Khủng hoảng Coronavirus Wuhan (COVID-19) đặt ra những nghi vấn về quan hệ của Tàu cộng với WHO

 

 

 

 

Ông James Griffiths có bài phân tích trên CNN ngày 17/2, cho rằng WHO có thái độ thiên vị rơ rệt đối với Bắc Kinh liên quan đến cuộc khủng hoảng COVID-19 ở Tàu cộng.

 

Trong buổi gặp gỡ với Chủ tịch Tàu cộng Tập Cận B́nh tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh hôm 28/1, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Tedros Adhanom Ghebreyesus đă hết lời khen ngợi về phản ứng của Tàu cộng đối với cuộc khủng hoảng dịch COVID-19.

 

“Chúng tôi đánh giá cao sự nghiêm túc của Tàu cộng trong đợt dịch này, đặc biệt là cam kết từ lănh đạo cao nhất và sự minh bạch mà họ đă thể hiện”, ông Tedros nói. B́nh luận này đă được giới truyền thông Tàu cộng trích dẫn nhiều lần trong nhiều tuần qua.

 

Cuộc gặp diễn ra vào cuối tháng 1/2020, sau khi ông Tập trực tiếp chỉ đạo việc kiểm soát t́nh h́nh do các quan chức địa phương thất bại trong việc ngăn chặn sự bùng phát dịch tại tỉnh Hồ Bắc.

 

Vào thời điểm diễn ra cuộc gặp này ở Bắc Kinh, số ca nhiễm virus COVID-19 đang gia tăng, với nhiều tiết lộ rằng các quan chức tại tỉnh Hồ Bắc và Vũ Hán – thành phố nơi phát hiện ra ca nhiễm virus COVID-19 đầu tiên – đă t́m cách hạ thấp và kiểm soát tin tức về virus này, thậm chí họ đe dọa và bắt giữ những người đưa tin tức thật về dịch bệnh.

 

Vài ngày sau, WHO tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng toàn cầu, và ông Tedros một lần nữa lại ca ngợi sự ứng phó của Bắc Kinh.

 

Mặc dù Tàu cộng đă hành động nhanh chóng sau sự can thiệp của ông Tập, cách ly một số thành phố lớn và dồn mọi nguồn lực vào cuộc chiến chống lại virus, nhưng họ vẫn duy tŕ sự kiểm soát chặt chẽ thông tin về virus, và những nỗ lực kiểm soát sự lan truyền thông tin đă chuyển sang hướng tàn bạo.

 

Theo ông Griffiths, sự khen ngợi của WHO về phản ứng của Tàu cộng đă khiến các nhà phê b́nh đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa WHO và Bắc Kinh. Việc tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc (LHQ) này phụ thuộc vào sự tài trợ và hợp tác của các thành viên để hoạt động, đă giúp cho những nước thành viên giàu có như Tàu cộng có ảnh hưởng đáng kể. Có lẽ một trong những ví dụ điển h́nh nhất về sự ảnh hưởng của Tàu cộng đối với WHO là việc Bắc Kinh thành công trong việc ngăn cản Đài Loan trở thành thành viên WHO.

 

“Việc Đài Loan nằm ngoài WHO sẽ khiến ḥn đảo này không được quốc tế cập nhật thông tin, cũng như họ không thể cập nhật cho quốc tế các thông tin kịp thời v́ sự lây lan của virus Covid 19”, ông Griffiths nhận định.

 

Ông Griffiths cho rằng quan điểm của WHO về Tàu cộng cũng đă làm sống lại một cuộc tranh luận đă tồn tại từ lâu về việc liệu WHO, được thành lập 72 năm trước, có đủ độc lập để cho phép họ thực hiện mục đích của ḿnh hay không?.

 

Ông Griffiths lưu ư về việc Bộ Ngoại giao Tàu cộng đă không trả lời các câu hỏi liên quan đến mối quan hệ của Bắc Kinh với WHO. Người phát ngôn WHO đă hướng CNN vào những b́nh luận gần đây của ông Tedros khi ông một lần nữa ca ngợi Tàu cộng v́ “làm cho chúng ta an toàn hơn”.

 

Ông Tedros tuyên bố: “Tôi biết có rất nhiều áp lực đối với WHO khi chúng tôi đánh giá cao những ǵ Tàu cộng đang làm, nhưng v́ áp lực, chúng tôi không nên không nói sự thật. Chúng tôi không nói bất cứ điều ǵ để xoa dịu bất cứ ai. Bởi v́ đó là sự thật”.

 

Y tế bị trộn lẫn với chính trị

 

WHO được thành lập vào năm 1948 dưới sự bảo trợ của LHQ, với nhiệm vụ điều phối chính sách y tế quốc tế, đặc biệt là về bệnh truyền nhiễm. Kể từ đó, tổ chức này đă có nhiều thành công, đặc biệt nhất trong số đó là loại trừ bệnh đậu mùa và giảm 99% các trường hợp bại liệt, cũng như chống lại các bệnh măn tính và giải quyết t́nh trạng hút thuốc lá.

 

Nhưng, theo ông Griffiths, trong lịch sử 7 thập kỷ của ḿnh, WHO hiếm khi mà không bị chỉ trích. Nhiều người cho rằng tổ chức này quá quan liêu, cấu trúc kỳ cục, quá phụ thuộc vào một số ít các nhà tài trợ lớn, và thường bị cản trở bởi các lợi ích chính trị. Sau cuộc bầu cử năm 2017, ông Tedros, chính trị gia người Nigeria, đă trở thành tổng giám đốc gần đây nhất của WHO, hứa hẹn cải cách quy mô lớn.

 

Ông Tedros là người châu Phi đầu tiên giữ chức vụ này, tiếp quản WHO sau khi tổ chức này tự nhận là phản ứng kém đối với dịch Ebola 2013-2016 ở Tây Phi.

 

Theo một đánh giá khoa học, WHO đă mất 5 tháng để tuyên bố t́nh trạng khẩn cấp y tế công cộng về mối quan tâm quốc tế (PHEIC) đối với Ebola, một sự chậm trễ “chắc chắn đă đóng góp vào quy mô chưa từng có của sự bùng phát dịch”.

 

 

Thất bại này được đổ lỗi một phần do bộ máy quan liêu và phức tạp của WHO – với 6 văn pḥng khu vực và chỉ được kiểm soát một cách lỏng lẻo bởi trụ sở chính tại Geneva. Các yếu tố khác gây nên sự thất bại trong việc ngăn chặn Ebola bao gồm đội giám sát quá tải và thiếu thốn, và áp lực chính trị từ các chính phủ Tây Phi, không sẵn sàng chịu thiệt hại kinh tế do tuyên bố PHEIC gây ra.

 

Trong một tuyên bố với CNN, một phát ngôn viên của WHO thông báo rằng “do kết quả của những bài học rút ra từ Tây Phi, WHO đă thành lập Chương tŕnh khẩn cấp y tế mới”, đó là “một sự thay đổi sâu sắc, bổ sung năng lực hoạt động cho những vai tṛ chuẩn mực và kỹ thuật truyền thống của WHO”.

 

“Chương tŕnh được thiết kế để mang lại tốc độ và khả năng dự đoán cho công việc khẩn cấp của WHO. Nó mang lại tất cả các công việc của WHO trong trường hợp khẩn cấp, cùng với một cấu trúc chung tại trụ sở chính và tất cả các văn pḥng khu vực, để tối ưu hóa sự phối hợp, hoạt động và luồng thông tin”.

 

Tuy nhiên, ông Griffiths cho hay mặc dù Ebola có thể đă làm nổi bật một số vấn đề, các nhà chuyên môn đă gióng lên hồi chuông cảnh báo trong một thời gian dài. Chẳng hạn như, trong một báo cáo năm 2014, ông Charles Clift, cựu cố vấn của WHO, nhận xét rằng hầu hết các nhà quan sát – bao gồm nhiều người trong cuộc trước đây – có cùng quan điểm rằng tổ chức này “quá chính trị, quá quan liêu, quá bị chi phối bởi các nhân viên y tế, quá rụt rè trong việc tiếp cận các vấn đề gây tranh căi, quá tải và quá chậm để thích nghi với sự thay đổi”.

 

Ông Clift cho rằng “WHO vừa là cơ quan kỹ thuật vừa là cơ quan hoạch định chính sách. Sự xâm nhập quá mức của những toan tính chính trị trong công việc chuyên môn, có thể làm tổn hại đến uy quyền và uy tín của một tổ chức mang tiêu chuẩn cho y tế”.

 

Theo ông Griffiths, WHO phụ thuộc một phần vào dữ liệu do các quốc gia thành viên cung cấp, được lọc qua các tổ chức khu vực – một cấu trúc bị đổ lỗi cho sự chậm trễ trong việc tuyên bố Ebola là trường hợp khẩn cấp. Với một chính phủ như Trung Quốc, với lịch sự không thích sự minh bạch và nhạy cảm với chỉ trích quốc tế, đó có thể là một vấn đề.

 

Mơ hồ về Đài Loan

 

Về vấn đề Đài Loan, ông Griffiths cho răng ảnh hưởng chính trị của Bắc Kinh đối với WHO là rơ ràng nhất.

 

Trong một bài phát biểu vào năm ngoái tại Hội nghị Y tế Thế giới (WHA), một cuộc họp thường niên của WHO ở Genena, ông Luke Browne, bộ trưởng y tế của quốc gia St. Vincent ở Caribbean, đă yêu cầu Đài Loan phải được phép có ghế tham dự.

 

“Đơn giản là không có cơ sở có tính nguyên tắc tại sao Đài Loan không nên ở đây … lư do duy nhất là v́ chính phủ ở Bắc Kinh không thích chính phủ hiện tại ở Đài Loan”, ông Browne giải thích.

 

Bất chấp bài phát biểu của ông Browne và sự can thiệp của một số quốc gia thành viên khác, từ Belize và Haiti ở Caribbean đến vương quốc Eswatini của châu Phi và quốc gia nhỏ bé Nauru ở Thái B́nh Dương, đề xuất bao gồm Đài Loan của ông Brown đă nhanh chóng bị đưa ra khỏi chương tŕnh nghị sự.

 

Đài Loan là một ḥn đảo dân chủ tự trị gồm 23,7 triệu người, chưa bao giờ bị cai trị bởi chính quyền Tàu cộng, nhưng được Bắc Kinh tuyên bố là một phần của lănh thổ của họ. Bắc Kinh ngăn chặn Đài Loan tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế trừ khi họ làm theo cách tuân thủ nguyên tắc “một nước Tàu”, như tự gọi ḿnh là “Đài Bắc Trung Hoa” trong Thế vận hội.

 

Ông Natasha Kassam, một chuyên gia về Tàu cộng, Đài Loan tại Viện Lowy của Úc cho rằng: “việc loại Đài Loan ra khỏi WHO khiến cho người dân của họ không được bảo vệ trong cuộc khủng hoảng này – do thiếu các kênh thông tin trực tiếp và kịp thời đến WHO và việc báo cáo không chính xác về các ca nhiễm ở Đài Loan. Các nhà chức trách Đài Loan đă phàn nàn về việc thiếu quyền truy cập vào dữ liệu và hỗ trợ của WHO”.

 

Những lo ngại tương tự đă được đưa ra trong đợt bùng phát hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS) trong năm 2003, khi các nhà khoa học Đài Loan phàn nàn rằng họ bị các quan chức WHO ‘ném đá’, nói rằng họ có thể hỏi chính quyền ở Tàu cộng về dữ liệu của căn bệnh này.

 

Chỉ ra rằng khoảng 50 triệu khách du lịch nước ngoài đi qua sân bay lớn nhất Đài Loan mỗi năm, ông Kassan “kỳ vọng rằng Đài Loan sẽ nhận được lời khuyên của WHO về bất kỳ vấn đề sức khỏe cộng đồng nào”.

 

Theo ông Kassan “hệ thống chăm sóc sức khỏe của Đài Loan liên tục được xếp hạng là một trong những hệ thống tốt nhất trên thế giới – và tại thời điểm như thế này, mọi quốc gia nên đặt chính trị sang một bên để tập trung vào việc chống virus”.

 

Đài Loan đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc pḥng chống dịch virus corona do ḥn đảo này không phải là thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới, và bị nhiều quốc gia xem là một phần lănh thổ của Tàu cộng.

 

Đài Loan – nơi có mối liên hệ văn hóa và kinh doanh quan trọng với Tàu cộng bất kể sự bất ḥa về chính trị – WHO thậm chí không thể xử lư được cách gọi ḥn đảo này.

 

Nói chuyện với các phóng viên hồi tháng trước, một phát ngôn viên WHO đă sử dụng ngôn từ lạ lùng “Tàu cộng, Đài Loan”, trong khi một báo cáo ngày 4/2, lại đảo lại là “Đài Loan, Tàu cộng”.

 

Báo cáo đă đưa ra số trường hợp nhiễm bệnh bị sai, do dựa vào số liệu từ Bắc Kinh, chứ không phải từ Đài Bắc. Các báo cáo sau đó của WHO đă bỏ hoàn toàn thuật ngữ Đài Loan, thay vào đó sử dụng thuật ngữ “Đài Bắc và xung quanh ” trong danh sách các thành phố bị ảnh hưởng ở Tàu cộng.

 

Khi đề cập tại WHA năm ngoái, ông Browne đă đoán trước về sự nhầm lẫn này, nói rằng “tất cả chúng ta đều biết rằng Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa không thực hiện quyền kiểm soát và quyền hạn đối với Đài Loan và không thể hợp lư khi cho rằng [Tàu cộng] đại diện [cho Đài loan] ở đây”.

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính