Tỳ Bà hay Nguyệt Cầm?

 

hoanglonghai

 

 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đ́u hiu

Người xuống ngựa, khách dừng chèo

Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty

 

Say những luống ngại khi chia rẽ

Nước mênh mông đượm vẻ gương trong

Tiếng tỳ đâu thoảng trên sông

Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi...

 

(Tỳ bà hành./

Bạch cư dị./

Phan huy Vịnh dịch)

_______________

 

 

Đàn Tỳ Bà có bốn giây, h́nh dạng như trái lê, đầu dưới to, đầu trên nhỏ. Đầu nhỏ cũng là cần đàn.

 

 

Đàn Nguyệt (Nguyệt Cầm) như tên gọi của nó, cho thấy có bầu đàn h́nh tṛn như mặt trăng (nguyệt) cần đàn nhỏ và dài. Đàn Nguyệt có hai giây. Về h́nh dạng, đàn Tỳ Bà đẹp hơn đàn Nguyệt và cũng là đề tài cho các họa sĩ khi vẽ người đàn bà ôm đàn, một nửa cần đàn che một phần hay nửa khuôn mặt người kỹ nữ.

 

Có lẽ họ lấy ư ở câu thơ trong Tỳ Bà Hành: “Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.”

 

Trong văn học nước ta, Tỳ Bà Hành là một tác phẩm văn chương rất nổi tiếng. Đó là một bài hành, nguyên tác bằng Hán văn của Bạch Cư Dị, thi nhơn đời Đường bên Tàu. Tập thơ được Phan Huy Vịnh dịch ra thơ Nôm.

 

Từ khi có chương tŕnh giáo dục Hoàng Xuân Hăn (chính phủ Trần Trọng Kim, thời Nhật) đến năm 1956, Tỳ Bà Hành được đưa vào chương tŕnh Việt Văn lớp Đệ Tứ.

 

Khi đi học, tôi may mắn được học tác phẩm nầy. Và tôi rất mê. Tôi có tật mê thơ. Khi trả bài cho thầy, tôi đọc một lèo 88 câu, trong khi đó, thầy không thuộc như tôi.

 

Tuy Tỳ Bà Hành không sánh được với truyện Kiều nhưng rất nhiều người mê Tỳ Bà Hành c̣n hơn mê truyện Kiều.

 

Sách Văn Đàn Bảo Giám viết:

         

“Tỳ Bà Hành là một bài hành của Bạch Cư Dị đời Đường, gồm có một bài tự và tám mươi tám câu hát. Dưới đây là nguyên văn bài tự và bài dịch của Phan Huy Vịnh (xem phụ lục)

 

Bản dịch bài tự:

“Niên hiệu Nguyên Ḥa thứ mười, ta phải đổi ra làm tư-mă quận Cửu Giang. Mùa Thu năm sau, đi tiễn khách ở bến Bồn. Đêm nghe thấy người gảy đàn tỳ-bà ở trong một chiếc thuyền kia, những giọng đàn lanh lảnh có tiếng ở kinh kỳ. Hỏi ra mới biết là một người xướng nữ ở Trường An, thường học đàn ở hai nhà thiện tài họ Mục và họ Tào, đến khi tuổi cả sắc suy mới gởi thân làm vợ một anh lái buôn. Liền bảo đặt rượu và gảy mấy khúc đàn chơi. Gảy xong, người ấy buồn bă, tự kể khi trẻ trung th́ vui thú chừng nào, nay phải lưu lạc tiều tụy ở nơi giang hồ. Ta ra làm quan ở ngoài đă hai năm, vẫn thường lẵng lặng tự dưng, đêm ấy cảm mấy lời nàng nói mới để ư đến nỗi ḿnh bị giáng trích, nhân làm bài ca trường thiên để tặng. Cả bài có sáu trăm mười sáu lời, đặt tên là “Tỳ-bà hành”.

 

Ngay bài tựa, Bạch Cư Dị cũng không dám nói thật. Ông v́ ḷng ngay thẳng, lời nói thật mà bị bọn nịnh thần xàm tấu với vua nên bị biếm (đày) ra đất Giang Châu.

 

Điều đó không làm cho Bạch buồn sao? Vậy mà Bạch viết: “Ta ra làm quan ở ngoài đă hai năm, vẫn thường lẵng lặng tự dưng.”

 

Không, ông không thể “lẵng lặng tự dưng” được, mà chính ḷng ông ôm một mối u hoài v́ ḷng ngay thẳng của ông không được vua thấu rơ, lại c̣n đày ông ra nơi nầy. Ông không thể “đêm ấy cảm mấy lời nàng nói mới để ư đến nỗi ḿnh bị giáng trích.”

 

Câu thơ sau đây mới là nỗi ḷng thật của ông:

Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai

 

 Và:

 

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích

Tai chẳng nghe đàn địch suốt năm

Sông Bồn gần chốn cát lầm

Lau vàng trúc vơ âm thầm quanh hiên

                  

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối

Quốc kêu sầu vượn nói véo von

Hoa xuân nở nguyệt thu tṛn

lần tay chuốc chen son ngập ngừng

                  

Há chẳng có ca rừng địch nội

Giọng líu lo nhiều nỗi khó nghe

 

Trong chế độ phong kiến độc đoán Tống Nho, một lời oán trách, buồn phiền nhà vua cũng là một trọng tội, “khi quân” thành ra chữ “lẵng lặng tự dưng” ông nói ở trên chỉ là lời nói khéo để khỏi bị triều đ́nh bắt tội mà thôi.

 

Các nhà phê b́nh văn học cổ cho rằng bản dịch chữ Nôm của Phan Huy Vịnh c̣n hay hơn cả bản chính chữ Nho của Bạch Cư Dị, chứng tỏ tài năng của nghệ sĩ nước ta.

 

Câu chuyện người kỷ nữ ôm đàn sang thuyền của Bạch đàn ca bị người đời sau chê nàng là người thiếu thủy chung với người chồng đi vắng.

 

Trong truyện Kiều, Thúy Kiều thề ước với Kim Trọng “Trăm năm thề chẳng ôm cầm thuyền ai” là nói chuyện đêm ấy người kỹ nữ ôm đàn sang thuyền Bạch Cư Dị để vui ca và uống rượu, là muốn nói ḷng thủy chung của cô với chàng Kim vậy. Thúy Kiều sẽ không ôm cầm thuyền ai mà giữ ḷng chung thủy.

 

Vậy mà cuối cùng, v́ gia biến, Kiều phải bán ḿnh chuộc cha, để lỡ lời thề với chàng Kim.

 

Than ôi! Xưa cũng như nay, v́ hoàn cảnh hay tự ḷng ḿnh không vững bền, mấy ai giữ được một tấm ḷng chung thủy!

 

Tỳ Bà Hành có ảnh hưởng rất lớn trong văn học Việt Nam, không chỉ trong cổ văn mà c̣n cả trong thi ca lăng mạn tiền chiến, và nay cũng theo chân người tỵ nạn mà theo sang đến xứ Cờ Hoa nầy.

 

Cái ảnh hưởng đó, rơ nhất là ở bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu:

 

Nguyệt Cầm

Xuân Diệu

 

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm

Mỗi giọt rơi tràn như lệ ngân.

 

Mây trắng trời trong đêm thủy tinh

Lung linh bóng sáng bỗng run ḿnh

V́ nghe nương tử trong câu hát

Đă chết đêm rằm thu nước xanh

 

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,

Đàn ghê như nước, lạnh trời ơi ...

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người

 

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rộn bốn bề ...

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

 

Một đêm trăng, Bạch Cư Dị (BCD) tiễn bạn ra bến Tầm Dương trên sông Bồn.

 

BCD viết:

“Thuyền không đổ bến mặc ai,

Quanh thuyền trăng dăi nước trôi lạnh lùng."

 

Hoặc:

“Nước mênh mông đượm vẻ gương trong”.

 

Hoặc:

“Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt,

 Một vầng trăng trong vắt ḷng sông”, v.v...

 

Như thế, nói chung, người ta có thể hiểu là đêm tiễn bạn ấy trăng nước mênh mông và lạnh lẽo. Từ ư đó. Xuân Diệu (XD) viết:

 

“Trăng lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,

Đàn ghê như nước lạnh trời ơi”.

 

Và:

“Mây trắng trời trong đêm thủy tinh,

Lung linh bóng sáng bỗng run ḿnh”.

 

Về chỗ bến sông Bồn (Tầm Duơng), BCD viết:

 

“Quạnh hơi thu lau lách đ́u hiu.”

 

Xuân Diệu như linh cảm, nghe được cả tiếng sỏi kêu dưới chân kẻ đưa, người tiễn:

 

“Long lanh tiếng sỏi vang vang hận.”

 

Chính XD cũng xác nhận bài thơ Nguyệt Cầm của ông mô tả tiếng đàn đêm nào trên bến Tầm Dương:

 

“Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người...”

 

“Người” XD nói ở đây là ai?

 

Bạch Cư Dị và người bạn Bạch đưa tiễn?

 

Không! “Người” XD nói đó chính là người ca kỷ già trong Tỳ Bà Hành.

 

Ở một câu khác, XD nóirơ người đó hơn:

 

V́ nghe nương tử trong câu hát

Đă chết đêm rằm thu nước xanh.

 

Về người kỹ nữ đó, BCD mô tả:

 

Tay ôm đàn che nửa mặt hoa

 

Về sắc đẹp khi c̣n trẻ th́:

 

Ả Thu nương ghen lúc điểm tô,

 

Cũng giống như cô Kiều:

 

Hoa ghen sắc thắm, liễu hờn kém xanh” vậy.

 

Những câu khác của XD dùng để tả tiếng đàn của kỷ nữ:

 

Mỗi giọt rơi tràn như lệ ngân.

 

Bạch Cư Dị th́ viết:

 

Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi

Lệ ai chan chứa hơn người

 

Xuân Diệu viết một câu khá hay và nghe khá “ớn lạnh” có vẻ ghê rợn như trong “Bài Thơ Chiêu Niệm” của Đinh Hùng:

 

V́ nghe nương tử trong câu hát

Đă chết đêm rằm thu nước xanh

 

Từ bài thơ nầy của Xuân Diệu, nhạc sĩ Cung Tiến soạn bản nhạc Nguyệt Cầm.

 

Nh́n chung, lời ca trong bài hát Nguyệt Cầm của Cung Tiến không khác với thơ Xuân Diệu, tuy ở vài câu, Cung Tiến có phát triển thêm ư thơ của Xuân Diệu mà thôi.

 

Tôi ghi lại lời ca trong bài hát “Nguyệt Cầm” như sau đây để độc giả có thể thấy tài năng âm nhạc của Cung Tiến và luôn cả tài năng thơ của ông.

 

Quí vị nào đă xem Paris by Night 58, tất có nghe Nguyễn Ngọc Ngạn phỏng vấn Cung Tiến về việc phổ nhạc bài thơ nầy.

 

Nguyệt cầm

Cung Tiến,

(phổ thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu)

 

Đêm mùa trang úa làm vỡ hồn ta...

Ngập ngừng xa...suối thu dồn lá úa trôi xa

Sầu thu, sầu lên vút mịt mù

Mà e nhớ, hương mùa thu

Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng

Từng thoáng lệ ngân

Mà hồn phân vân cuồng điên nhớ

Long lanh tiếng nguyệt cầm, tiếng đàn trầm

Ai nhớ Nương Tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát...

Chết theo nước xanh...

Chết theo nước xanh...

 

Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh...

 

Long lanh long lanh, trăng chiếu một ḿnh

Khơi vơi khơi vơi, nhắc ḷng tỏ ngời

Nguyệt cầm ôi tiếng lệ ngân.

Chết từng mùa Xuân...

 

Đêm ngời men nhớ... Nhắc tên người thủa xưa

Trăng sầu riêng chiếc... Trăng sầu riêng chiếc

Sầu cho đến bao giờ?

Hồn ghê bến bờ sao, ngập hồn xanh biếc trời cao

Ḱa thuyền trăng, trăng nhớ Tầm Dương

Nhớ nhắc ḷng đêm ấy thuyền neo bến ấy

 

Nguyệt Cầm nghe nức từng câu...

Có hàng mây trắng về đâu... mặt ch́m sâu

Đêm lắng đợi sâu

Nguyệt Cầm khơi măi t́nh sâu.

Khơi măi nguồn đêm

 

...Mùa trăng úa làm vỡ hồn ta...

Ngập ngừng xa suối Thu dồn lá úa trôi qua.

Sầu Thu sầu lên vút mịt mù, mà e nhớ hương mùa Thu.

Trăng Tầm Dương lung linh bóng sáng từng thoáng lệ ngân

Mà hồn phân vân cuồng điên nhớ long lanh tiếng Nguyệt cầm, tiếng đàn trầm.

Ai nhớ nương tử một đêm nao trăng thanh trong lời hát

Chết theo nước xanh.

Chết theo nước xanh.

Ôi đàn trăng cũ làm vỡ hồn anh.

 

Người ta có thể thấy một gịng trôi của thơ, - hay thi ca, hay văn học -, từ Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị bên Tàu, sang Việt Nam, Phan Huy Vịnh dịch thành thơ Nôm, tới Nguyệt Cầm của Xuân Diệu và ngày nay, Nguyệt Cầm của Cung Tiến bằng Quốc Ngữ.

 

Tuy nhiên, tôi vẫn có một thắc mắc mà chưa giải đáp đươc.Tại sao từ cây đàn Tỳ Bà của Bạch Cư Dị bên Tàu nay biến thành Cây đàn Nguyệt của Xuân Diệu và Cung Tiến?

 

Quí vị nào từng nghiên cứu thơ văn, các nhà nghiên cứu âm nhạc, nhứt là nhạc cổ của ta như Giáo Sư Trần Văn Khê, và Trần Quang Hải, và cả Cung Tiến nữa, người đă phổ nhạc bài thơ của Xuân Diệu, nếu có chút th́ giờ, xin trả lời câu hỏi nầy?

 

 

hoanglonghai

Mass, cuối mùa lạnh.

 

 

Ghi chú:

Vào cửa Thượng Tứ, rẽ trái, đi dọc theo trường thành, xưa là đường Cột Cờ (v́ đường nầy đi ngang cột cờ Ngọ Môn), sau nầy là đường Ông Ích Khiêm (họ Ông của người Chàm, không phải là tiếng để gọi như Ông, Bà ...) được một đổi, quí vị thấy bên trái, phía tường thành, một gian nhà nhỏ xinh xắn, mái lợp ngói đỏ, vách tường màu vàng, trên tường có h́nh cây đàn Tỳ Bà; cổng có tấm biển ghi: “Tỳ Bà Trang”.

 

Đó là ngôi nhà của cố nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba.

 

Ông người làng Đạo Đầu, tỉnh Quảng Trị, người ta thường gọi là Cậu Ba, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gọi ông là Cậu Ba lé (v́ ông bị lé (lác) mắt). Ông nổi tiếng giỏi cả tân lẫn cổ nhạc, chơi được nhiều loại nhạc khí cổ, cũng như nhạc khí Tây phương. Trước 1945, ông là Hội Trưởng Hội Âm Nhạc Quảng Trị (tôi nhớ điều nầy không chắc lắm) hoạt động tích cực trong ngành âm nhạc ở tỉnh nầy. Sau 1945, ông là giáo sư âm nhạc ở trường Khải Định nhỏ (cấp hai, Khải Định lớn là cấp 3).

 

Năm 1955, tôi cùng vài người bạn tổ chức một đêm văn nghệ tại rạp Julien Frère ở thành phố Quảng Trị, có dựng vở nhạc kịch "Thu Khói Lửa" là một nhạc phẩm của Nguyễn Hữu Ba, nói về thời kỳ đầu chống Pháp đem quân trở lại xâm lược nước ta. Tôi đến Tỳ Bà Trang để nhờ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba hướng dẫn dựng vở nhạc kịch nầy.

 

Hôm tôi đến, nhạc sĩ đang ngồi chơi với vài cô gái Huế trong một căn cḥi tranh, nằm theo triền giốc thượng thành, là vườn ổi của ông ở sau nhà. Họ đang nói cười vui vẻ lắm.Tôi đến cũng đường đột.V́ muốn đi gấp nên tôi tŕnh bày thẳng ư muốn với ông. Khoảng 10 phút là tôi xong việc, giă từ. Lúc bấy giờ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba chưa lấy vợ, ông ở Tỳ Bà Trang với mẹ già. Đó là lần độc nhứt tôi tới Tỳ Bà Trang.

 

Ở Huế người ta đồn khi trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon thành lập, lệnh của ông Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu là mời nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba vào Saigon làm giáo sư âm nhạc dân tộc trường nầy. V́ vậy, ông rời Huế khoảng 1957. Măi đến sau 1975, ông mới trở về Huế sống ở Tỳ Ba Trang cho đến khi qua đời trong cảnh nghèo nàn./.

 

 

Vài kỷ niệm thơ trong tù:

 

Năm 1980 hay 81, tôi ở trại tù Cải Tạo Xuân Lộc, Long Khánh. Một hôm chủ nhật – Chủ nhật khỏi đi “lao động”, có nghĩa là đi phá rừng – phá trắng – có nghĩa là không cho “Phục quốc” của vùng “Dốc Mơ/ Gia Kiệm” lập căn cứ ở đây. Và được “ở nhà, vui chơi, tăm giặt, nghe đài” như cán bộ biểu. Đám chúng tôi gồm 5 người: anh Lă Trung T., anh Trịnh Xuân Ch. anh Phan Thành Long, và cụ Trần Văn Niệm. Chúng tôi uống ca-phê – Ca-phê Ban Mê Thuột ngon, của cụ Niệm. Cụ người Bắc di cư, gia đ́nh ở trên ấy. Anh cụ là “Danh thủ bóng tṛn Bắc Kỳ Trần Văn Ứng”.

 

Uống cà-phê và nói đủ thứ chuyện, kể cả chuện “phản động”. Tôi nói tới Tỳ Bà Hành và tài chôm thơ của Xuân Diệu, mặc dù tết vừa rồi, tôi “chớp” hai câu thơ của XD in trong báo tết, gởi về cho vợ:

 

Anh ở rất xa, vẫn thấy gần,

Anh ở gần như trông thấy mặt.

 

Hai câu thơ nầy chẳng hay ho ǵ, nhưng đang “bí thơ” nên cứ chép đại gởi về cho vợ... vui.

 

Nhiều người “vinh danh” XD là nhà thơ t́nh hạng nhứt nước ta. Tôi th́ cho rằng, Việt Cộng mà “t́nh tang” ǵ, chi là mặc áo thụng vái nhau cho xôm tṛ Show up. Việt Cộng là chúa show up.

 

XD có cái tài “chôm” thơ người khác, nhứt là thơ Pháp, chôm khéo lắm, khó biết. Nhưng chính XD cũng có khi xác nhận ông ta chôm thơ Tây:

 

nhé, XD viết:

 

Tôi nhớ Rimbeau với Verlaine,

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men

 

Năm tôi học lớp Đệ Lục, ông Lê Đ́nh Ngân, - cũng là một nhân vật trong nhóm văn thơ XD, Chế Lan Viên, Hàm Mặc Tử, Quách Tấn, Đ́nh Ngân... – dạy cho chúng tôi bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu. Tôi có thưa với thầy rằng bài thơ nầy Tây quá, nhất là ở hai câu thơ cuối:

 

“Những người thiếu nữ buồn không nói,

Tựa cửa nh́n xa nghĩ ngợi ǵ?!

 

Một cô gái đứng tựa cửa sổ nh́n ra phương trời xa là h́nh ảnh một cô gái Tây phương, hay ít ra, đó là một cô gái tiểu tư sản thành thị, một cô gái trong thơ cổ của Tàu, một

 

“Khứ niên kim nhật thử môn trung.

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng...”

 

trong thơ Thôi Hộ, không thể là h́nh ảnh một cô gái quê Việt Nam.

 

Hôm đó, ông Ngân không nói ǵ, chỉ cười. Nhưng mấy năm sau, khi tôi đă làm thây giáo, đến thăm ông, nói lại chuyện cũ, ông khuyên tôi nên dạy Việt Văn, và viết sách giáo khoa để dạy cho học tṛ.

 

Đọc bài Nguyệt Cầm của XD, người ta thấy rất rơ cảnh tượng và tâm tư của Bến Tầm Dương.

 

Trở lại câu chuyện uống ca-phê Ban-Mê-Thuột trong tù, hôm đó cụ Niệm đưa cho tôi một cuốn tập, bảo tôi chép lại 88 câu thơ của Tỳ Bà hành cho cụ, v́ – như cụ nói: “Tôi cũng mê Tỳ Bà hành lắm”. Tôi làm y lời yêu cầu. Sau đó ít lâu, Công An trại kiểm tra “tư trang” của người tù Cải Tạo. Bao nhiêu “tư trang” của chúng tôi phải đem ra sân, bày lên trên một tấm bạt, như người ta “bán chợ trời” để cán bộ “kiẻm tra”, nhiều thứ bị tịch thu, nhất là dao kéo...

 

Cuốn tập có bài thơ Tỳ Bà hành của cụ Niệm cũng bị tịch thu, v́ cán bộ cho đó là “Tài liệu phản động”.

 

Mấy năm sau, cụ Niệm không đi hết con “đường tù Cải tạo”. Cụ nằm lại đó, trong “nghĩa trang tù Vườn Xoài”, nghĩa trang nằm ở chân “đồi Phượng Vĩ”, doanh trai cũ của Quân Đội VNCH.

 

Cũng nói thêm một chuyện. Hồi ông Ban Ki Moon, người Nam Hàn, làm Tổng Thư Kư LHQ, có đến VN thắp hương cho ông bà ở đền thờ họ Phan Huy...

 

Ông Ban không tuyên bố ǵ, nhưng có người nghi ông thuộc ḍng họ nầy, đă di cư qua Triều Tiên khoảng mấy trăm năm trước, giống như ông hoàng Lư Long Tường đă đem gia quyến giong buồm sang bên đó, hồi cuối đời nhà Lư, tránh lưỡi gươm của ông Trần Thủ Độ.

 

Phan Huy là một họ lớn ở Nghệ An: học giỏi, có tài văn chương và khoa bảng:

Phan Huy Vịnh, Phan Huy Chú, Phan Huy Thực, Phan Huy Ôn...

 

Ông Phan Huy Quát là thủ tướng VNCH, Phan Huy Lê là nhà sử học ở ngoài Bắc. Bà Lê Phan vợ nhà sử học Nguyễn Mạnh Hùng là con gái thủ tướng Phan Huy Quát, bà từng làm việc cho đài BBC, nổi tiếng giỏi.

 _______________________________________

 

 

Tỳ Bà Hành

Bạch Cư Dị

Phan Huy Vịnh dịch

 

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đ́u hiu

Người xuống ngựa, khách dừng chèo

Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty

 

Say những luống ngại khi chia rẽ

Nước mênh mông đượm vẻ gương trong

Tiếng tỳ đâu thoảng trên sông

Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi

 

Lần tiếng sẽ hỏi ai đàn tá,

Bẳng tiếng đàn nấn ná làm thinh

Rời thuyền gạn hỏi thăm t́nh

Chong đèn chuốc rượu c̣n dành tiệc vui

                   

Mời mọc măi thấy người bỡ ngỡ

Tay ôm đàn che nửa mặt hoa

Vặn đàn vài tiếng dạo qua

Tuy chưa nên khúc t́nh đà thoáng hay

 

Nghe năo nuột mấy giây buồn bực

Dường than niềm tấm tức bấy lâu

Mày chau tay gảy khúc sầu

Dăi bày hết nỗi trước sau muôn vàn

                   

Ngón buông bắt khoan khoan d́u dặt

Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu

Dây to dường đổ mưa rào

Tỉ tê dây nhỏ như chiều chuyện riêng

                   

 Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy

Mâm ngọc đâu lần nảy hạt châu

Trong hoa oanh ríu rít nhau

Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh

                   

Nước suối lạnh dây manh ngừng đứt

Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ

Âm thầm đau giận ngẩn ngơ

Xem ra lặng lẽ bây giờ càng hay

                   

B́nh bạc vở tuôn dầy mạch nước

Ngựa sắt rong sàn sạt tiếng đao

Cung đàn lựa khúc tiêu tao

Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây

                   

Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt

Một vầng trăng trong vắt ḷng sông

Ngậm ngùi đàn đă gảy xong

Áo xiêm sửa sáng dậy mong giải lời

                   

Rằng xưa vốn là người kẻ chợ

Cồn Hà Mô trú ở lân la

Hay đàn từ thuở mười ba

Giáo phường đệ nhất bộ đà chép tên

                   

 Gă thiện tài sợ phen dựng khúc

Ả Thu nương ghen lúc điểm tô

Ngũ lăng công tử ganh đua

Biết bao the thắm chuộc mua tiếng đàn

                   

Vành lược bạc găy tan nhịp gơ

Mănh quần hồng hoen ố rượu rơi

Năm năm lần lữa vui cười

Măi gió trăng chẳng đoái hoài xuân thu

                   

Buồn em trẩy lại lo d́ thác

Lần hôm mai đổi khác h́nh dung

Cửa ngoài xe ngựa vắng không

Về già phải kết duyên cùng khách thương

                   

Khách trọng lợi khinh đường ly cách

Măi buôn chè sớm tếch ngàn khơi

Thuyền không đổ bến mặc ai

Quanh thuyền trăng giải nước trôi lạnh lùng

                   

Đêm thâu sực nhớ ṿng tuổi trẻ

Lệ trong mơ hoen vẻ phấn son

Nghe đàn ta đă chạnh buồn

Lại rầu thêm nỗi nỉ non mấy lời

 

Cùng một lứa bên trời lận đận

Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau

Từ xa kinh khuyết bấy lâu

Tầm Dương đất khách gối sầu hôm mai

 

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích

Tai chẳng nghe đàn địch suốt năm

Sông Bồn gần chốn cát lầm

Lau vàng trúc cỗi âm thầm quanh hiên

 

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối

Quốc kêu sầu vượn nói véo von

Hoa xuân nở nguyệt thu tṛn

Lần lần tay chuốc chen son ngập ngừng

 

Há chẳng có ca rừng địch nội

Giọng líu lo nhiều nỗi khó nghe

Tiếng tỳ bỗng lắng canh khuya

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai

 

Hăy ngồi lại đàn chơi khúc nữa

Sẽ v́ nàng soạn sửa bài ca

Tần ngần dường cảm lời ta

Dén ngồi bắt ngón đàn đà kíp dây

 

Nghe năo nuột khác tay đàn trước

Khắp tiệc hoa tuôn nước lệ rơi

Lệ ai chan chứa hơn người

Giang Châu Tư Mă đượm mùi áo xanh.    

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính