Niềm tin của dân tộc tôi

 

Kiêm Ái

 

 

Dân tộc Việt Nam yêu dấu của tôi có hơn 4 ngàn năm văn hiến. Khi tôi hănh diện phát biểu điều đó, có người đă mỉa mai, diễu cợt tôi, nhưng tôi vững tin vào lịch sử của dân tộc tôi, vững tin vào những lời truyền khẩu qua cao dao và tục ngữ của cha ông chúng tôi truyền lại từ lúc chưa có văn tự.

 

“Lạy trời mưa xuống,

Lấy nước tôi uống,

Lấy ruộng tôi cày,

Lấy đầy bát cơm…”

 

Cha ông chúng tôi biết “LẠY TRỜI” nếu không trước thời Abraham th́ cũng “xấp xỉ” chứ không thể sau Abraham  được. Chúng tôi biết thương yêu loài vật gần gũi với con người, coi những con vật đó “y như người trong nhà”:

 

“Trâu ơi ta bảo trâu này,

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.

Cấy cày vốn nghiệp nông gia,

Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

Bao giờ cây lúa c̣n bông,

Th́ c̣n ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”

 

Dân tộc tôi cũng yêu mến và quí trọng Ḥa B́nh hơn bt kỳ dân tộc nào trên thế giới dù rằng không có bậc quới nhơn nào dạy vẻ… hoặc là chính ÔNG TRỜI đă dạy cha ông chúng tôi bằng cách này hay cách khác theo cách của ông Trời?

 

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,

Chồng cày, vợ cấy con trâu đi bừa.”

 

Địa h́nh nước tôi ở cách xa, rất xa với miền Lưỡng Hà (Mesopotamia) không bao giờ biết sách “Sáng Thế Kư” trong Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo. Thế mà, thay v́ nói một câu dài ḷng tḥng như Adam khi vừa thấy Eva “Người này, xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” cha ông chúng ta chỉ nói vỏn vẹn một chữ giữa 2 vợ chồng: “M̀NH”. “M̀NH ƠI”. Các nhà ngôn ngữ học, sử học thế giới xin cho biết có dân tộc nào “đẻ ra” một cách nói ư nghĩa hơn chữ M̀NH giữa 2 vợ chồng không nhỉ? Xin cho tôi biêt để họa may, dân tộc tôi và dân tộc, bộ tộc đó có “bà con” với nhau không? Trong lúc chờ đợi chúng tôi hy vọng sẽ có. Các nhà truyền giáo của đạo Thiên Chúa khi qua Việt Nam truyền đạo cũng rất thán phục chúng tôi, một dân tộc có thứ ngôn ngữ “văn minh, trù phú và cô đọng”  hơn cả những dân tộc trù phú và văn minh trên thế giới này thời đó.

 

Những thánh tổ Cọng Sản “ngồi đáy giếng xem trời bằng vung”, cứ tưởng lư thuyết đại đồng của chúng là “số một” thế gian rồi, nhưng đó chỉ là dối gạt mà cũng c̣n thua xa chủ thuyết xă hội của cha ông chúng tôi. Chúng tôi có một chủ thuyết xă hội hấp dẫn, thực tế và đại đồng gấp ngàn lần cái đại đồng đui què của Cọng Sản. Học thuyết xă hội của chúng tôi chỉ là những câu tục ngữ “nhân thong thả, soạn bài huấn tử” mà thôi:

 

“Con gái nhờ ĐỨC cha,

Con trai hưởng LỘC mẹ”

 

 Đức là một kho báu lớn lao, suốt một cuộc đời ăn hiền ở lành, tạo nên cái đức là một báu vật không ai có thể cướp được, v́ nó vô h́nh nhưng hiện hữu; thế mà ông CHA lại tặng cho con gái mang về nhà chồng. Và con trai do người này sinh ra đương nhiên được hưởng cái Đức, cái Lộc của Mẹ mang theo khi lấy chồng. Đứa con trai đó tuy do mẹ sinh ra nhưng nó là trụ cột của ḍng họ nhà chồng. Và cứ thế, cái Đức của người cha trao cho con gái, con gái lại trao cho con trai ḿnh. Có cái ĐẠI ĐỒNG  nào vĩ đại hơn? Chủ thuyết xă hội này không có đấu tranh giai cấp, không có tươt đoạt mà chỉ nảy sinh do t́nh yêu, t́nh yêu hôn nhân, t́nh yêu mẫu tử, t́nh yêu gia đ́nh, t́nh yêu trong ḥa v́nh... Nó luân lưu trong xă hội Việt Nam đời nọ tới đời kia không dứt, không ai có theể cướp đoạt..

 

Trở lại mối t́nh thâm giữa ÔNG TRỜI và người Việt Nam thật rất khắng khít. Ăn nên làm ra cũng “nhờ trời”, những lúc hoạn nạn cũng “Kêu Trời” Trời ơi! Mấy ngàn năm sau đạo Phật du nhập từ Ấn Độ, người Việt Nam lại thêm “Nhờ ơn Trời Phật”. Trời luôn luôn là đầu. Miền Nam Việt Nam, nhà nào dù nghèo, dù giàu cũng có “bàn ông Thiên” giữa sân, có phải là để THỜ TRỜI hay không? Đạo Cao Đài th́ thờ THIÊN NHĂN. Con mắt của Trời thông biết mọi sự.

 

ĐẠO ÔNG BÀ, ĐẠO THỜ CÚNG TỔ TIÊN cũng phát xuất từ TRỜI. Chiều Ba Mươi Tết rước ông bà về ăn Tết với chúng ta, Chiều Mồng Ba Tết lại đưa ông bà về Trời.

 

Đức Khổng Tử cũng nói ‘Thiên sanh nhơn, dưỡng nhơn, huệ nhơn” hàng năm, vua cũng là Thiên tử - con trời – cũng tế lễ trời đất theo Nho Giáo. Đạo Phật không biết có thờ Trời hay chấp nhận có Trời hay không, nhưng tôi nhớ rất rơ, khi Quốc Hội Lập Hiến 1967 của Đệ Nhị Cọng Ḥa Việt Nam trong bản dự thảo hiến pháp có nói đến Thượng Đế, liền bị Ḥa Thượng Thích Tâm Châu phổ biến thông cáo phản đối với lư do là “rt nhiều người Việt Nam không tin thượng đế”. Hiến Pháp phải sửa lại. Bản Hiến Pháp này lại do cố giáo sư Vũ Văn Mẫu một ngôi sao Bắc Đẩu của nền Luật Học Việt Nam, một Phật tử thuần thành soạn thảo toàn bộ mới đưa ra Quốc Hội Lập Hiến thảo luận và biểu quyết từng câu, từng chữ cho “hợp với ḷng dân”. Vấn đề này xin qúy vị lănh đạo Phật Giáo, qúy vị Phật tử bổ túc cho v́ theo thời cuộc lúc đó giữa 2 Ḥa Thượng Thích Tâm Châu và Thích Trí Quang không “ḥa hợp nhau” không biết có ảnh hưởng thế nào về 2 chữ THƯỢNG ĐẾ hay không?

 

Riêng Thiên Chúa Giáo th́ rất gần gũi với Đạo Thờ Trời, Đạo Ông Bà hay Đạo Thờ Cúng Ông Bà. Thờ Cúng Ông Bà với mâm cơm, ly rưrợu, hoa quả th́ chính những người thờ cúng với phm vật đó cũng biết không phải để ông bà ăn, uống, nhưng đó là chút ḷng thành dâng lên ông bà tổ tiên. V́ vậy mà có người c̣n nhớ người quá văn lúc sanh tiền thích ăn món này, món nọ đến ngày giỗ họ cũng làm để tưởng nhớ. Đó không phải là dị đoan, mê tín. Tất cả những ǵ “dọn lên trên bàn thờ tổ tiên Ba Ngày Tết hay giỗ kỵ chỉ là để tưởng nhớ, chứ ai cũng biết sau khi cúng rồi th́ con cháu ngồi lại ăn uống với nhau đâu có ông bà nào đâu.

 

Những lời thô thiển trên đây cũng chỉ với ḷng thành. Kính dâng lên Thượng Đế hay ông Trời hay Thiên Chúa và Tổ Tiên trong mấy ngày Tết Kỷ Hợi. Đầu năm 2019.

 

 

Kiêm Ái

02082019

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính