ chỉ vừa một người nằm, giữa đám cỏ tranh cao ngất. V́ có muỗi và đêm lạnh nên anh chiến sĩ mắc cho tôi chiếc mùng cá nhân màu cứt ngựa và một mền đơn cũng của nhà binh. Suốt hai ngày đi đường mệt nhọc, tôi nằm xuống là ngủ như chết. Khoảng 5 giờ sáng hôm sau, Liễu đến cḥi tôi ngủ, ngồi bên cạnh và cho tôi biết hôm nay, tại buổi lễ tuyên bố Bản Cương Lĩnh Chính Trị, lúc đến phần đại diện các đoàn thể phát biểu ư kiến th́ tôi là người lớn tuổi hơn cả trong phái đoàn Hoa Kỳ sẽ được mời ra phát biểu đầu tiên. Sau những lời ca tụng sự hy sinh và can trường của các anh em chiến sĩ, Liễu dặn tôi đừng quên tuyên bố lớn rằng tôi sẽ “ủng hộ Mặt Trận 2.000 mỹ-kim để mua vũ khí”. Tôi ngồi nhỏm dậy bảo Liễu: “Tôi đem theo 2.000 mỹ-kim, nhưng nằm “valise” 12 ngày ở làng Bultarit, phần nhiều ăn uống tôi phải bỏ tiền ra trả, cộng thêm tiền mua rượu, quà tặng các anh em chiến sĩ, tôi làm ǵ c̣n đủ hai ngàn mà tặng ai?” Liễu cười bảo tôi: “V́ có gần 30 người ở Thái và Lào đến dự nên anh (tức tôi) chỉ làm cử chỉ c̣ mồi chứ đâu có phải bỏ tiền ra mà sợ.” 

Sau khi rửa mặt, tôi được một “chiến hữu” đem hành trang của tôi gồm hai máy ảnh cùng nhiều phim ảnh và cuốn sổ đựng trong hai bao da đen, hướng dẫn tôi đến địa điểm hành lễ là một khu bằng phẳng nằm bên cạnh đồi, phía trong là một phiến đá thiên nhiên mặt bằng phẳng như một bức tường cao khoảng hơn 10 mét, rộng 5 mét. Một lá quốc kỳ VNCH màu vàng ba sọc đỏ vĩ đại được căng thẳng trên mặt tường đá. Phía dưới có ba hàng ghế dài để Chủ Tịch và Ban Tham Mưu ngồi hàng ghế trước, c̣n các đồng bào và phái đoàn các nước ngồi hai hàng ghế sau. Những khẩu hiệu dài nền vàng chữ đỏ được giăng từ cây cổ thụ này sang cổ thụ kia kín cả khu hành lễ. Dưới mỗi khẩu hiệu là những lá quốc kỳ VNCH treo dầy đặc như một rừng cờ. Đến địa điểm hành lễ khoảng 8 giờ, tôi thấy ông Minh và mọi người trong Bộ Tham Mưu đă có mặt đầy đủ. Ông Minh, Liễu và Lê Hồng ra đứng nơi chiếc cổng duy nhất để đón các đơn vị vơ trang vào tham dự buổi lễ. Loa phóng thanh bắt đầu hô to: “Đây là tiểu đoàn Pháo Binh 27 vào khu hành lễ” th́ khoảng 20 anh chị em chiến sĩ vũ trang đủ loại súng săn cổ lỗ sĩ, mousquetons, tiểu liên AK..., đi đầu là chiến hữu chỉ huy đơn vị vừa đeo súng vừa vác hành lư, cùng đi hàng một qua chiếc cổng được “chiến hữu Chủ Tịch” tươi cười vỗ tay đón chào. Rồi đại đội “Thám Báo 36”, trung đoàn “Xung Kích 45”, “trung đội Cảm Tử 72”, vân vân và vân vân... Điều đáng chú ư là số của mỗi đơn vị, nếu cộng lại đều thành số hên “9 nút”. Khoảng gần 200 chiến sĩ vừa đực vừa cái lần lượt vào đứng chung quanh khu hành lễ. Tôi đứng chụp h́nh khi họ đi qua khiến tôi lại nhớ đến cái đoàn quân “Tàu phù ô hợp” của Lư Hán khi sang miền Bắc nước ta tước vơ khí quân đội Nhật năm 1945. Có những chiến sĩ lối phục sức. mặt mày, tóc tai khá kỳ dị! Trong lúc hành lễ, lợi dụng đệ tứ quyền của một nhà báo tôi len lỏi đi vào những nơi các binh sĩ đứng để chụp ảnh và phỏng vấn một số chiến sĩ đứng phía sau th́ không ai thèm trả lời! Đến một nơi khác, tôi lại hỏi th́ một chiến sĩ người Việt bảo tôi: “Họ là người Lèo, đâu có biết tiếng Việt mà bác hỏi!” Th́ ra, Bộ Tham Mưu Mặt Trận đă thuê khoảng 3/4 số người Lèo giả là binh sĩ đứng phía sau với mục đích “mập mờ đánh lận con đen” để chúng tôi chụp h́nh quay phim quảng cáo với đồng hương rằng lực lượng của Mặt Trận có nhiều, rất nhiều, nhưng chỉ có một số tối thiểu từ các mặt trận gần về tham dự mà thôi. Thật ra th́ thực lực quân số của Mặt Trận vỏn vẹn có khoảng không hơn 40 thanh niên ốm yếu lấy từ các trại tị nạn ra. 

Buổi lễ khởi sự bằng nghi lễ thông thường: chào quốc kỳ, phút mặc niệm, đến diễn văn khai mạc của ông Phan Thái Ḥa, lời hiệu triệu chiến sĩ của tướng Đặng Quốc Hiền (Lê Hồng), diễn văn của Trần Trung Sơn (Phạm Văn Liễu) rồi kế tiếp là “hịch” của chủ tịch Hoàng Cơ Minh; sau đó Bản Cương Lĩnh được đọc to, mọi người đồng loạt giơ quả đấm lên cao hô to “Việt Nam Độc Lập Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản!” Sau đó một số chiến sĩ được tuyên dương công trạng và được gắn huy chương trong đó có bà Cao Thị Phượng Loan (vợ Nguyễn Chí Trung), Trần Văn Lộc là hai người có công tiếp tế đều đều cho Mặt Trận. Chiến sĩ Hoàng Nhật được khen thưởng v́ đă chỉ huy mặt trận tả ngạn sông Cửu Long đánh nhiều trận làm đối phương thiệt hại lớn về nhân mạng và vũ khí (sic!). Cuối cùng là phần phát biểu của đại diện các phái đoàn và đoàn thể. Tôi được mời đầu tiên. 

 

Hỏi: - Bác vẫn nhớ lời Liễu dặn đấy chứ? 

 

Đáp: - Nhớ lắm chứ! Đó là “nghề của chàng mà”! Năm 1945 tham gia “Mặt Trận Kháng Chiến Nam Bộ” tôi bị thực dân bắt cùng Huỳnh Tấn Phát nhốt trong Khám Lớn Sài G̣n 18 tháng. Ở trong tù tôi đă tham dự một lớp huấn luyện về tài hùng biện trước công chúng nên sau khi lớn tiếng ca ngợi “ḷng hy sinh dũng cảm vô biên của các chiến sĩ, con yêu của tổ quốc Việt Nam đă v́ đại cuộc mà hy sinh cả gia đ́nh hạnh phúc, lẫn cuộc sống đầy tiện nghi tại các quốc gia văn minh về đây hăng say làm lại lịch sử. Để tỏ ḷng ngưỡng mộ sâu xa đó tôi xin ủng hộ Mặt Trận số tiền hai ngàn mỹ-kim để mua thêm súng đạn diệt thù. Tôi mong rằng hiện diện tại đây cũng có nhiều vị mạnh thường quân yêu nước sẽ nhiệt liệt ủng hộ không những tinh thần mà cả vật chất để các anh em chiến sĩ có thêm phương tiện làm tṛn sứ mạng”. Sau khi tôi dứt lời, tiếng vỗ tay vang dội cả khu rừng. 

Khoảng 12 giờ th́ buổi lễ bế mạc, sau khi tiễn phái đoàn Việt kiều ở các nước lân bang ra về, ông Chín vui mừng hướng dẫn chúng tôi đi tham quan một số cơ sở kể cả việc dẫn vào một hang đá trong đó có một máy điện nhỏ cũ rích và một số dụng cụ mà ông Chín nói đó là để thiết lập đài phát thanh. “V́ không có tiền”, ông Chín nói tiếp, “nên cứ phải mua dần dần mà chỉ dÔám mua đồ cũ chớ tiền đâu mà mua dụng cụ mới! Chỉ trong một thời gian ngắn chờ một số máy móc ở Nhật gửi về đài phát thanh sẽ có thể hoạt động, chắc chắn vùng Đông Nam Á, nhất là Việt Nam có thể nghe rất rơ tiếng nói của Mặt Trận!” 

Chiều hôm đó, ông Chín dành cho tôi và chú Nguyễn Ngọc Aăn của Đài CBS lần lượt phỏng vấn. Trong lúc phỏng vấn, ông Minh nhắc đi nhắc lại rằng chú Ấn và tôi phải giữ tuyệt đối bí mật địa danh của Mật Khu và khi trở về Hoa Kỳ tôi phải dùng mọi phương tiện thông tin để thuyết phục đồng hương Việt Nam khắp thế giới hăy yểm trợ “tất cả cho Mặt Trận” th́ đại sự mới mau thành công. Ông nói ông và các chiến hữu của ông đă uống máu ăn thề rằng con đường độc đạo họ phải đi là con đường “Đông Tiến” hướng về quê hương Việt Nam, kẻ nào đi giật lùi kể cả ông Minh, những người phía sau có quyền xả súng. Ông và các chiến hữu của ông cũng đă quyết liệt nói với vợ con rằng chỉ sau khi Việt Nam được thật sự giải phóng khỏi ách thống trị của Cộng Sản th́ họ mới trở lại với gia đ́nh; ngược lại hăy coi họ như đă đền nợ nước. Sau cuộc phỏng vấn, tôi ngỏ ư cho Minh biết hôm sau chú Ấn và tôi sẽ quay phim, chụp ảnh đời sống của các anh em chiến sĩ đồng thời phỏng vấn họ th́ Minh nói ngay rằng các chiến sĩ, sau buổi lễ đă trở về đơn vị tác chiến hết, chỉ c̣n vài chiến hữu ở lại canh gác, không c̣n ai mà phỏng vấn. Minh cho biết, sáng sớm hôm sau, điểm tâm xong th́ tất cả các chiến hữu trong hai phái đoàn Hoa Kỳ và Nhật cùng ra về. Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao không cho chúng tôi ở thêm một ngày nữa để nghỉ ngơi và có dịp quan sát doanh trại th́ Minh nhanh trí trả lời: “Trước khi các chiến hữu vào th́ chúng tôi mong từng giờ từng phút, nhưng sau khi hành lễ xong th́ chúng tôi lại mong quư chiến hữu rời nơi này càng sớm càng tốt, sợ số người từ các quốc gia khác đến tham dự buổi lễ có Cộng Sản trà trộn, họ về từ chiều hôm qua có đủ th́ giờ báo cho địch biết đem máy bay đến bỏ bom tàn sát, trách nhiệm đó ai chịu? Tôi mong các chiến hữu thông cảm.” Tôi đi lang thang gặp một số cán bộ hỏi ḍ: “Mặt Trận có bao nhiêu chiến khu?” người th́ nói rất nhiều, người th́ nói năm sáu chiến khu. Về quân số th́ họ “tiết lộ” rằng có nhiều ngàn người rải rác trên các mặt trận, kể cả tại quê nhà vùng giáp ranh Việt Lèo. Có chiến hữu cho tôi biết đây là Đại Bản Doanh số 7, nhưng mươi phút sau hỏi một chiến hữu khác trong Bộ Tham Mưu th́ lại xác nhận đây là Bản Doanh số 9. Hỏi một binh sĩ th́ anh này “tân binh” nên nói thật: “Cháu vào đây gần 3 tháng, nhưng có đánh đấm ǵ đâu.” Lúc chúng tôi rời Mật Khu, ông Chín đứng chặn lối ra bảo tôi: “Bác Hoàng Xuyên là người lớn tuổi hơn cả, yêu cầu bác nói với tất cả các anh em trong hai phái đoàn Nhật và Hoa Kỳ chụp được bao nhiêu cuốn phim, xin đưa cho tôi, tôi sẽ giao cho hai chiến hữu vơ trang đi theo. Khi đến Bangkok sẽ trả lại đầy đủ cho các chiến hữu, v́ sợ đến chỗ đồn canh, lính Thái xét tịch thu hết th́ không lẽ chúng ta lại tổ chức lại buổi lễ để chụp h́nh quay phim hay sao?” Tôi làm theo lời Minh yêu cầu, thu tất cả phim đưa cho Minh, nhưng riêng tôi, có hai cuốn mỗi cuốn 36 kiểu chụp hết rồi nhưng tôi ngại lấy ra cứ để trong máy, nhờ đó mà sau này c̣n có một số ảnh phổ biến. 

 

Hỏi: - Cũng có khá nhiều ảnh Chiến Khu được phổ biến trên các báo, nhất là trên tờ VNTP, vậy ảnh ấy của ai? 

 

Đáp: - Tôi đă nói tôi c̣n hai cuốn phim, mỗi cuốn 36 kiểu nằm trong hai máy ảnh, là phim tôi chụp buổi lễ, tôi không đưa ông Minh nên mới có ảnh mà in lên các báo. Một điều tự tố cáo cái mưu mô xảo quyệt của Mặt Trận là lúc vào làng Bultarit đến Chiến Khu thời gian đi mất hai ngày, nhưng khi trở ra bằng đường tắt bằng phẳng dễ đi, lại chỉ mất có hơn hai giờ.

 

Hỏi: - Bịp bợm như thế với mục đích ǵ? 

 

Đáp: - Tôi đoán, có lẽ lúc đầu họ bàn với nhau dẫn phái đoàn đi ṿng vo trong rừng để họ nói láo rằng Mật Khu nằm trên lănh thổ Cao Miên. Nhưng sau, họ đổi ư dẫn về bằng đường tắt cho chính họ đỡ vất vả. 

 

Hỏi: - Lúc đi vào “mật khu”, bác và mọi người không biết họ dẫn đi ṿng vo tam quốc hay sao? 

 

Đáp: - Làm sao định hướng được, nhất là họ dẫn vào những khu rừng già dầy đặc, tối om, có chỗ người hướng dẫn phải dùng dao chặt những cây nhỏ để có lối đi. Lấy một thí dụ, chúng ta được dẫn đến một khu phố đông đúc ở bất cứ thành phố nào rồi bảo ta t́m đường về khách sạn, ta có làm được không? Chiến hữu Chủ Tịch rời Chiến Khu sau chúng tôi, thế mà khi chúng tôi đến khách sạn ở Bangkok đă thấy chiến hữu chủ tịch có mặt ở khách sạn, tắm rửa, thay quần áo sạch sẽ rồi. Chiến hữu chủ tịch t́m tôi và gặp ở chân cầu thang, câu đầu tiên chiến hữu chủ tịch hỏi: “Bác Hoàng Xuyên hứa ủng hộ Mặt Trận 2.000 dollars, một số anh em chiến sĩ chờ bác đưa tiền để họ đi mua súng đạn ngay!” Tôi ngạc nhiên hỏi lại Minh: “Thế anh Liễu không nói ǵ với anh à?” Minh lắc đầu. Tôi yêu cầu Minh cho tôi vài phút để gặp Liễu rồi sẽ nói chuyện lại. Gặp Liễu, tôi cằn nhằn th́ Liễu cười nham nhở xin lỗi v́ nhiều việc nên quên chưa nói cho Minh biết và Liễu hứa sẽ t́m ngay Minh để nói rơ vấn đề. Sau khi gặp Liễu, chỉ năm phút sau gặp lại tôi, Minh đổi ngay thái độ thờ ơ, mặt lạnh như tiền! Tôi hơi khó chịu, nhưng vẫn hỏi về những cuộn phim th́ Minh bảo tôi hỏi một chiến hữu khác, tồi chiến hữu khác lại chỉ cho một chiến hữu thứ ba, rốt cuộc không ai biết ai là người giữ mấy chục cuộn phim! Rứa là... ḥa cả làng 

 

Hỏi: - Lạ nhỉ! Sao họ lại muốn giữ độc quyền, không muốn để các người thông tin có tài liệu phổ biến những cái họ muốn quảng bá? Phái đoàn Hoa Kỳ sau khi rời Bangkok th́ đi đâu, có chuyện ǵ xảy ra không? 

 

Đáp: - Câu trả lời này xin nhường cho các “quan” có thẩm quyền trong Mặt Trận. Trên đường trở về Hoa Kỳ, chúng tôi theo Liễu ghé Tokyo một tuần lễ để Liễu họp các anh em trong nhóm “Người Việt Tự Do”. Chúng tôi được thong thả nên rủ Tài đi Atami thăm ông bạn đồng tuế Lê Văn Quư, một nhà bác học Việt Nam nổi tiếng đă từng bán trên 200 bằng sáng chế (inventions) cho Chính Phủ Nhật. Ngồi trên xe lửa tốc hành, tôi nói cho Tài biết những cái “tréo cẳng ngỗng” trong Mật Khu, tôi nghi đây lại là một tṛ bịp mà nếu chúng tôi không khéo sẽ bị vạ lây. Tôi nhắc lại số lượng các chiến sĩ tham dự buổi lễ phần đông là người Lèo, số các đơn vị chiến đấu đều “9 nút”, những lời tuyên bố trái ngược nhau, tại sao lại dẫn đường đi ṿng vo trong rừng đến hai ngày trong khi chỉ cần vài giờ. Tại sao lại lừa dối để chiếm mấy chục cuộn phim, thái độ lạnh nhạt của Minh về số tiền 2.000 dollars, vân vân. Tôi nói khi trở lại Hoa Kỳ có lẽ tôi sẽ không viết lách ǵ cả. Lập tức Trường Sơn Bổn Tài nổi khùng liền lên lớp tôi: “Cháu nghĩ rằng bác là tay sai Cộng Sản th́ hăy có ư nghĩ bất hợp tác như thế! Bác nên nhớ khi Hồ Chí Minh thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương trong hang Pac Bó chỉ có ba người. Thế mà, sau khi được quần chúng tích cực tham gia ủng hộ, họ đă giành được độc lập trong tay thực dân Pháp và làm cho Mỹ phải bỏ chạy khỏi Đông Dương. Vạn sự khởi đầu nan, bác phải để cho người ta có cơ hội, có đà vươn lên đại sự mới thành công được. Chưa ǵ bác đa định phá hoại ngay th́ chỉ có địch mới có những hành động vô trách nhiệm như thế!” Để tránh một cuộc tranh luận với một người trẻ đương đầy nhiệt huyết, tôi cáo lỗi rời chỗ đó đi về phía pḥng vệ sinh. 

 

Hỏi: - Tại sao bác viết cho VNTP? 

 

Đáp: - Về đến nhà hai tuần lễ, tôi vẫn ở trong t́nh trạng bất động trong khi Hồ Anh hàng ngày hai ba lần điện thoại hối thúc tôi viết bài, sợ để lâu tin tức sẽ thiu (stale news). Tôi nói rơ tất cả cho Hồ Anh biết những uẩn khúc, nghi kỵ tai nghe mắt thấy của tôi, kể cả việc Minh và Liễu dặn chú Ấn (CBS) và tôi đánh lạc hướng đường vào Mật Khu, th́ Hồ Anh nói việc ấy không quan trọng. Cuối cùng Hồ Anh bảo tôi cứ viết lại đầy đủ để anh ta định liệu. Loạt bài du kư “Về Thăm Chiến Khu Vùng Giải Phóng” được đăng trên VNTP từ số 151 (ngày 1/5/1982) đến số 156 (ngày 16/7/1982). Sau loạt bài của tôi th́ hầu như, trừ những người cố hữu chống đối Mặt Trận v́ lư do này hay lư do khác, tất cả người Việt hải ngoại đều thật sự lên cơn sốt, ai cũng phải công nhận từ trước đến giờ chưa có một phong trào đấu tranh nào được hầu hết mọi người cuồng nhiệt ủng hộ như Mặt Trận HCM. Những “Phong Trào Yểm Trợ Kháng Chiến” được mọc lên khắp đó đây trong một thời gian kỷ lục. Riêng ở Hoa Kỳ tại bang Cali, ngoài “Ủy Ban Yểm Trợ Kháng Chiến” địa phương, người ta c̣n thành lập ở các công tư xưởng, hăng buôn những nhóm “yểm trợ kháng chiến” riêng rẽ do một người được anh chị em bầu lên làm “Trưởng ban” có nhiệm vụ thâu tiền yểm trợ hàng tháng của mọi người trong nhóm không cần biết người đó có ưng thuận đóng góp hay không. Nơi th́ họ ấn định tiền yểm trợ tính theo bách phân (percentage) của tiền lương mỗi cá nhân. Tại các siêu thị, các pḥng mạch bác sĩ, nha sĩ, bệnh viện, rạp hát, rạp chiếu bóng và cả tư gia cũng có những “Hộp Kháng Chiến” để mọi người có dịp tham gia tỏ ḷng yêu nước. Ngoài ra, người ta c̣n thường xuyên tổ chức, tại những đô thị lớn trên khắp thế giới những nơi có đông người Việt cư ngụ, những đêm liên hoan, văn nghệ có chiếu phim Kháng Chiến với giá vé cắt cổ, vậy mà những rạp hát chứa năm sáu ngàn người không c̣n chỗ trống. 

 

Hỏi: - Thời gian đó nhiệm vụ của bác làm ǵ? 

 

Đáp: - Người ta yêu cầu tôi đóng vai “nhân chứng sống” phải khoác vào người bộ áo bà ba đen, đi giép râu, quàng khăn rằn ri đến các nơi tổ chức văn nghệ để ba hoa chích cḥe kể lể cuộc hành tŕnh đầy... gian khổ vào Mật Khu! Cũng có những nơi như Sacramento, Oregon mời cá nhân tôi đem cuốn phim đến chiếu và nói chuyện tại một rạp hát cho hàng ngàn người nghe. Tôi cũng khá bận rộn v́ các báo, đài truyền h́nh Mỹ đến phỏng vấn. Điều lạ lùng nữa là, tôi không là cái quái ǵ trong Mặt Trận, thế mà mỗi buổi tối khách vào ra nườm nượp! 

 

Hỏi: - Bác có nghĩ rằng bác cũng chịu một phần trách nhiệm về sự lừa bịp của Mặt Trận không? 

 

Đáp: - Nào có ai nghĩ đến chữ “ngờ”, nhất là trước đó các báo đă không ngớt lời ca tụng ông Minh là một tướng sạch, đứng đắn và ông Liễu là một chuyên viên đảo chánh nặng ḷng với quê hương đất nước, tin cậy được. Ai cũng tưởng các ông ấy kháng chiến thật chớ nếu biết họ bịp bợm th́ riêng tôi, được ăn cái “dải rút” ǵ đâu mà mất công ủng hộ các ông ấy! Nếu kết tội tôi th́ những người khác cũng có tội “ngây thơ” nên bị bịp lừa như tôi.Tóm lại, anh em Hoàng Cơ Minh biết lợi dụng đúng lúc, đúng thời điểm ḷng căm thù Cộng Sản của người Việt bỏ nước ra đi đă lên đến tột độ, tổ chức kháng chiến để tha hồ móc túi đồng hương một cách công khai vô tội vạ. Cũng có thể, lúc mới đầu Hoàng Cơ Minh định dấn thân thật sự kháng chiến giải phóng quê hương, nhưng sau thấy đường về Việt Nam dài quá, vạn triệu khó khăn nguy hiểm không khác ǵ đường lên Hỏa tinh trong khi tiền yểm trợ ồ ạt vào như nước, ḷng yêu nước bị ḷng tham chi phối, Minh lơ là để mấy ông em, nhất là Hoàng Cơ Định, một người trẻ tuổi đầy tham vọng, tha hồ thao túng bằng cách dựa trên uy thế và tiền tài của Mặt Trận, dùng sắt máu thẳng tay đàn áp những người dám chống đối Mặt Trận. 

 

Hỏi: - Theo sự xét đoán của bác th́ Mặt Trận có ai về được Việt Nam chưa? 

 

Đáp: - Tôi tin chắc 100% rằng chưa, mặc dù tờ báo Kháng Chiến của Mặt Trận thường đăng những tin giật gân tưởng tượng nào là quân du kích của Mặt Trận vẫn tung lựu đạn vào xe quân sự của địch, đặt bom phá hủy nhiều cơ sở địch ngay tại Sàigon Chợlớn hoặc các chiến sĩ Mặt Trận đă phục kích đoàn xe quân sự địch trên đường Sàig̣n Đàlạt đốt nhiều xe và giết nhiều địch, vân vân. Nếu quả những biến cố này thật sự xảy ra th́ không thể nào bưng bít được bọn phóng viên quốc te. Ngoài ra, thời gian đó, nhiều đồng hương được gia đ́nh bảo lănh đi thẳng từ Sàig̣n sang Hoa Kỳ bằng máy bay, rất ngạc nhiên về những tin thất thiệt của tờ Kháng Chiến. Họ nói ở Sàig̣n vẫn yên tĩnh, không hề nghe thấy báo chí hay ai nói đến những “chiến công” mà tờ báo Kháng Chiến đă trắng trợn tưởng tượng phịa ra. Thật là chuyện “đêm giữa ban ngày”! 

 

Hỏi: - Thời điểm nào bác ngưng hoạt động cho Kháng Chiến? 

 

Đáp: - Ngày 16/4/1982 Hoàng Cơ Minh đến Santa Ana mà các báo chí loan tin bịp rằng “Phái đoàn Mặt Trận do chiến hữu Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh cầm đầu từ quốc nội (sic) đến thăm đồng hương hải ngoại. Một cuộc meeting khoảng trên 5.000 người tụ tập lại tại một rạp hát để đón Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh đến có xe máy dầu cảnh sát Mỹ hộ tống. Người ta coi Chủ Tịch Hoàng Cơ Minh như một vị cứu tinh dân tộc. Khi ông Minh bước ra khỏi xe th́ tiếng hoan hô vang dội, người ta xúm lại công kênh ông Minh lên cao như công kênh một cầu thủ túc cầu đă đá lọt lưới đối phương nhiều bàn.” 

Ngày 17/4/1982 Minh chủ tọa một cuộc họp báo có Trần Minh Công ngồi bên. Dưới hàng ghế kư giả có tôi. Khi nghe Minh lớn tiếng tuyên bố “Mặt Trận hiện có 10.000 chiến sĩ vơ trang đầy đủ đương chiến đấu rải rác tại nhiều nơi ở quê nhà”, tôi vô cùng sửng sốt v́ một câu tuyên bố quá láo khoét thốt ra từ cửa miệng một người lănh đạo. Bởi v́, nếu quả thật Mặt Trận có đến 10.000 người vơ trang đầy đủ th́ chắc chắn đă xảy ra nhiều cuộc đụng độ, mà đă có đụng độ th́ không tài nào giấu nhẹm được bọn phóng viên quốc tế. Thật sự lực lượng Mặt Trận có khoảng không đầy 50 người. Nếu nói phét thổi phồng thành 500 đă là quá, c̣n có thể nghe được. Cho ra con số 10.000 là khinh thường dư luận quốc tế, khinh thường đồng hương và là một điều vô ư thức, nếu không muốn nói là ngu xuẩn! Tôi lập tức ra khỏi pḥng họp báo và gọi ngay điện thoại cho Liễu biết kể từ giờ phút đó, tôi không c̣n dính líu đến Mặt Trận, và dù vé máy bay đă mua rồi tôi cũng sẽ không dự “Đại Hội Chính Nghĩa” tại Hoa Thịnh Đốn được tổ chức vào tháng sau. Không tham dự đại hội này để làm tṛ hề, Liễu giận tôi lắm. Hai năm sau có một sự nứt rạn giữa Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu. V́ sợ mọi trách nhiệm về tiền bạc sẽ đổ lên đầu ḿnh, Liễu quyết liệt bằng những văn thư chính thức yêu cầu Phan Vụ Quang (tức Hoàng Cơ Định) phải tŕnh cho Liễu xem sổ sách kế toán, th́ lập tức Hoàng Cơ Minh dùng quyền của ḿnh thẳng tay cách chức Liễu cho Nguyễn Kim Hườn thay thế. Nhờ hai bên tố nhau, những bí mật bịp bợm của Mặt Trận được bật mí cho công chúng biết. Tôi rất mừng đă dứt khoát lánh xa Mặt Trận. 

Tiện đây tôi cũng nói phớt qua về cụ Phạm Ngọc Lũy, đối với tôi không hề có “ân oán giang hồ”, tôi vẫn kính mến mặc dù cụ ít tuổi hơn tôi. Một vài thân hữu tỏ vẻ tiếc tiền v́ đă mua lầm hai cuốn hồi kư mà cụ không hề nói lên được điểm nào mà mọi người trông đợi về cái bịp bợm của Mặt Trận mà cụ là chủ tịch ủy ban yểm trợ trung ương khiến đă có lần tờ VNTP đưa nghi vấn là cụ cũng có chia “verbe”. Trọn hai cuốn hồi kư cụ chỉ kể lể “cái thằng tôi đáng ghét” lẫy lừng của cụ. Họ cũng cho biết có khoảng một ḍng rưỡi viết về tôi (Hoàng Xuyên) th́ cụ lại dùng ngôn từ hằn học, thiếu vô tư, ngụ ư bênh Hoàng Cơ Minh và trách cứ về việc tôi bỏ pḥng họp báo để chống đối lời nói khoác lác quá trớn của Hoàng Cơ Minh. 

 

Hỏi: - Theo bác, th́ Hoàng Cơ Minh có thật đă bị giết chết ngày 26/8/1987 mà các báo đă đăng tải? 

 

Đáp: - Lúc ở trong “Mật Khu”, tôi đă chụp chân dung Hoàng Cơ Minh nhiều khía cạnh để sau này có tài liệu đắp tượng ông ta là vị... “anh hùng dân tộc”, nên khi tấm ảnh ông Minh nằm chết đăng trên báo th́ đem những tấm h́nh đă chụp ra so sánh, tôi xác nhận đó là Hoàng Cơ Minh. 

 

Hỏi: - V́ sao người ta lại cố giấu nhẹm việc Hoàng Cơ Minh chết? 

 

Đáp: - Tôi phân tách theo ngu ư của tôi, nếu Mặt Trận tuyên bố Hoàng Cơ Minh chết th́ ai là người kế vị? Hoàng Cơ Long, bí danh Lư Thái Hùng, người lùn thấp, h́nh dáng kỳ dị, không thể thay Minh được; Hoàng Cơ Định trẻ quá, hiếu thắng, thiếu chín chắn, làm lănh tụ sẽ không ai theo; Nguyễn Kim Hườn, bí danh Nguyễn Kim, một cựu thiếu tá lái trực thăng của Không Lực VNCH, là một thanh niên cowboy sở trường về ăn chơi hơn là đấu tranh. Vấn đề quan trọng là nếu loan tin Minh chết, tất cả cái “chaine” hàng trăm hiệu Phở Ḥa ở Hoa Kỳ và các nơi trên thế giới sẽ không ai chịu đóng “hụi chết” hàng tháng cho Mặt Trận nữa. Những cơ sở thương mại khác cũng sẽ ra mây gió. Vấn đề yểm trợ cũng sẽ tan ră ngay. Trong tam thập lục kế th́ “kế ngậm miệng” là thượng sách để kéo dài thời gian móc túi đồng hương thêm được đồng nào hay đồng nấy, rồi mai hậu trước việc đă rồi, ai muốn hiểu ra sao th́ hiểu. 

 

Hỏi: - Tin Hoàng Cơ Minh chết đă hơn 10 năm qua, ai cũng biết là ông ta thật sự chết rồi, sao đến nay vẫn có người hăng say làm việc cho Mặt Trận? 

 

Đáp: - Những cơ sở kinh tài vẫn làm ra tiền th́ khi đă sẵn đồng tiền trong tay, thiếu ǵ kẻ lạy lục để xin việc làm, vừa được tra lương tháng hậu hĩnh vừa được tiếng ra cái điều ta cũng đấu tranh chống Cộng. 

 

Hỏi: - Bác có biết v́ sao Hoàng Cơ Minh bị giết không? 

 

Đáp: - Năm 1993, tôi về Việt Nam ghé Bangkok chơi một tuần, người ta kể cái chết của ông Minh như sau, xin kể lại đúng nguyên văn, c̣n đúng hay sai tôi hoàn toàn không có ư kiến! Họ nói rằng khi nhiều “chiến khu” của người Việt được tổ chức trên lănh thổ Thái Lan th́ Chính phủ Cộng Sản Việt Nam gởi công hàm chính thức trách Chính phủ Thái Lan đă dung túng những phần tử chống đối họ, lập chién khu trên đất Thái để mưu đồ lật đổ Chính phủ Cộng Sản Việt Nam. Họ yêu cầu Chính phủ Thái dẹp ngay những “chiến khu” ấy đi, nếu không họ sẽ đem xe thiết giáp vượt biên giới tàn sát tất cả. Tưởng là CSVN chỉ đe dọa suông thôi nên giới chức địa phương Thái Lan chỉ “cảnh cáo” những người sống trong các “chiến khu” kia nên kín đáo hơn, chớ không có biện pháp cương qưyết, v́ c̣n muốn kéo dài để thu tiền thuê hàng tháng. Thấy chính phủ Thái lơ là, CSVN liền gởi tối hậu thư (ultimatum) cho Chính phủ Thái cho hạn ba tháng nếu những “chiến khu” nêu trên chưa dẹp th́ CSVN sẽ đem quân đội và xe bọc sắt vượt biên giới xan bằng tất cả khu đó, mọi thiệt hại về vật chất và nhân mạng Chính phủ Thái hoàn toàn chịu trách nhiệm. Lần này Chính phủ Thái triệu tập phiên họp bất thường tại Quốc Hội để bàn về việc CSVN khiếu nại và quyết định cấm không kư chiếu khán nhập nội (entry visa) cho Hoàng Cơ Minh. Các chiến hữu trong Mặt Trận lúc đó mới thật sự lo lắng, một mặt báo cáo cho Hoàng Cơ Minh biết, một mặt t́m địa điểm rời Chiến Khu về phía Tây Bắc. Khi t́m được địa điểm rồi, họ vận động xin Chính phủ Thái cho phép Hoàng Cơ Minh đến Thái Lan lần chót để dọn Chiến Khu sang đất Lào, nhưng sự thực vẫn nằm trên lănh thổ Thái, sát với biên giới Lào. Chính phủ Thái ưng thuận. Minh đến Thái Lan vào Mật Khu họp tất cả mọi người để dùng ba tấc lưỡi trấn an các chiến hữu. Khi nói chuyện xong th́ có ba chiến hữu trẻ tuổi tuyển mộ từ các trại tị nạn đứng lên xin phát biểu. Họ nói họ sống trong chiến khu đă hơn hai năm mà không thấy đánh đấm ǵ cả trong khi hàng ngày tinh thần họ vô cùng bị căng thẳng v́ sự đe dọa của quân đội CSVN sẽ tràn sang tàn sát bất cứ giá nào.Minh dùng mọi lời lẽ để thuyết phục, nhưng một anh chàng khăng khăng nhất định xin ra khỏi Mật Khu để trở về trại Tị Nạn. 

Sáng hôm sau hai người c̣n lại thấy bạn ḿnh bị mất tích một cách bí mật trong đêm vừa qua nên hết sức sợ hăi về số phận củaḿnh. Họ kín đáo ra vẻ vui ḷng ở lại, rồi chờ ít ngày sau trong lúc thuận tiện cả hai đều vượt Mật Khu và dặn một người bạn thân ở lại báo tin cho họ biết đích xác ngày dọn chiến khu. Họ quyết tâm trả thù cho người bạn xấu số bằng cách mật báo cho quân Pathet Lào biết quân số, vơ khí của Hoàng Cơ Minh. Đúng ngày đă định, đoàn quân vỏn vẹn không quá 50 người, kẻ khiêng, người vác lương thực và một số ít ỏi vũ khí. Khi đến một khu rừng già th́ quân Pathet Lào đông gấp 5 lần phục kích bao vây tứ phía giết trên 20 mạng, bắt sống 19 người đem về giao cho CSVN. Vài ngày sau, lấy khẩu cung những tù binh đều khai trong số những người bị bắn chết có Hoàng Cơ Minh. CSVN lại cho người trở lại nơi phục kích th́ t́m thấy xác Hoàng Cơ Minh nên chụp ảnh rồi loan báo cho các báo chí biết. 

Ngày 25/4/1998 vừa qua đi hành hương tại chùa Tây Tạng ở Quận Pomona, California, t́nh cờ gặp Lê Tấn K đă giữ một vai tṛ quan trọng của Mặt Trận trong lúc phôi thai, quả quyết với tôi rằng Hoàng Cơ Minh chỉ mới chết hồi tháng 10 năm 1997. Tôi hỏi tin Hoàng Cơ Minh chết rất bất lợi cho Mặt Trận tại sao lại để đến hơn 10 năm vẫn không cải chính mà cải chính th́ khó khăn ǵ, Hoàng Cơ Minh chỉ cần t́m một anh kư giả tầm thường nào chụp chung một tấm ảnh để họ loan tin, thế là đủ cải chính mọi tin tức sai lầm từ trước và đưa uy tín Mặt Trận trở lại. Nếu c̣n sống sao hồi cuối năm 1994 khi Mặt Trận kiện Cao Thế Dung, Hồ Anh và Nguyên Vũ đă vu khống Mặt Trận thuê người giết vợ chồng kư giả Lê Triết, được xử tại ṭa án San Jose trong 21 ngày có tôi tham dự. Luật sư Nguyễn Tâm, biện hộ cho bên bị, đă thẳng thắn chỉ vào mặt Hoàng Cơ Định tức Phan Vụ Quang nói rằng: “Các ông là những người chuyên môn bịp bợm, chuyên môn nói láo. Nếu các ông vẫn nói láo rằng Hoàng Cơ Minh hiện nay c̣n sống th́ xin cho biết hiện ông ta ở đâu?” Bị đưa vào chỗ bí, Định trả lời “ấm ớ hội tề” rằng Minh di chuyển thường xuyên nên không nhất định ở đâu! Một lănh tụ lớn của một phong trào mà đi đâu, ở đâu lại không liên lạc cho những yếu nhân trong Bộ Tham Mưu biết th́ điều đó nói với con nít chúng cũng không tin! Đén đây Lê Tấn K trả lời cù nhầy rằng nếu muốn biết sự thật về cái chết của Hoàng Cơ Minh, xin hỏi bà Châu nào đó là người làm bảo hiểm cho Minh. 

 

Hỏi: - Bác nói v́ trong vụ Mặt Trận kiện Hồ Anh và báo VNTP năm 1994, bác từ chối không nhận làm chứng theo lời yêu cầu của luật sư nên Hồ Anh đă trở mặt “bôi bẩn” bác trên báo VNTP, xin cho biết thêm chi tiết. 

 

Đáp: - Trong 21 ngày đến San Jose hầu ṭa, Hồ Anh đến ăn ở nhà tôi. Hàng ngày tôi lấy xe chở anh ta đến Ṭa để cùng tham dự rồi tan giờ lại chở hắn về. Trước ngày xử, luật sư Tâm, biện hộ cho Hồ Anh yêu cầu tôi nhận làm chứng cho Hồ Anh bằng cách “lật tẩy” những tṛ bịp bợm trong chiến khu. Tôi từ chối v́ lớn tuổi không muốn gây ân oán giang hồ với ai nữa. Thế là Hồ Anh tỏ vẻ khó chịu với tôi, y bắt tôi phải lái xe phạm luật lưu thông khiến đă có lúc tôi định ngưng xe giữa đường đuổi hắn xuống t́m taxi mà đi. Tôi về kể lại chuyện cho tiện nội nghe, th́ bà vợ tôi khuyên nên cố gắng nhẫn nhục giữ ḥa khí, v́ chỉ c̣n ít hôm nữa ṭa xử xong, hắn sẽ cút. 

 

Hỏi: - Bác đă dự 21 ngày Ṭa xử, v́ yếu tố nào đă làm Mặt Trận thua kiện? 

 

Đáp: - 90% nhờ bài trần t́nh dài hấp dẫn của Phạm Văn Liễu, rồi nhân chứng Nguyễn Xuân Phát, với một lối hành văn vững vàng bằng Anh ngữ phơi bày tội ác của Mặt Trận khiến 19 trong số 20 người trong Bồi Thẩm Đoàn biểu quyết các bị cáo Hồ Anh, Cao Thế Dung và Nguyên Vũ vô tội. 

 

Hỏi: - Sao đă có lần bị Hồ Anh nói xấu trên báo mà Phạm Văn Liễu lại ra Ṭa cứu kẻ nói xấu ḿnh? 

 

Đáp: - Xin cám ơn đă đặt câu hỏi này , để một lần nữa thấy Hồ Anh không buông tha bất cứ ai. Sau khi Ṭa tuyên bố Mặt Trận thua kiện, tôi hỏi Liễu câu hỏi như trên th́ Liễu cười chua chát: “Giữa hai thằng đáng ghét, dĩ nhiên ḿnh phải hạ thằng đáng ghét nhiều hơn trước. C̣n thằng kia, để nó có cơ hội ăn năn hối cải về những hành động ngu xuẩn của ḿnh”. 

 

Hỏi: - Hồ Anh đă viết ǵ để “bôi bẩn” bác? 

 

Đáp: - Hắn viết rằng tôi “không phải là kư giả” và đă nhầm lẫn nhờ tôi để viết bậy bạ về cái chiến khu của Mặt Trận, nay hắn xin lỗi đồng hương(!). 

 

Hỏi: - Chính Hồ Anh năn nỉ bác đi “chiến khu”, năn nỉ bác viết bài, rồi những bài bác viết mà Hồ Anh, một người nhiều kinh nghiệm về nghề làm báo, đă đọc và có đủ th́ giờ cân nhắc trước khi cho đăng lên báo kia mà? 

 

Đáp: - Th́ VNTP nổi tiếng là tờ báo “trẻ không tha, già không thương”, chuyên đả phá không từ một người nào, từ Đức Giáo Hoàng đến các cha cố, thượng tọa, tăng ni, cựu công chức cao cấp, tướng tá VNCH đến các nhân sĩ tên tuổi, đồng nghiệp, thân hữu, vân vân. Có lần Hồ Anh sang miền Tây đi chơi với tôi hai tuần thăm mấy tiểu bang miền Tây Bắc Hoa Kỳ và Vancouver, trong lúc ngồi xe hơi Hồ Anh cho biết sẽ có ngày y hỏi thăm sức khỏe cụ Chử Ngọc Liễn là vị cao niên khả kính gần 100 tuổi lúc nào cũng “tṛn như ḥn bi” không làm mích ḷng ai và ông Nguyễn Tấn Đời là người đồng bệnh ung thư với Hồ Anh thường điện thoại cho tôi hỏi thăm và nhờ tôi nói cho Hồ Anh biết những thuốc nào dùng công hiệu chữa ung thư hay tên bác sĩ chuyên về bệnh hiểm nghèo này. Tôi khuyên Hồ Anh không nên gây thêm oán thù nữa nhất là những người không hề chạm dến quyền lợi của y th́ Hồ Anh lớn tiếng bảo tôi: “Anh c̣n phải dạy tôi làm báo nữa à? Báo mà chỉ có tin tức không th́ người ta xem tivi hay đọc báo Mỹ chứ mua báo của ḿnh làm ǵ?” Th́ ra đó là đó là đường lối của một cơ quan ngôn luận có nhiều độc giả mà người ta lại cứ tưởng chủ trương của một tờ “lá cải” do một tên hạ cấp làm chủ. Tôi cười xin rút lui ư kiến. Tôi điện thoại kể cho cụ Chử Ngọc Liễn, nghe xong cụ la làng: “Ối giời ơi! Ối cha mẹ ôi! Tôi có làm điều ǵ xằng bậy, có trêu trọc ai đâu mà định bêu xấu tôi? Tuy hay đả phá, trêu chọc gây sự với mọi người, nhưng Hồ Anh lại là một tên hèn nhát nhất! 

Đi chơi với tôi, đến đâu y cũng sợ như lúc nào cũng có người theo dơi để hạ sát. Việc Hồ Anh viết trong báo nói tôi không phải là “kư giả” để bôi bẩn th́ trước hết tôi chưa bao giờ vỗ ngực tự nhận là “kư giả”, lư do dễ hiểu là tôi không sống bằng nghề viết báo th́ “kư giả” hay “kư thiệt” đối với tôi không là cái đếch ǵ cả. Vả chăng, “kư giả” là cái quái ǵ? Chữ Hán định nghĩa “kư” là ghi chép, “giả” là người. Vậy thế nào mới là kư giả? Nếu sợ có người cưỡng đoạt cái chức cao quư ấy sao hắn không đăng kư tŕnh ṭa để giữ độc quyền? Loạt bài “du kư thăm chiến khu” của tôi đăng trong 6 kỳ báo VNTP th́ có ba số Hồ Anh đă mở đầu, tự động giói thiệu tôi là kư giả đại diện cho tờ báo lá cải của y. Ngoài ra, nếu tôi không phải là “kư giả” th́ sao không hỏi tôi, y tự động gi tên Hoàng Xuyên vào trang đầu của tờ VNTP cùng với bút hiệu những người trong Ban Biên Tập liên tục trong 20 năm? Những bài viết về “chiến khu” gởi cho y, tôi đă nói rơ mọi uẩn khúc để tùy y định liệu. Y là nhà báo chuyên nghiệp, “kư giả” thứ thiệt, sau khi đọc xong phải biết những bài tôi viết dở hoặc không có lợi th́ y cho đăng lên báo làm ǵ? V́ cái “bệnh kinh niên” chuyên bêu xấu người khác, dù người đó là tôi, ngoài t́nh bạn ra, tôi c̣n là ân nhân giúp đỡ hắn rất nhiều, kể cả Anh văn y gần như “i-tờ-rít” nên năm 1976 bị một nhà in người Việt bắt nạt làm khó dễ, tôi phải t́m giúp y một nhà in khác rẻ hơn để y in báo liên tục 15 năm, rồi thỉnh thoảng y lại nhờ tôi t́m giúp người làm ở Cali gởi sang, mặc dù không ai làm được lâu v́ bị bóc lột sức lao động quá đáng. Nay hắn nói xấu tôi, tôi không bận tâm, không cho điều đó là xấu, v́ “ngậm máu phun người, miệng ḿnh bẩn trước”. Hắn thuộc loại vô liêm sỉ “vừa nhổ xong lại có thể cúi xuống liếm sạch ngay”. Rồi sẽ có một ngày v́ quyền lợi tờ báo, v́ muốn mị độc giả, ta không ngạc nhiên thấy hắn bá ngọ cả những bậc sinh thành ra hắn! 

 

Hỏi: - Nghe nói nhờ loạt bài của bác mà số phát hành tờ VNTP vọt lên một cách kinh khủng? 

 

Đáp: - V́ quảng cáo từ mấy số trước nên ngay số khởi đăng loạt bài du kư của tôi, báo VNTP gởi bán các nơi đều hết sạch, độc giả nhôn nhao t́m đọc, các đại lư gọi điện thoại về Ṭa soạn yêu cầu gởi thêm báo. Tôi điệnthoại hỏi th́ Hồ Anh tỉnh bơ trả lời: “Đâu có tăng được số nào, thụt đi th́ có. Trong cuốn Mặt Trận, Cao Thế Dung cũng xác nhận tờ VNTP lúc thường phát hành 3.000 số mỗi kỳ là con số kỷ lục ở hải ngoại, nhưng khi loạt bài du kư của Hoàng Xuyên bắt đầu đăng th́ số phát hành vọt lên 6.000 rồi 10.000, rồi 15.000. Nhờ thế mà chỉ trong hai năm Hồ Anh đă tậu thêm một ngôi nhà và một miếng đất ở Virginia, đó là chưa kể xe nọ xe kia. Nhưng nay, v́ chuyện chửi bới người khác quá nhàm, bài vở quá tầm thường, không ai đọc. Tờ “lá cải” dường như không ai thèm nhắc tới. 

 

Hỏi: - Những bài bác viết, Hồ Anh trả tiền nhuận bút có hậu hĩnh không? 

 

Đáp: - Hậu lắm lắm! Ai đă từng viết cho VNTP đều than bị bóc lột tim óc và mồ hôi, sức lao động, v́ số tiền nhuận bút ốm đói. Hồ Anh gởi check trả tôi... “rất ṣng phẳng” mỗi bài 20 dollars, vị chi 6 bài được 120 dollars.

 

* Cuộc phỏng vấn đến đây cũng quá đầy đủ, xin thành thật cảm ơn bác Hoàng Xuyên đă cho chúng tôi những tài liệu thật quư báu.

 

Tân Dân

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính