Nhớ ngày Sài G̣n mất tên - (Hấp lực của một Thành Phố)

 

Komori Yoshihisa & Khôi Nguyên

 

 

 

Tuy phải sống trong hoàn cảnh lửa đạn chiến tranh kéo dài, nhưng miền Nam VN lại là một quốc gia có sức hấp dẫn lạ kỳ. Trong đó, xă hội của thành phố Sài G̣n cũng là nơi tỏ sức thu hút đặc biệt với những mặt tốt xấu, buồn vui, thiện ác của con người được bộc lộ rơ nét.


Đó là một xă hội thể hiện những phong tục và bản sắc của người dân VN được pha trộn thêm những nét văn hóa tiêu biểu của Trung Hoa, Pháp và Hoa Kỳ nên có thể nói đây là một sự kết hợp tính đặc thù giữa Đông và Tây, cũ và mới. Điển h́nh là có những người xem bói và nói về tín ngưỡng thần linh bằng tiếng Pháp một cách sành sỏi.


Không hiểu đó có phải là do cá tính dân tộc của người miền Nam VN hay là v́ những quan niệm về lẽ sinh tử bị ảnh hưởng từ chiến tranh, nhưng họ luôn bộc lộ t́nh cảm một cách trực tiếp không cần che đậy hay đè nén. Họ vật vă gào khóc khi mất người thân, họ khiển trách than thở trước những tệ nạn của nhà chức trách, họ giận dữ lớn tiếng khi bị lường gạt hoặc mất tiền bạc của cải v.v….Tóm lại, việc bộc lộ t́nh cảm vừa trực tiếp vừa khích liệt là những điều xảy ra trong cuộc sống hàng ngày của xă hội miền Nam VN. Điều này quả thật tương phản với h́nh ảnh những người Nhật Bản ngồi im lặng chịu đựng trên những con tàu điện ngầm chật kín trong giờ cao điểm đến hăng sở làm việc ở Tokyo.

Tuy nhiên, ở mặt phản diện hầu như trong thâm tâm mọi người đều có khuynh hướng dè dặt và nghi ngờ hay nói cách là không thật t́nh tin tưởng kẻ khác và đây chính là hai mặt trái ngược khi diễn tả tâm tính của người Sài G̣n. Tức là tuy ta có thể nh́n thấy cảm t́nh của họ dường như bộc lộ ra hết bên ngoài nhưng mặt khác bên trong lại chất chứa sự nghi ngờ. V́ vậy cũng có thể nh́n được hai yếu tố gắn liền với mặt phản diện này là sự gian dối và sự lừa gạt. Ngoài ra, xă hội cũng nghiêng về sức mạnh của đồng tiền được coi là bối cảnh xuất phát tệ nạn tham nhũng.

 


Thế nhưng, điều khiến tôi dao động mạnh nhất là nh́n thấy người dân miền Nam kể cả nam lẫn nữ đều có sức sống mănh liệt dù trong t́nh trạng đất nước chiến tranh, không biết sống chết lúc nào. Họ luôn tươi cười rạng rỡ và b́nh thản trong cuộc sống. Quả thật, đối với một người từ thủ đô Tokyo Nhật Bản trong một buổi chiều Xuân êm đềm như tôi chợt thay đổi hoàn cảnh, đi đến vùng đất chiến hỏa này và được mục kích lối sống của người dân miền Nam VN nên tôi không khỏi ngạc nhiên.


Tóm lại, kể từ sau khi hiệp định Ba Lê được kư kết vào tháng Giêng năm 1973, tôi càng có nhiều cơ hội tiếp xúc với những người VN và cảm nhận được những biểu hiện t́nh cảm hỉ nộ ai lạc của họ. Đó là khoảng thời gian mà cho dù ai cũng biết hiệp định đ́nh chiến Ba Lê chỉ là tṛ nguỵ tạo nhưng nhịp sống của xă hội Sài G̣n vẫn tiếp tục vươn lên và kỳ vọng về một tương lai ḥa b́nh trong lúc t́nh h́nh chiến cuộc có lúc tạm thời lắng dịu.


Riêng trường hợp của tôi, cho đến khi quen thuộc với cuộc sống ở Sài G̣n th́ cũng phải trải qua nhiều kinh nghiệm thương đau. Nói chung, có những người dân ở đây suy nghĩ rằng người ngoại quốc vốn giàu có nên nếu lường gạt họ bao nhiêu cũng là điều b́nh thường. Hơn nữa, nếu sự lường gạt xảy ra giữa những người VN với nhau th́ phía bị lường gạt lại bị coi là ngu khờ, dại dột và phải chấp nhận sự thiệt tḥi này một cách đương nhiên.


Điển h́nh là lúc tôi mướn căn pḥng trọ trong thành phố do một phụ nữ trung niên kinh doanh tiệm uốn tóc làm chủ, tôi có kư vào một tờ giấy được coi là bản khế ước mướn pḥng. Nhưng khi bắt đầu dọn vào ở ngày đầu tiên th́ sáng hôm sau có một người đàn ông lạ mặt đến cho tôi biết rằng: “Anh là người nhập cư bất hợp pháp”. Th́ ra người phụ nữ nói trên đă tự ư lấy danh nghĩa chủ pḥng rồi cho tôi mướn. Sau đó tôi phải trả thêm tiền đặt cọc cho người chủ pḥng thật sự.


Chưa hết, khi tôi nhờ người bắt đường dây điện thoại trong pḥng th́ cũng ngay sáng hôm sau khi chuông điện thoại reo th́ tôi bắt máy nhưng lại nghe tiếng hai người đàn ông khác đang nói chuyện. Bởi lẽ, đây không phải điện thoại bắt riêng mà họ câu dây từ máy điện thoại chính ở pḥng bên cạnh. Dĩ nhiên là tôi bị mất tiền bắt đường giây này và sau đó cũng phải trả thêm tiền để bắt đường giây riêng cho máy điện thoại của ḿnh.


Ngoài ra, tôi cũng từng bị mất xe hơi, bị trộm vào pḥng. Đó là lúc tôi ngă bệnh v́ chưa quen phong thổ nơi này, sau mấy ngày nằm liệt tôi cảm thấy hồi phục và đi ra ngoài cho khuây khỏa nhưng khi trở về pḥng th́ thấy kiếng cửa sổ bị phá vỡ và lúc xem lại đồ đạc th́ mới biết bị mất tiền, máy chụp h́nh máy thu âm v.v…


Thêm một kinh nghiệm khác là do công việc bận rộn nên tôi có mướn một phụ nữ đến dọn dẹp, giặt giũ nhưng trải qua một thời gian dài sau đó tôi mới biết tiền bạc trong ngăn kéo và túi quần đă bị cô ta lấy đi từng chút, Có lần tôi cùng người bạn đi Vũng Tàu tắm biển th́ bị trộm ch́a khóa xe hơi, cuối cùng phải bỏ tiền ra chuộc lại ch́a khóa. Trong khi đó, tôi cũng được nghe nói về t́nh trạng hối lộ hoành hành trong xă hội.

 


Tuy vậy, bên cạnh những mặt tiêu cực cũng có biết bao điều tốt đẹp diễn ra nơi những góc cạnh khác của xă hội miền Nam với nhiều mảnh đời cùng cực đầy nghịch cảnh nhưng họ vẫn vững tin vào cuộc sống và giữ được nét thanh khiết trong tâm hồn vốn chứa đựng đầy ư nghĩa t́nh người khiến tôi vô cùng ngạc nhiên muốn t́m ṭi học hỏi thêm. Hoặc có thể nói khác hơn là chính họ đă mang lại những nụ cười và niềm lạc quan yêu đời cho tôi mà từ trước đó tôi chưa hề cảm nhận được nguồn năng lực tạo nên sức sống mănh liệt đến như vậy.


Tóm lại, trong khi tôi cố gắng nhớ tiếng Việt bao nhiêu th́ cũng tiếp xúc thân mật với những người thuộc giai cấp b́nh dân bấy nhiêu. Từ đó, tôi lại càng bị lôi cuốn vào hấp lực của thế giới nội tâm mang nét đặc dị của người dân trong xă hội miền Nam VN nói chung và Sài G̣n nói riêng.

 


Nếu đối chiếu với xă hội Nhật Bản xưa kia, ta cũng thấy được nét tương đồng của xă hội miền Nam về đặc tính bổn phận của cá nhân đối với gia đ́nh. Trong xă hội miền Nam, những người được coi là trụ cột của gia đ́nh luôn có bổn phận phải chăm lo cho cha mẹ, anh chị em và người thân nên có thể nói là họ đă hy sinh cả cuộc đời để chu toàn bổn phận này. Trong mối quan hệ với bạn bè, người quen, người dân miền Nam c̣n có lối xử thế đặt trên căn bản coi trọng t́nh nghĩa lẫn thể diện. Tôi đă gặp rất nhiều người tuy trông bề ngoài có vẻ như họ rất chuộng tiền bạc vật chất nhưng bản chất thực sự của họ chính là những người tốt bụng, có ḷng giúp đỡ tha nhân và hành xử theo hướng nhân nghĩa đạo đức rất đáng kính trọng.

 


Thêm nữa, nếu ta xét về trường hợp người dân sống trong một xă hội lâm cảnh nhiễu nhương trong thời kỳ chiến loạn như miền Nam th́ có lẽ họ không thể nào có được một cuộc sống nội tâm đơn thuần. Và v́ vậy, họ phải thích ứng với hoàn cảnh để sinh tồn trong những môi trường lừa lọc, tính toán. Nói một cách đơn giản là trong bối cảnh cuộc chiến VN có sự xâm nhập của những thành phần hoạt động cho phía MTGP nên người dân miền Nam khó có thể phân biệt ai là thù ai là bạn và từ đó họ cũng không thể nào tin tưởng người khác một cách dễ dàng.


Những nét đặc tính sinh hoạt của người dân miền Nam VN c̣n được một kư giả Nhật Bản nổi danh là Kondo Koichi miêu tả rất sống động qua các loại bài kư sự và tác phẩm của ḿnh. Ông Kondo Koichi vốn là đặc phái viên của tờ báo Sankei tại Sài G̣n, từng lưu học ở Pháp và kết hôn với người trưởng nữ của vị đại sứ Nhật Bản ở Pháp vào năm 1967 nhưng chỉ ba năm sau vợ ông qua đời.


Ông đến Sài G̣n làm việc từ năm 1971 và trong thời gian này đă tái hôn với một phụ nữ VN tên Bùi Thị Nâu. Sau đó, ông đă viết quyển sách “Saigon Kara Kita Tsuma To Musume” tức “Vợ Con Tôi Đến Từ Sài G̣n” để nói về đặc tính sinh hoạt của người dân miền Nam qua h́nh ảnh của người vợ ông là bà Nâu và người con gái riêng của vợ tên Mỹ Dung mà ông coi như con ruột. Tác phẩm này đă đoạt được giải thưởng văn học bộ môn tả chân mang tên văn hào Oya Soichi vào năm 1979.


Từ năm 1980, ông Kondo Koichi c̣n thực hiện hàng loạt bài phóng sự về vấn đề người tị nạn VN và cũng nhận được nhiều giải thưởng văn học danh giá của Nhật Bản. Tuy nhiên, tác phẩm nổi tiếng nhất của ông liên quan đến sự kiện Sài G̣n Thất Thủ” là quyển sách có tựa đề “Saigon Ichiban Nagai Hi” tức “Sài G̣n Ngày Dài Nhất”. Đáng tiếc là ông Kondo Koichi đă ra đi trong lứa tuổi hăy c̣n rất trẻ khi mất vào tháng Giêng năm 1986 v́ chứng bệnh ung thư bao tử, hưởng dương 45 tuổi.


Trở lại những mảnh đời nổi trôi theo số phận nghiệt ngă mà từ tôi từng chứng kiến tại Sài G̣n th́ quả thật họ có sức chịu đựng vượt qua mọi sự tưởng tượng của tôi. Chẳng hạn như trường hợp một vị cao niên trong cùng năm có tới 3 người con trai tử trận nhưng ông vẫn đè nén nỗi đau để vươn sống và chăm lo cho các cháu của ḿnh. C̣n một người tôi quen khá thân là cô gái ở lứa tuổi đôi mươi làm việc ở quán bar có mang được 7 tháng th́ nghe tin chồng chết ngoài chiến trường và cô vẫn tiếp tục vui sống v́ đứa con và người mẹ già của ḿnh. Ngoài ra c̣n biết bao cảnh ngộ bi thương khác nhưng lạ lùng là họ vẫn nở nụ cười như để trang điểm thêm cho cuộc sống.


Nói chung, từ trong bóng tối chiến tranh, ánh sáng của những nụ cười sảng khoái và những câu nói đùa làm bầu không khí trở nên sôi động chính là hành trang trong cuộc sống của người dân miền Nam. Đó cũng là những bài học giúp tôi nh́n được ư nghĩa cuộc sống để đương đầu với nghịch cảnh.
Lối sống của người dân miền Nam VN là như vậy đó và nó luôn thu hút tôi một cách đặc biệt.



©Komori Yoshihisa & Khôi Nguyên @ HVR

nguồn: http://www.nvbonphuong.com/forums/sh...t-thành-phố

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính