“Ru em bằng lời ca dao”

- Bài 3 -

 

Con cò trong ca dao

 

hoànglonghải

 

 

Các họa sĩ Việt Nam, khi vẽ cảnh đồng quê nước ta, thường không thiếu hình ảnh đàn cò hay mấy con cò đang đậu, nghỉ ngơi hay ở tư thế đang đi kiếm mồi dọc teo các luống cày, cũng không thiếu một vài con cò sãi đôi cánh trắng, duỗi hai chân dài trên đồng ruộng nâu (khi đang cày, bừa) hay đồng ruộng xanh (khi đang gặt hái).

 

Nước ta ở xứ nóng, và cò cũng đi, về theo mùa. Mùa xuân cò về như nhắc nhở nông phu tới mùa làm ruộng, cày cấy. Mùa thu cò về nhắc nông phu gặt hái, thu hoạch mùa màng, v.v… Vì vậy trên đồng ruộng ít khi không có hình ảnh con cò. Khi trời nắng, cò xoải cánh bay ngang trời, khi mưa lạnh thì con cò gập cánh đứng co ro dưới mưa cơn mua phùn gió bấc.

 

Cò hơi giống vạc. Tuy nhiên, phận cò hèn mọn hơn, không như vạc, đôi khi được thế chân phượng tạc hình đội chân đèn trên bàn thờ. Cò cũng chẳng bao giờ được ví với hạc, với vạc duỗi bay về cõi hư không, biểu tượng cho tuổi già. Tuy nhiên, cò là người mẹ hết lòng vì con:

 

À ơi ... Con cò mày đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

Ông ơi, ông vớt tôi nao

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con ...

 

Cò cũng biết giữ lòng thanh cao đấy, bởi vì cò đã từng van vỉ ông lão nhà nông: “Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.” “Chết trong hơn sống đục” – tục ngữ.

 

Người nhà nông ít ưa ăn thịt cò, cũng không phải cò có lợi cho nhà nông, nhưng thịt cò dai và tanh.

 

Cò mẹ vì con nên một đời vất vả, nhất là khi thời tiết thay đổi thất thường làm cho cò mẹ khó kiếm miếng ăn:

 

Nước non lận đận một mình,

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay

Ai làm cho bể kia đầy,

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con?

 

Cò ngay thẳng hơn con diệc, nói năng thành thật:

 

“Cái cò cái vạc cái nông,

Sao mày giẫm lúa nhà ông hỡi cò?

Không, không tôi đứng trên bờ.

Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi!

Không tin thì ông đi đôi,

Mẹ con nhà còn ngồi ở kia.”

 

(Không tin thì ông đi đôi,

có nghĩa là đôi co).

 

Khi người nhà nông đi làm ruộng thì có cò xuất hiện bên cánh để bắt cá ốc trên đồng ruộng khi ruộng tưới tiêu cày bừa. Do đó, cò gần gủi thân quen với người. Khi nói tới đời sống người nhà nông, thôn quê, đâu có thể vắng hình ảnh cò:

 

“Con cò bay lã bay la

Bay từ Phủ Chúa bay ra cánh đồng

Tình tính tang, là tang tính tình

Duyên tình rằng, ấy duyên tình ơi,

Rằng có nhớ, nhớ hay chăng?

Rằng có biết biết hay chăng?”

 

“Con cò, cò bay lã bay la

Bay từ từ cửa phủ, bay ra cánh đồng”

 

Khi thì người ta hát “cửa phủ” có thể là cửa phủ, cửa dinh quan phủ, quan huyện. Nhưng khi nói “phủ Chúa” thì có thể là phủ chúa Trịnh, không hẵn là phủ Chúa Nguyễn ở Đằng Trong. Có thể xem câu hò nầy xuất phát từ đồng bằng Bắc bộ nước ta, thời “Vua Lê, Chúa Trịnh.”

         

Từ sự gần gủi thân quen, cò được nhân cách hóa, biết tình gia đình, thương cha mẹ, thăm anh (chồng) làm tròn chữ hiếu và đạo vợ chồng.


Cái cò đi đón cơn mưa,

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về,

Cò về thăm quán cùng quê,

 Thăm cha thăm mẹ, còn về thăm anh.

 

Cũng trong viễn tượng nói trên, cò được ví với người mẹ tần tảo nuôi con, biết giao thiệp với mẹ cha, cô dì, chú bác trong “chủ nghĩa đại gia đình” của người Việt:

 

Con cò đi đón cơn mưa,

- Tối tăm mù mịt ai đưa cò về,

Cò về đến gốc cây đề,

Có đứa rình bắn, cò về làm chi?

- Cò về thăm bác, thăm dì,

Thăm cô xứ Bắc, thăm dì xứ Đông.

 

Cũng từ sự nhân cách hóa, con cò được đem ra làm biểu tượng để dạy người chồng:

 

Con cò là con cò quăm

Mày hay đánh vợ, mày nằm với ai

Có đánh thì đánh sớm mai

Đừng đánh chập tối lấy ai nằm cùng

 

Cò cũng là biểu tượng cho tình yêu trai gái, vợ chồng.


Một đàn cò trắng bay tung,

Bên nam bên nữ ta cùng hát lên.

Hát lên một tiếng linh đình.

Cho lăn lóc đá, cho rung rinh trời.

Hát lên một tiếng linh đình,

Cho loan sánh phượng, cho mình sánh ta.

Cất lên một tiếng la đà,

Đàn ông hát trước, đàn bà hát sau.

 

Hát là một phương cách giải trí làm vơi bớt sự mệt nhọc, sau khi xong việc cũng như khi đang làm việc. Đời sống văn hóa đó, rất thường xảy ra trong xã hội xưa. Thường người ta mở đầu sự quen biết bằng cách “Miếng trẩu là đầu câu chuyện”:  

 

Một đàn cò trắng bay qua,

Thấy đám hát đúm muốn sa xuống chào.

Cò ơi, cò ở phương nào?

Xuống đây chúng chị hóa trao câu này.

Xuống đây ăn miếng trầu cay,

Ăn trầu nghe hát cả ngày lẫn đêm.

 

Cũng như con người, vì đã được nhân cách hóa nên cò cũng biết e thẹn trước người lạ. Thái độ ấy dễ bị người trong cuộc “chọc quê”: Gẫy tre của làng.”

 

Con cò trắng toát như bông,

Muốn nghe hát đúm mà không chịu vào.

Nghĩ gì, cò đậu cành cao,

Nghiêng nghiêng, nghé nghé nửa chào, nửa e.

Xuống đây cho ta nhắn nhe,

Đừng đứng trên ấy, gẫy tre của làng.

 

Đây cũng là lời chê trách khác về sự e ngại của cò:


Con cò là con cò vàng,

Muốn đi hát đúm, sợ làng khen chê.

Ai cười lời kẻ thôn quê,

Mà cò ngần ngại đứng lề đường quan.

Hay cò vui câu xẩm xoan,

Thì cò bay đến, giao hoan cùng người.

 

Người nhà quê cũng rất bạo dạn trong lời tỏ tình, nhưng thể hiện nó một cách hết sức khéo léo:

 

Một đàn cò trắng kia ơi,

Có nghe ta hát những lời này không?

Hát câu đẹp cốm, tươi hồng,

Hát câu nên vợ nên chồng cò ơi.

         

Sinh con gái cha mẹ nhờ cậy được nhiều khi con gái chưa lấy chồng như buôn bán, làm việc đồng áng, việc nhà, giúp cha mẹ v.v…Vì vậy, cha mẹ thường muốn chậm gả con bởi vì “Con gái là con người ta”, lấy chồng là phải về nhà chồng, chăm sóc “gia nương” bên chồng.

 

Ca dao có câu:

 

“Mẹ già tham việc tiếc công,

Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi.”

 

Trong bài nầy, người con trai lấy chuyện con cò ra để nói với cô gái, xin mẹ đi lấy chồng kẻo sợ mai kia “má hồng phôi pha.” Khi già, lỡ duyên thì đời con gái như “chợ trưa, dưa héo”. Ngoài cò, mọi gia súc đều “yên phận” đâu cả rồi như con gà, con ngựa, con rồng đã  “về Bình Long” (Bình Long là con rồng không bay, con rồng nằm (bình), con dê chạy đủ một vòng núi Đồng Dương, con cá về biển Long Hải…

 

Với những địa danh trong bài, có lẽ câu ca dao nầy là của người dân miền Đông Nam Bộ:

 

Con cò lặn lội bờ sông

Ngày xuân mòn mỏi má hồng phôi pha.

Em về giục mẹ cùng cha

Chợ trưa, dưa héo nghĩ mà buồn tênh.

Con gà hắn mổ hột kê

Con ngựa ăn gò mả, con rồng về Bình Long

Núi Đồng Dương, dê chạy giáp vòng

Ngó về Long Hải, con cá nằm ngất ngư

Em về em lạy mẫu từ

Hẹn ngày hoàng đạo rồi từ từ đi theo anh.”

 

(Giờ hoàng đạo là giờ tốt nhứt trong ngày, tính theo

dịch lý đông phương)


Người chưa cưới được cô gái thì khuyên nên về xin cha mẹ cho

đi lấy chồng.

 

Người cưới được vợ rồi thì sinh ra rượu chè. Bài ca dao sau đây tả tâm sự một người được vợ giao tiền lên mạn ngược buôn bán. Tiếc rằng anh ta mảng vui ở xứ Lạng mà quên cái nhiệm vụ vợ giao cho anh:

 

Cái cò bay bỗng bay cao,

Bay từ Cửu phủ bay vào Đồng Đăng.

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa,

Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh.

Ai lên xứ Lạng cùng anh,

Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em,

Tay cầm bầu rượu nắm nem,

Mảng vui quên hết lời em dặn dò.

Gánh vàng đi đổ sông Ngô,

Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.

 

Bài sau đây có ý trách một người đã có vợ rồi mà không đứng đắn, còn “lăm le vợ người.” Đối với luân lý người Việt (xưa), dòm ngó, lấy vợ người khác là một tội lớn, xưa gọi là “phá gia cang” người ta. Cũng ý nầy, ca dao cũng có câu: “Trai tân gái goá thì chơi, Đừng nơi có vợ đừng nơi có chồng.”

 

Con cò lấp lé bụi tre,

Sao cò lại muốn lăm le vợ người.

Vào đây ta hát đôi lời,

Để cho cò hiểu sự đời ở ăn.

Sự đời cò lấy làm răn,

Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời.

 

Tỉnh Quảng Ninh có mỏ than Cẩm Phả rất lớn, khai thác từ thời Tây đô hộ nước ta. Người thợ mỏ phải đẩy những “gòòng” than nặng nhọc. Thấy chồng khó nhọc, vợ thường phải giúp chồng:

 

Cây mắm cò quăm, cây xú cò queo,

Thắt lưng cho chặt mà theo anh về,

Ăn cơm với cá mòi he,

Lấy chồng Cẩm Phả đun xe suốt đời.

 

Cà (Xem bài cà) là một món ăn rất phỏ biến ở miền quê nước ta, thường dùng để ăn với cơm. Trong Nam, không ít khi người ta làm “mồi” nhậu. Cà phải ngâm trong muối để ăn cho mặn miệng vì khi làm đồng, mồ hôi ra nhiều, nên cơ thể thiếu muối, phải ăn bù. Cà càng mặn, lại càng ít hao. Vậy thì cà bao giờ cũng phải có muối, cũng như trên mặt trăng phải có chú cuội. Trăng mà không có Cuội thì không còn là trăng. Với thể ví như thế, người con trai muốn nói với cô gái rằng hai người không thể thiếu nhau:

 

Một đàn cò trắng bay quanh,

Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta.

Mình nhớ ta như cà nhớ muối,

Ta nhớ mình như cuội nhớ trăng.

Mình về mình nhớ ta chăng?

 

Người ta dùng những nông sản bình thường khoai cam quít… để tỏ nỗi nhớ nhau:

 

Chiều chiều én liệng cò bay,

Khoan khoan nhớ bạn, bạn rày nhớ ai?

Bạn rày nhớ củ nhớ khoai,

Nhớ cam, nhớ quít, nhớ xoài cà lăm.

 

 “Để em ôm bóng trăng tà năm canh” là tả cảnh cô đơn. Càng cô đơn càng nhớ nhung, và hỏi người có nhớ lại hay không:

 

Một đàn cò trắng bay quanh,

Để em ôm bóng trăng tà năm canh.

Nước non một gánh chung tình

Nhớ ai, ai có chung tình không ai?

 

Người con trai dùng thể ví để dùng hình ảnh con cò mở đầu câu chuyện, nhắc tới món quà đã cho, món quà làm cho người con gái phải chịu lấy anh ta làm chồng.

 

Cái cò bay bỗng bay lơ,

Lại đây anh gởi xôi khô cho nàng,

Đem về nàng nấu nàng rang,

Nàng ăn có dẻo thời nàng lấy anh.

 

Người con trai dùng những hình ảnh đặc biệt như “xem vua đúc tiền” và thậm xưng như “sung chát, đào chua” để nói lên ý chí của anh quyết lấy cô gái làm vợ, nhất thiết không cho cô gái “ở vậy được chăng?”

 

Con cò lặn lội bờ ao,

Ăn sung sung chát, ăn đào, đào chua.

Ngày ngày ra đứng cổng chùa.

Trông ra Hà Nội xem vua đúc tiền.

Ruộng tư điền không ai cầy cấy,

Liệu cô mình ở vậy được chăng?

Mười hai cửa bể anh cũng đóng đăng,

Cửa nào lắm cá, anh quăng chài vào.

 

“Muối đổ lòng ai nấy xót” . Muối đổ lòng gà, gà xót cũng không bằng người con trai xót cho cô gái. Có phải cô ta lấy một người chồng không “xứng đôi” hay chăng?:

 

Cái cò, cái vạc, cái nông,

Cùng ăn một đồng, nói chuyện giăng ca,

Muối kia đổ ruột con gà,

Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình

 

Sau dây cũng là một lời khuyến dụ đầy thỏa mãn của người con trai khi “tán tỉnh” cô gái:

 

Con cò trắng tựa như vôi,

Tình tôi với bậu xứng đôi quá chừng.

 

Ở nhà quê người ta ít ai nuôi cò, dù nuôi nó từ khi còn nhỏ. Cò khác các loài chim khác không thể quen sống với người. Khi đủ lông cánh thì cò bay, bạc tình và phản phúc cũng như người đời vậy. Tuy trách cò, nhưng chính là trách người:

 

Uổng công xúc tép nuôi cò,

Đến khi cò lớn, cò dò cò bay.

 

Bài ca dao sau đây hơi phức tạp, có lẽ người ta đã ghép nhiều bài lại cũng nhau để ru em một hơi cho dài, cho bé dễ ngủ. Bốn câu đầu hỏi ởm ờ về chuyện hôn nhân của cô gái, có chồng mà cũng như chưa. Sáu câu cuối ý muốn nói tới một lẽ tự nhiên trong dời sống và thiên nhiên: Chùa thì có thầy, như cây ngô đồng mọc tự nhiên, như giây tơ hồng bò ngang dọc tự nhiên. (Trên hàng dâm bụt hay chè tầu, tới mùa xuân bỗng xuất hiện một loại giây leo nhỏ, màu hồng, thường gọi là giây hoặc “cây tơ hồng” (Cây tơ hồng không trồng mà mọc). Đó là một loại cây leo, không phải cây tầm gửi:

 

Con cò bay bổng qua sông,

Hỏi thăm em bậu, có chồng hay chưa?

Có chồng năm ngoái, năm xưa,

Năm nay chồng để, nên chưa có chồng.

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Bõ công bác mẹ sinh thành ra em

Tay cầm bầu rượu nắm nem

Mải vui quên hết lời em dặn dò

Gánh vàng đi đổ sông Ngô

Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương

Vào chùa thắp một tuần hương

Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này

Trong chùa có một ông thầy

Có hòn đá tảng, có cây ngô đồng

Cây ngô đồng không trồng mà mọc

Cái rễ tơ hồng chẳng dọc thì ngang

 

Vợ chồng giận lẫy nhau. Chồng khuyên giải vợ, khi trong bóng đêm bên ngoài có tiếng vạc kêu, tiếng chuông chùa công phu. Vợ vừa mới nghe lời chồng thì trời đã sáng, (gà gáy sáng)

 

Đêm khuya nghe vạc cầm canh,

Nghe chuông dóng sáu, nghe anh khuyên nàng

Anh khuyên, nàng đã hồ nghe,

Trách con gà trống te te gáy dồn…

 

Cò tượng trưng cho người mẹ. Nhiều khi cò cũng mang tâm sự của người con trai:

 

Cái cò lặn lội bờ sông

Muốn lấy vợ đẹp, nhưng không có tiền.

 

Không có tièn thì cò đành ế vọ hay sao?

Trong vài trường hợp, cò không biểu tượng cho sự an lành:

 

          Con cò trắng bạch như vôi,

          Ai muốn làm lẻ bố tôi thì về

          Mẹ tôi chẳng đánh chảng chê

          Mài dao cho sắc, rạch mề mà xem.

 

Ấy là xem to gan như thế nào mà dám giành chồng người khác. Đứa con gọi cha bằng bố, gọi mẹ bằng mẹ. Vậy thì gia đình nầy người Bác. Chắc gì “mẹ tôi rạch mề là ác. Hoạn Thư không “rạch mề” nhưng ai bảo Hoạn Thư không ác. Chẳng qua một bên là nhà quan, bề ngoải hiền từ mà bụng thì độc ác, một bên là dân dã, nói năng dữ dằn nhưng chắc chi đã dám “rạch mề” ai!

 

Câu ca dao nầy, cũng được ca như sau:

         

          Con cò trắng bạch như vôi,

          Ai muốn làm lẻ chú tôi thì về

          Thím tôi chảng đánh chẳng chê,

          Mài dao cho sắc móc mề mà xem.

 

Sau đây là mọt bức tranh quê, theo tôi nghĩ có lẽ là cảnh sống ở đồng bằng Nam bộ:

 

Chiều chiều vịt lội cò bay

Ông voi bẻ mía chạy ngay vô rừng

Vô rừng bứt một sợi mây

Đem về thắt gióng cho nàng đi buôn

 

Đã cho rằng cò khắn khít với đời sống nông dân, vậy thì khi Pháp xâm lăng nước ta, cò còn được sống êm đềm trong khung cảnh đồng ruộng thanh bình của nước ta được chăng, hay cò cũng là “thương binh”?

 

Con cò mà đậu cành tre,

Thằng Tây bắn súng, cò què một chân.

Hôm sau ra chợ Đồng Xuân,

Chú khách mới hỏi sao chân cò què?

Còn rằng cò đậu cành tre,

Thằng Tây bắn súng, cò què một chân.

 

Chuyện con cò không chỉ chừng nầy. Xin hẹn độc già vào một dịp khác.

 

Hình ảnh đáng thương: Vợ người lính thú Việt Nam:

 

Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non

Nàng về nuôi cái cùng con,

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng,

Ba năm đẵn gỗ trên ngàn,

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai !!!

 

Hỏi ai không cảm thương cho người vợ lính VNCH. Xưa đã vậy, nay khác đi chăng?!

 

Hãy đọc một bài thơ của Nguyễn Công Trứ, con cò “đi vào Văn Chương Bác Học”:

 

Mưỡu:


Con cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.


Hát nói:

 

Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất,

Thương cái cò lặn lội bờ sông.

Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng,

Ngoài nghìn dặm một trời một nước.

Trông bóng nhạn bâng khuâng từng bước,

Nghe tiếng quyên khắc khoải năm canh.

Nghĩa tép tôm ai nỡ dứt tình,

Ơn thuỷ thổ phải đền cho vẹn xóng.

Trường tên đạn, xin chàng bảo trọng,

Thiếp lui về nuôi cái cùng con.

Cao Bằng cách trở nước non,

Mình trong trắng có quỷ thần a hộ.

Sức bay nhảy một phen năng nổ,

Đá Yên Nhiên còn đó chẳng mòn.

Đồng hưu rạng chép thẻ son,

Chàng nên danh giá, thiếp còn trẻ trung.

Yêu nhau khăng khít dải đồng.


(Ghi chú: Nguyễn Công Trứ đi đánh Nùng Văn Vàn ở Cao Bằng, làm bài hát này cho cô đầu hát để khích lệ quân sĩ).

 

Cái cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.

- Nàng về nuôi cái cùng con,

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

Ở nhà có nhớ anh chăng?

Để anh kể nỗi Cao Bằng mà nghe.

 

Ngày xưa, đi lính thú ba năm giữ gìn biên giới rồi về. Ngày nay, người vợ lính VNCH chờ chồng đi rồi về, hay người chồng đi mãi không về, hay người vợ vượt núi băng ngàn đi thăm chồng “tù cải tạo” ở Hoàng Liên Sơn, Cao/ Bắc/ Lạng ???

  

 

hoànglonghải

_____________________________________________


Con cá lóc nằm trên bụi sặc,

Con cò mắc già mà chết,

Con quạ mua nếp làm chay,

Con cu đánh trống ba ngày,

Con ngỗng thức dậy dọn bày mâm ra,

Cồng cộc ăn cá nghi nga,

Con chim cào cường phải ra ăn mày.

Con cò chết rũ trên cây,

Cò con giở sách coi ngày làm ma.

Cà cuống uống rượu la đà,

Chim di ríu rít bò ra lấy phần.

 

Khảo dị:

 

Cái cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng, tiếng khóc nỉ non.

- Nàng về nuôi cái cùng con,

Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

Chân đi đá lại dùng dằng,

Nửa nhớ Cao Bằng, nửa nhớ vợ con.

 

 Khảo dị:

 

Dây tơ hồng không ai trồng mà mọc,

Thấy em chưa chồng, anh chọc anh chơi.

 

Khảo dị:

 

Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

Tiếc công xúc tép nuôi cò,

Cò ăn cho lớn cò dò lên cây.

 

 

hoànglonghải

 

 

 

 

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính