“Ru em bằng lời ca dao”,

- Bài 1 -

 

giải bày sơ lược

 

 

Người ta thường có một cái nh́n phiến diện về văn học Việt Nam. Khi bàn tới vấn đề nầy, những người ít chuyên môn, cứ cho rằng nói tới văn học Việt Nam là bàn tới truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Lục Vân Tiên…. cùng những tác giả khác trong Văn Chương Bác Học. Người ta quên rằng, bên cạnh gịng Văn Chương Bác Học có một nền văn học khác nữa, rộng lớn hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn, hiện thực hơn, rất có ích và có tác động mạnh hơn vào đời sống của người Việt Nam hàng ngàn năm nay. Vậy mà măi tới mấy chục năm gần đây, những người phê b́nh văn học mới lưu tâm tới, nghiên cứu, phân tích, phê b́nh nó và viết thành sách về nền văn học nầy.

 

Đó là một thứ văn chương khác của người Việt Nam mà giáo sư Thanh Lăng cũng như một số nhà phê b́nh khác như Thuần Phong Ngô Văn Phát, Nguyễn Vĩ… trước năm 1975 gọi là “Văn Chương B́nh Dân”. Ngày nay, trong nước, các nhà phê b́nh gọi là “Văn Học Dân Gian.”

 

Văn Chương B́nh Dân là những truyện thần thoại, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ… Ca dao bao gồm cả những câu ḥ, vè…

 

Những đứa trẻ lớn lên ở Việt Nam trước năm 1975, chẳng có đứa nào là không được nghe, đọc truyện cổ tích, truyện thần thoại, không nghe thầy cô dùng tục ngữ để dạy cho về sự khôn ngoan, kinh nghiệm của tổ tiên và dĩ nhiên từng nghe mẹ, chị, bà con xóm giềng hát ḥ bằng những lời... ca dao.

 

Ngày nay, trẻ em lớn lên ở hải ngoại có lẽ không mấy đứa được lănh hội Văn Chương B́nh Dân một cách thích thú và hạnh phúc như chúng ta ngày xưa. Đó là một sự thiệt tḥi về văn hóa cho những người lớn lên hoặc sinh ra và lớn lên ở hải ngoại.

 

Giờ đây, các thanh thiếu niên nam nữ nầy, muốn t́m hiểu văn hóa của tổ tiên ḿnh, hoặc các bậc cha mẹ muốn dạy cho con cháu ḿnh ǵn giữ văn hóa Việt Nam, th́ không nên bỏ quên Văn Chương B́nh Dân. Nó chính là cái căn bản, cái gốc gọn của văn học Việt Nam, toàn diện hơn, đầy đủ hơn Văn Chương Bác Học.

 

Trong chương tŕnh giáo dục Việt Nam Cộng Ḥa trước năm 1975, toàn bộ chương tŕnh Việt Văn lớp Đệ Tam (lớp 10 bây giờ) là dạy và học về Văn Chương B́nh Dân.

 

Tác giả, có điều may mắn, trong suốt 10 năm cầm phấn bảng, là suốt 10 năm phải dạy Việt Văn cho 3 hoặc 4 lớp Đệ Tam. Cứ mỗi bài giảng soạn ra là tác giả phải dạy ít nhứt cho 3 lớp. Công việc ấy cứ kéo dài 10 năm như vậy. Do đó, sau khi một bài giảng soạn ra, trong suốt 10 năm, phải giảng 30 lần như thế. Một phần phải soạn bài, một phần phải giảng bài, dù không muốn thuộc ḷng ca dao tục ngữ, chuyện cổ tích, người làm thầy giáo cũng phải thuộc nó vậy.

 

Tuy không phải là người nghiên cứu, nhưng tác giả phải t́m ṭi sách báo để đọc, t́m hiểu… để viết bài giảng. Tiếc rằng tài liệu hồi ấy không nhiều, ngoài hai cuốn sách chính là “Van Chương B́nh Dân” của linh mục Thanh Lăng và “Tục Ngữ Phong Dao” của Thuần Phong và một số sưu tầm của nhà văn Nguyễn Vĩ đăng trong các tạp chí Phổ Thông của ông cùng một vài bài báo, không được nhiều và nội dung cũng không phong phú lắm.

 

Trong quá tŕnh định cư ở Mỹ, khi đi học trở lại, phải làm luận án tốt nghiệp, và cũng nhân đó muốn để lại cho lớp trẻ một cái nh́n tồng quát về Văn Chương B́nh Dân Việt Nam, tác giả đă dịch lại qua tiếng Anh những ǵ giảng giải cho học tṛ ngày trước.

 

Khó khăn của chúng ta ngày nay là một số đông trẻ em hải ngoại không đọc được chữ Quốc Ngữ. Thành ra, một việc buồn cười và đau ḷng, là tác giả muốn truyền thụ văn học Việt Nam cho trẻ em Việt Nam ở bên nầy địa cầu bằng tiếng… Mỹ.

 

Cái uớc nguyện của tác giả là muốn giới thiệu văn học Việt Nam cho trẻ em Việt Nam ở Mỹ bằng chính ngôn ngữ của cha ông chúng ta để lại. Đó chính là động cơ khiến tác giả viết các bài về ca dao như sau đây, đặc biệt qua h́nh thức “Ḥ Ru Em”, với nhan đề là “Ru em bằng lời ca dao”, là một lời ca trong một bài hát của Trịnh Công Sơn.

 

Tác giả

_____________________________

  

Không chủ quan cũng có thể cho rằng người Việt Nam là một dân tộc có tâm hồn văn nghệ, ưa ca hát. Cái tính ưa thích đó, không những chỉ chứng tỏ khi rảnh rổi, khi đ́nh đám hội hè mà ngay cả khi làm việc.

 

Tính chất văn nghệ (ca hát) của người Việt thể hiện ra dưới mọi h́nh thái khác nhau, với bất cứ khi làm công việc ǵ. Ví dụ: Ngay cả việc rao mơ của anh mơ làng, khi được lệnh lư trưởng, cầm mơ đi quanh trong làng, anh mơ làng cũng đă xử dụng cái năng khiếu văn nghệ của anh để rao sao cho hay, cho rơ, hấp dẫn người nghe. V́ vậy, khi nghe những tiếng mơ anh ta gióng lên, người ta lắng nghe, không những nghe cho rơ nội dung lời rao mà c̣n cả âm điệu lên bỗng xuống trầm trong lời rao của anh ta nữa. Cái hay đó đă gợi cảm vua Lê Thánh Tông làm bài thơ Thằng Mơ như sau đây:

 

Mơ này cả tiếng lại dài hơi,

Mẫn cán ra tay chẳng phải chơi!

Mộc đạc vang lừng trong bốn cơi,

Kim thanh chuyển động khắp đôi nơi.

Trẻ già chốn chốn đều nghe hiệu,

Làng nước ai ai cũng cứ lời.

Thứ bậc dưới trên quyền cắt đặt,

Một ḿnh một chiếu thảnh thơi ngồi.

 

Mộc đạc: Mơ bằng gỗ

Kim Thanh: Tiếng như kim loại, thanh và cao

Câu 7: Sắp đặt chỗ ngồi thứ bậc trên dưới cho mọi người.

 

Như một ca sĩ, anh mơ có cả tiếng (giọng) và hơi. Một ca sĩ mà không có giọng (tiếng) và không có hơi th́ nên xếp nghề cho xong để khỏi bị thính giả la ó. Tiếng mơ gỗ (mộc đạc) th́ vang lừng, giọng anh như tiếng kim loại (kim thanh), giọng sắt, giọng đồng, chuyển khắp nơi nơi. Với cái hơi như thế, giọng như thế, anh ta không thể đọc rề rề được.

 

Từ cái nh́n đó, ta thấy những người bán hàng rong, rao chè cháo, b́nh ḿ, hột vịt lộn, phở cũng có tâm hồn văn nghệ đấy, biết xử dụng cái âm thanh (tiếng) và hơi của họ trong việc rao hàng.

 

Những ai từng ở Huế, đến Huế, có lẽ không ít khi nghe các cô, các chị rao hàng trong đêm: “Chè đậu xanh, đậu ván”. Tiếng “ván” kéo dài ra, cất cao lên, rồi chấm dứt ở một âm độ lững lơ, để lại trong ḷng người nghe một ít ấn tượng về chè cháo và cá tính văn nghệ của người dân lao động ở đất Thần kinh.

 

Trong tất cả các thể loại văn nghệ như nói ở trên, ḥ ru em là h́nh thái rất phổ biến, trung nam bắc, thành thị, thôn quê đều có cả, và để lại những ấn tượng sâu sắc trong ḷng người nghe, trẻ thơ th́ biết, nhớ và tuân lời, già th́ đó là những ấn tượng không khi nào quên của một thời thơ ấu.

 

Ḥ ru em ba miền có nhiều nét giống nhau và cũng nhiều nét khác nhau v́ nhiều lẽ. Một là v́ hoàn cảnh sinh hoạt, tuy cùng làm nghề nông, cùng làm biển, làm rừng nhưng có những phương cách khác biệt. Hai là do h́nh thái hoàn cảnh địa phương ít nhiều khác nhau, ba là do t́nh cảm đậm lạt cung bậc khác nhau, do đời sống cao thấp, no ấm, nghèo khổ. Điểm giống nhau chính là nét căn bản ở tâm hồn và văn hóa cùng chung một gốc tổ tiên.

 

Lớp người ngày, nay thuộc hàng thất thập, dù đă từng nghe tiếng ḥ ru em ở đời thường, hoặc khi học Quốc Văn Giáo Khoa Thư, họ cũng được đọc lại những câu ḥ, câu hát do các tác giả ghi lại đời sống của người dân quê Việt Nam.

 

Có khi đi xa, tới một xứ lạ, chợt nghe tiếng vơng kẽo kẹt của  buổi trưa hè, nghe tiếng ḥ ru em từ bên hàng xóm, qua một hàng rào cây, qua một hàng tre xanh vẵng lại, ḷng người bỗng nhiên chùng xuống, nhớ nhung. Nhớ tiếng mẹ, tiếng chị ru ḿnh, ru em ḿnh khi c̣n thơ ấu, nhớ những h́nh ảnh ruộng đồng cầy cấy, màu trắng nổi trên nền lúa xanh của con c̣, cái vạc, và cũng có khi người ta bỗng thấy phận ḿnh lưu lạc phương xa, mà v́ chiến chinh, loạn lạc, đă lâu lắm không bước chân về quê cũ.

 

Đó là những hồn ma cũ.

 

Trong cuôc sống phiêu bồng của người nghệ sĩ, người lính, người ta những tưởng tiếng ḥ ấy, lời ru em ấy đă đi vào cơi thiên thu cùng với những người thiên cổ. Ai ngờ, bỗng một buổi trưa nào đó, trong giấc ngủ mơ màng, nghe từ bên hàng xóm tiếng ḥ ru em vẳng lại, th́ những hồn ma cũ ấy lại hiện về, rơ từng nét một, từ tiếng ḥ trầm bỗng, từ tiếng “ạ ời”, tiếng “ầu ơ” kéo dài trước khi lời ca bước vào câu ḥ chính. Nó như tiếng gọi êm đềm và bền bỉ, nhẹ nhàng mà sắc cạnh, buồn bă mà thôi thúc, từ tốn mà giục giă người nghe hăy t́m lại chính ḿnh, t́m lại khung cảnh ấu thơ đă từng sống qua cùng với những h́nh bóng cũ, những hồn ma cũ, không phải từ cơi âm ty trở về mà từ quá khứ êm đềm, thanh b́nh, an lạc, khuấy động ḷng những kẻ tha phương.

 

Ḥ ru em không có những câu ḥ riêng biệt. Nó có nhiều nội dung khác nhau. Có thể dó là những lời ru “Cái ngủ mày ngủ cho lâu…”, là những bài ca dao nói tới công việc nhà nông, việc dạy cho trẻ con nhận biết những vật thân quen trong nhà như “Con mèo, con chó có lông.” hoặc những bài răn dạy về luân lư, đức dục, v.v…

 

Trong ư nghĩa đó, tôi cố gắng ghi lại những bài ca dao nói về những lănh vực nêu trên mà người đàn bà Việt Nam dùng nó trong khi ḥ ru em.

 

V́ vậy, trọng tâm bài nầy, tuy nói về ḥ ru em, nhưng khi nói chung về những bài ḥ ru em, tác giả cũng đề cập đến hoàn cảnh sinh hoạt của nông dân nước ta hàng ngàn năm trước, khi đất nước chưa rơi vào công cuộc chống Cộng Sản xâm lăng, và qua cuộc chiến tranh đó đời sống của người nhà quê đă thay đổi nhiều, khiến người ta không c̣n thấy cảnh sống của người nông dân hiền ḥa như thời tiền chiến nữa.

 

 

hoànglonghải

(xem tiếp bài 2: “Cái ngủ mày ngủ  cho say”)

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính