“Ru em bằng lời ca dao”

- Bài 2 -

 

“Cái ngủ mày ngủ cho say”

 

hoànglonghải

 

 

Người Việt biết lợi dụng việc ru em để dạy cho trẻ con những điều, những việc, những kiến thức cần thiết. Khi các em bé còn bé quá, chưa biết phân biệt các đồ vật hay các con vật nuôi trong nhà.

 

Trước nhứt, người giữ trẻ con, mẹ hay bà ngoại hay bà nội (thường thì bà nội vì con trai phải nuôi dưỡng cha mẹ. Cha mẹ giữ em giúp đỡ cho con dâu) phải ru cho em ngủ. Trẻ con ngủ nhiều “mau lớn” và để người lớn rãnh rổi lo việc nhà. Vậy nên “Bà ru cháu ngủ” (Chữ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư):

 

à…ơi…cái ngủ mày ngủ cho lâu

Mẹ mầy đi cấy ruộng sâu chưa về.

 

Lời bài ca dao sau đây có câu nguyện ngộ nghĩnh làm trẻ em thích thú, dễ rơi vào cơn ngủ:

 

Cái ngủ mày ngủ cho ngoan

Để mẹ đi cấy đồng xa trưa về

Bắt được con cá rô trê

Thòng cổ mang về cho cái ngủ ăn

Cái ngủ ăn không hết

để dành đến tết mùng ba.

 

Bống là cá bống, một loại cá thường thấy ở sông nước Việt Nam. Có lẽ độc giả còn nhớ con cá bống xuất hiện trong truyện “Tấm Cám” nước ta. Cá bống cũng là đề tài của bài ca dao sau đây:

 

à…ơi… Bồng bồng, bông bống, bang bang.

Mẹ bống yêu bống, bống càng làm thơ.

 

Nhìn chung, khi người mẹ ru con, khi bà ru cháu, là lúc tình thương con, thương cháu cũng tràn đầy, dào dạt. Tình cảm thương yêu đó được thể hiện ở bốn tao nôi:

 

Hai tay cầm bốn tao nôi

Tao thẳng, tao dùi, tao nhớ, tao thương

 

Bài dạy sơ khởi cho các em nhỏ còn bé tí là những gì thuộc về những con vật nuôi trong nhà, hoặc những đồ vật dùng trong nhà. Mỗi thứ có những đặc điểm của nó, người ta dạy cho trẻ con biết để phân biệt các con vật, các đồ dùng khác:

 

Con mèo con chó có lông

Ông tre có mắt, nồi đồng có quai

 

Thứ đến là những gia vị được nấu hay dùng chung với những món thực phẩm:

 

Thịt gà luộc, cần phải trộn với lá chanh. Thịt lợn nấu với hành, thịt chó nấu với củ riềng:

 

Con gà cục tác lá chanh,

Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi.

Con chó khóc đứng khóc ngồi,

Mẹ ơi đi chợ, mua tôi đồng riềng.

 

Bài ca dao sau đây nói về các sinh hoạt trong nhà hay ở thôn quê, cũng như vài đặc tính của đồ vật. Những hoàn cảnh trái nghịch, oan ức cũng thường xảy ra vậy:

 

Mèo già bắt được

Mèo ốm phải đòn

Mèo con ăn vạ,

Con quạ chết trôi

Con ruồi đứt cánh,

Đòn gánh có mấu

Cây trẩu có hoa,

Cây cà có trái

Con gái có chồng,

Đàn ông có vợ

Kẻ chợ có con...

 

Từ những con vật, đồ vật, có đặc điểm như trên, bài nầy được diễn giải dài hơn, cũng không ngoài mục đích mở rộng sự hiểu biết của trẻ con:

 

Mèo già ăn vụng.

Mèo ốm phải đòn.

Mèo con phải vạ.

Con quạ đứt đuôi.

Con ruồi đứt cánh.

Đòn gánh có mấu.

Củ ấu có sừng.

Châu chấu có chân.

Bồ quân có rễ.

Cây nghễ có hoa.

Cây cà có trái.

Con gái có chồng.

Đàn ông có vợ.

Kẻ chợ buôn bè.

Cây tre có lá.

Con cá có vây

Ông thầy có sách.

Thợ gạch có dao.

Thợ cáo có búa.

Xay lúa có giàn.

Việc làng có mỡ.

Ăn cỗ có phần.

 

Hình ảnh ngộ nghĩnh của con kiến nói lên sự kiên nhẫn đến độ buồn cười, nhưng đó là hình ảnh rất thường thấy trong vườn cây:

 

Con kiến mà leo cành đa.

Leo phải cành cộc, leo ra leo vào.

Con kiến mà leo cành đào.

Leo phải cành cộc leo vào leo ra.

 

Người ta cũng tập cho trẻ con cách lý luận, so sánh, đối chiếu để rõ sự thật:

 

Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn?

Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn

Sao trăng lại phải chịu luồn đám mây?

         

Bài ca dao Thằng Bờm được nhiều người biết, biết tới hình ảnh nó: Tóc cạo trọc chỉ chừa một khoảnh như cái bờm ngựa, nên người ta mới gọi nó là thằng Bờm. Bờm không phải là tên thực của nó. Bờm là đứa bé thực tế, không nghe những lời hứa hẹn xa xôi, mơ hồ của phú ông. Nó chọn những gì thực tế, có giá trị ít, nhưng chắc chắn là cái nó cần, ưa thích:

 

Thằng bờm có cái quạt mo

Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

Bờm rằng: bờm chẳng lấy trâu

Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.

Bờm rằng: bờm chẳng lấy mè

Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.

Bờm rằng: bờm chẳng lấy lim

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi

Bờm rằng: bờm chẳng lấy mồi

Phú ông xin đổi nắm xôi, bờm cười.

 

Xin nói vài điều về bài ca dao Thằng Bờm nầy.

 

Nhận xét về bài ca dao nầy, các nhà phê bình văn học Việt Cộng cho rằng: “Trong xã hội xưa, phú ông đại diện một giai cấp, giai cấp địa chủ giàu có của thôn quê. Đối đầu với giai cấp này, bài ca dao đưa ra thằng Bờm đại diện cho giai cấp nông dân nghèo khổ.”

 

Nói như thế là phóng đại quá đáng, cho rằng phú ông là kẻ giàu có, cố ý lừa gạt thằng bé để cướp cái quạt mo của nó, là cố ý xuyên tạc vấn đề nhìn qua lăng kính “đấu tranh giai cấp.”

 

Cái quạt mo, là một cái quạt làm bằng vỏ mo cau, là một vật, có thể nói rằng không có giá trị bao nhiêu cả. Ở thôn quê nhà nào chẳng có trồng cau. Khi tàu lá cau già, rớt xuống, người ta bỏ vào đống rác, chờ khô hẵn thì đốt làm phân. Để tiết kiệm, người nông dân cặp vài ba tàu lá cau, cột lại làm chổi quét sân. Cái mo, cũng làm được vài việc: Cắt cho tròn để làm nắp đậy lu nước nhỏ, làm gầu kéo nước giếng, làm cái quạt để quạt bếp hay quạt gió; vừa để quạt gió, vừa để che đầu khi bất chợt đi đâu đó trong một quãng đường ngắn như ra bến nước hay qua hàng xóm, v.v… Ở chợ quê, cũng có vài khi người ta bán quạt hay gầu mo. Nhà nào cũng có, ai cũng làm được cả.

 

Vậy phú ông “xin đổi” cái quạt mo để làm gì?

 

Phú ông, dĩ nhiên có vườn rộng, có nhiều cau. Ông ta muốn có bao nhiêu mo cau chẳng được mà xin đổi với thằng bé.

 

Vốn tính người Việt yêu trẻ con, muốn đùa chơi với chúng. Khi thấy những đứa bé kháu khỉnh, láu lỉnh. Người lớn tuổi hay đùa chọc, thử thách nó để xem thằng bé khôn như thế nào. Đó chính là nguyên nhân của bài ca dao nầy. Có thể cho rằng phú ông thấy thằng bé “khôn quá”, cầm chơi cái quạt mo mà có vẻ thích thú quá, có vẻ “biết giữ của” quá nên phú ông hỏi đùa thằng bé để thử cái khôn của nó như thế nào.

 

Để thực hiện cái trò chơi nầy, phú ông đưa ra nhiều thứ có giá trị để xem nó có vì lòng tham mà đổi quạt mo cho ông hay không. Các thứ ông đòi đổi cho nó là “Ba bò chín trâu”, “ao sâu cá mè”, “ba bè gỗ lim”.

 

Dĩ nhiên thàng Bờm chẳng chịu cái nào cả vì những thứ đó, đối với Bờm chẳng có giá trị gì hết, dù cho Bờm có hiểu “ba bè gỗ lim”, “ba bò chín trâu.” là cái gì. Đó là tài sản của người giàu, nhưng Bờm không biết hay không cần biết giá trị của nó là gì. Ngay cả con chim đồi mồi, Bờm cũng không nhận nốt vì Bờm thấy khó giữ con chim như giữ cái quạt mo. Bờm ưa chim đấy nhưng Bờm chưa biết nuôi chim thì đổi nó làm gì?

 

Nhưng khi Bờm chịu đổi nắm xôi thì phú ông cũng cười. Ai đứng quanh đó theo dõi câu chuyện cũng cười, và ngay cả ai bây giờ đọc hay nghe bài ca dao nầy cũng cười vì “Thằng bé khôn quá”. Đổi nắm xôi là trúng  ý của nó. Nó thực tế quá. Trẻ con Việt Nam đứa nào chẳng muốn ăn xôi! Đổi nắm xôi là phú ông đoán trúng tâm lý trẻ con nước ta ngày xưa.

 

Thật vậy, trong một bài ca dao khác, viết theo ý “nghịch đảo”, ta có thể trích mấy câu như sau:

 

“Bao giờ cho đến tháng ba,

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngòai đồng.

Hùm nằm cho lợn liếm lông.

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi.

Nắm xôi nuốt trẻ lên mười

Con gà mâm rượu nuốt người lao đao.

Lươn nắm cho trúm bò vào,

. . . . .

 

Trẻ con thì thích ăn xôi. Đổi nắm xôi thì Bờm thấy có cái ăn, cái nó thích, thì nó cười. Hai tiếng “Bờm cười” không những ngắn mà lại xuất hiện một cách đột ngột, trái ngược với tất cả những tài sản to lớn của phú ông, làm cho người ta thấy rõ cái tính chất thực tế, láu ăn và khôn ngoan của thằng Bờm.

 

Không riêng gì Bờm cười mà ai cũng cười.

 

Vậy mà các nhà phê bình văn học Cộng Sản đưa vào đây những “sự mâu thuẫn giữa hai giai cấp giàu nghèo”, “Bờm cương quyết đấu tranh không để cho phú ông bóc lột” làm cho người đọc bỗng thấy xa lạ, trái nghịch, về một sự chia rẽ không có trong xã hội Việt Nam ngày xưa.

 

Cái lăng kính đấu tranh giai cấp là lăng kính của xã hội Tây phương, nó biến thiên từ xã hội phong kiến với những lãnh chúa quyền uy, có lãnh thổ riêng, quân đội riêng, luôn luôn tranh giành, đánh phá và chống đối, thù hận nhau như trong câu chuyện tình Romeo Juliette rồi tới xã hội công nghiệp bóc lột giữa chủ và thợ, v.v… Vì vậy, xã hội đó luôn luôn có những mâu thuẫn nội tại và yếu tố đoàn kết dân tộc đối với họ là không cần thiết.

 

Xã hội Việt Nam thì ngược lại. Yếu tố đoàn kết là rất quan trọng. Chính sự đoàn kết nắm vai trò quan trọng trong sự tồn vong của đất nước và dân tộc.

 

Tại sao vậy?

 

Tại vì nước Việt Nam nhỏ bé nằm bên cạnh nước Tầu không lồ, mà nước Tầu thì không bao giờ chịu nằm yên phía trong biên cương của chúng nó. Vì vậy, nếu người Việt Nam không biết đoàn kết thì làm sao có thể chống được ngoại xâm, chống Tầu những mấy lần xâm lược, đánh đuổi chúng đi mà giành nền tự chủ.

 

Đó là điều căn bản của sự khác biệt giữa xã hội Việt Nam với các nước khác, kể cả những nước chung quanh Việt Nam, nói chi tới xã hội Tây phương của Marx.

 

Thành ra, không thể đem cái lăng kính xã hội của Marx mà nhìn vào xã hội Việt Nam và phóng đại những mâu thuẫn nhỏ nhặt trong dân chúng Việt Nam.

 

Tại hội nghị Diên Hồng, trước sức xâm lăng của người Tầu hay trong ách cai trị của họ, để bảo vệ tổ quốc và quê hương mình, thằng Bờm và phú ông không thể đứng trên hai giới tuyến đối nghịch nhau như các nhà phê bình văn học Việt Cộng thổi phồng.

 

(Còn tiếp)

 

 

hoànglonghải

(Bài 3: Con Cò trong Ca dao

 

 

 

Tin Tức - Bình Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính