“Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” (1)

 

Hoàng Long Hải

 

 

Người ta có thể chê trách người Huế nhiều điều, nhất là chê trách một cách chung chung mà không hài rơ tên họ người nào th́ dễ lắm, đâu có sợ ai đă kích lại mà tẻn ṭ hay có thể bị ra hầu ṭa. Tôi nghĩ rằng nếu chê người Huế lạc hậu, bảo thủ, không tiến bộ, không văn minh, văn vẽ th́ điều đó có đúng chăng, đúng bao nhiêu phần trăm?

 

Tuy nhiên, trong lĩnh vực bảo tồn những cái tên cũ th́ quả thật người Huế bảo thủ một cách đáng yêu. Chẳng hạn những người thuộc thế hệ cha ông của tôi ít khi gọi Phan Bội Châu là Cụ Phan mà họ gọi một cách vừa thân mật vừa kính trọng là “Ông Già Bến Ngự”. Thậm chí có những bà “quê mùa” c̣n không biết Phan Bội Châu là ai nhưng nói “Ông Già Bến Ngự” th́ người ta biết ngay đó là một người tù bị giam lỏng v́ “tội yêu nước” (2), một người họ nễ v́ c̣n hơn cha chú, một cụ già “hàng xóm” mỗi khi gặp ngoài đường họ cất nón cúi chào một cách kính cẩn. Hơn thế nữa, họ c̣n biết, c̣n thuộc và đôi khi ru trẻ con ngủ bằng câu

 

“Ạ ời... Chiều chiều ông Ngự ra câu,

Cái ve, cái chén, cái bầu sau lưng... ”

 

và thấm thía tâm sự yêu nước của người “hàng xóm” ấy.

 

Trong cách gọi tên các địa danh, các đường phố, dù những cái tên mới đă được chính quyền đặt ra khá lâu, người ta cũng chẳng mấy khi chú tâm để gọi. Người ta ưa kêu đường “Âm Hồn” hơn là đường Nguyễn Hiệu, “Ô Hồ” hơn là đường Vơ Tánh, “Ngă Tư Anh Danh” hơn là dài ḍng “Ngă tư Đinh Bộ Lĩnh - Mai Thúc Loan”, bến xe “Phú Văn Lâu” hơn là bến xe “Nguyễn Hoàng”, v.v... Người ta ai ai cũng biết cầu Trường Tiền chớ mấy ai nhớ nó đă được đổi thành tên cầu Nguyễn Hoàng, huống chi đời bây giờ với những cái tên lạ hoắc như Lê Thị Riêng, Nguyễn Trọng Tuyển, Lư Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi… th́ những người già, “quê mùa” như các mẹ, các chị đành chịu thua.

 

Ngay chính tôi cũng vậy. Tôi ưa gọi là trường Đồng Khánh hơn một cái tên mới ǵ đó mà tôi không thể nhớ nỗi. Từ Đức Kim Thượng trở thành Quốc Trưởng, từ Quốc Trưởng bị bôi lọ thành một tên ăn chơi, năm 1955, chế độ nhà Nguyễn hoàn toàn chấm dứt sau cuộc “Trưng Cầu Dân Ư” mà người đi bầu được hướng dẫn bằng câu “Xanh bỏ giỏ, đỏ bỏ b́”, một trong hai ngôi trường trung học lớn nhứt ở thành phố Huế bị đổi tên. Có sự “bất công” trong việc đổi tên nầy. Trường Khải Định dành cho con trai nay có tên mới là trường “Quốc Học Ngô Đ́nh Diệm”, trường Đồng Khánh cho con gái vẫn giữ tên cũ.

 

Việc thay tên ông vua Khải Định chẳng ai thắc mắc. Ông ta bị tai tiếng quá nhiều v́ chẳng lo ǵ cho dân cho nước, mà chỉ ăn chơi. Sau cái gọi là “Cách Mạng Tháng Tám”, đất nước cần những nhà cách mạng lănh đạo, như thế đâu c̣n chỗ đứng cho những kẻ hại dân hại nước như Khải Định. (Thế nhưng bây giờ nước ta có ai có chức, có quyền mà “khá” hơn vua Khải Định không nhỉ?). Tuy nhiên, việc thay tên Khải Định ra Ngô Đ́nh Diệm cũng làm cho người ta thắc mắc. Tại sao không là tên của người cha, Ngô Đ́nh Khả, người có công đứng ra lo việc thành lập và là “Chưởng Giáo” đầu tiên của ngôi trường nầy mà lại Ngô Đ́nh Diệm?

 

Phía trường con gái chẳng ai thắc mắc về việc không thay tên vua Đồng Khánh v́ vua Đồng Khánh chẳng có tội t́nh ǵ hay ông có công với đất nước? Sử chép:

 

“Vua Đồng Khánh.-

Thống tướng De Courcy đày bọn Nguyễn Văn Tường đi rồi, đem Nguyễn Hữu Độ về cùng Phan Đ́nh B́nh coi việc triều chính, sai Nguyễn Trọng Hợp ra quyền Kinh-lược ở Bắc Kỳ. Thống tướng lại sai ông De Champeaux lên Khiêm cung yết kiến đức Từ dụ xin lập ông Chánh-mông là Kiến giang quận công lên làm vua.

 

Ngày mồng 6 tháng 8, ông Chánh-mông phải thân hành sang bên Khâm sứ làm lễ thụ phong, rồi làm lễ tấn tôn, đặt niên hiệu là Đồng Khánh.

 

Vua Đồng khánh tính hiền lành, hay trang sức và cũng muốn duy tân, ở rất được ḷng người Pháp; đ́nh thần th́ nhiều người đă biết theo chính-sách bảo hộ cho nên mọi việc trong Triều đều được yên ổn. Nhưng vua Hàm nghi c̣n ở mạn Quảng b́nh, kéo cờ nghĩa chống nhau với quân Pháp, truyền hịch cần vương đi các nơi để mong đường khôi phục. Lúc bấy giờ, ḷng người c̣n tưởng nhớ chúa cũ, cho nên từ B́nh thuận trở ra, chỗ nào cũng có người nổi lên đánh phá để toan bề khôi phục.”

 

(Việt Nam Sử Lược/ Tập 2.

Trần Trọng Kim. Trang 327)

           

Điều đau ḷng là vua Hàm Nghi, tên là Ưng Lịch, đang lẫn trốn trong vùng núi non Quảng B́nh để lănh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp, trong khi vua Đồng Khánh th́ do Pháp đưa lên ngôi và lại “rất được ḷng ngựi Pháp”. Hai anh em ruột nầy đứng trên hai chiến tuyến chống nhau, “nồi da xáo thịt”. Vua Đồng Khánh không muốn điều đó. Ông đích thân ra Quảng B́nh gọi em ông về để cùng nhau... theo giặc!

 

Một người hiền lành, ưa trang sức, giữ đúng đạo hiếu “Anh em như thể tay chân” nên được lấy tên để đặt cho một trường con gái, tưởng cũng chẳng có ǵ lạ. Điều lạ là mỗi khi nói tới trường Đồng Khánh, người dân Huế không mấy khi nghĩ tới một ông vua hiền lành hay ưa làm dáng như... con gái mà người ta thường nghĩ tới h́nh ảnh những cô học tṛ nhỏ nhắn xinh xinh, bao giờ cũng mặc áo trắng, tượng trưng cho sự thơ ngây trong trắng, nhưng tâm hồn họ th́ mang một màu tím buồn vu vơ và dễ thương như trong một câu ca Huế:

 

“Nữ sinh Đồng Khánh ngày xưa,

Xui hoàng hôn tím trang thơ học tṛ”

 

hay trong câu hát của Trầm Tử Thiêng: “Áo trắng về trắng cầu quê hương mỗi lần chiều tan trường.”

           

Trong nếp suy nghĩ đó, có lẽ người Huế, - ngoại trừ “những nhà cách mạng vô sản”- không ai muốn trường Đồng Khánh đổi sang một cái tên ǵ khác. Không phải người ta sợ “mất tên” vua Đồng Khánh mà người ta sợ mất đi h́nh ảnh những cô học tṛ mặc áo trắng thơ ngây, dễ thương. Thậm chí, khi trường Nữ Trung Học Thành Nội được thành lập, người ta cũng không đặt cho nó một cái tên ǵ khác mà lại Đồng Khánh: “Trường Nữ Trung Học Đồng Khánh Thành Nội”. Thêm chữ Thành Nội để phân biệt với ngôi trường lớn bên kia sông. Vậy đó, h́nh ảnh cô học tṛ Đồng Khánh được người Huế, và cả nước nữa chứ, yêu thương biết chừng nào! Không như các cô học sinh Gia Long hay Trưng Vương Saigon, học tṛ Đồng Khánh là h́nh ảnh tượng trưng cho người con gái Huế. Nói tới con gái Huế mà không nói tới nữ sinh Đồng Khánh là coi như chỉ nói được có một phần. Thành ra, xóa đi h́nh ảnh cô học tṛ Đồng Khánh là xóa đi h́nh ảnh cô gái Huế vậy.

 

Trước 1975, tôi “lang thang” nhiều nơi trong Nam, gặp nhiều người bạn cùng khóa, cùng cơ quan, đơn vị, tôi biết họ có một ước mơ là phải đi Huế một lần cho biết, không những cảnh trí sông Hương núi Ngự mà c̣n coi “cô nữ sinh Đồng Khánh” dễ thương như thế nào, và cưới vợ Huế, nếu được. Thế đấy, cô học tṛ Đồng Khánh là thần tượng của t́nh yêu, của lứa đôi cho biết bao nhiêu thế hệ rồi? Đâu phải chỉ có người Huế mới dành cảm t́nh cho các cô nữ sinh Đồng Khánh. Ngược lại, người Bắc vào Nam sau 1975, ít ai ưa dừng lại Huế, ngay cả những người gốc Huế theo Cọng Sản ra Bắc năm 1954. Họ ưa vào “thành phố bác”, như họ gọi tên. Vào đó để “xây dựng chủ nghĩa xă hội” theo “đường lối” riêng cho họ.          

 

Nếu tôi không có người bạn tên Hương ở ngay đường Hồ Xuân Hương th́ tôi chỉ có thể nhớ đó là đường Chùa Bà. Tôi nhớ đủ 10 cửa thành Huế từ Đông Ba, Thượng Tứ, cửa Ngăn, cửa Nhà Đồ (bị sập v́ trận lụt năm 1953 nên c̣n gọi là cửa Sập), cửa Hữu, cửa Chánh Tây, cửa An Ḥa, cửa Hậu, cửa Trài, mà không sao nhớ nỗi những con đường chạy ngang những cái cửa đó tên là ǵ. Người ta khó nhớ tên đường Trần Văn Nhung nhưng rất nhiều người biết Xóm Chuối, không mấy ai nhớ đường Hàm Nghi nhưng biết rơ cầu Kho Rèn, v.v... Thậm chí, tôi thích gọi “Ngă Giữa” hơn là đường Gia Long hay đường Phan Bội Châu. Không riêng ǵ tôi, người ta ưa gọi Hàng Bè hơn là cố moi trí để nhớ tên Huỳnh Thúc Kháng.

 

Dù vậy, có vài tên hầu như đă mất hẵn. Ít ai nhắc tới tên đường Mă Khái mà bây giờ gọi là Tăng Bạt Hổ hay đường Hậu Bổ mà nay là đường Trần Hưng Đạo. Tôi nhớ khi tôi c̣n nhỏ, ở đây có ṭa soạn báo “Tiếng Kèn” của Tô Kiều Ngân, hoặc khi tôi đă là “mầm non văn nghệ” vào ra ṭa soạn th́ ngay trên con đường nầy đă có báo Mùa Lúa Mới. Hồi bấy giờ dọc theo lề đường Hậu Bổ, sau nầy là rạp Ciné Hưng Đạo, vẫn c̣n nhiều ông già áo the đen màu bạc thếch, quần cháo ḷng, giống như h́nh ảnh “Ông Đồ Già” trong thơ Vũ Đ́nh Liên, ngồi dọc theo bờ tường nầy, với những chùm gị gà khô quắt treo ṭn ten trên vách tường. Họ ngồi đây không phải để viết những chữ Nho rồng bay phượng múa mà để xem gị gà hay lật mu rùa xem bói cho thiên hạ. Thế rồi các năm 1956-57 bỗng có việc “bài trừ tứ đổ tường”, “mê tín dị đoan”. “Nhà nho” áo gấm xanh quần ống sớ nay làm Tổng Thống một nước có bốn ngàn năm văn hiến dù vẫn tin Kinh Dịch (3) nhưng không chịu để cho đám người từng vào ra “Cửa Khổng Sân Tŕnh” như ông, dùng chữ nghĩa thánh hiền làm một kế sinh nhai, bèn ra lệnh trục xuất những “nhà nho” áo the thâm tàng quần cháo ḷng ra khỏi khu vực trường Hậu Bổ ấy. Đến bấy giờ, người ta mới thấm thía câu “Những người muôn năm cũ, hồn ở đâu bây giờ.”   

 

Những người vốn dĩ gắn bó với quê hương không mấy ưa những cái ǵ đổi mới. Nó có thể làm mất đi một kỷ niệm nào đó với hoa lá, cây cỏ, nhà cửa, thành quách, nơi họ một thời trải qua đó chăng? Nó là một nửa phần linh hồn, tâm t́nh của họ, bỏ nó đi th́ coi như họ bỏ một phần tâm hồn ḿnh. H́nh như cái tên mới có thể làm phai mờ h́nh ảnh “ngơ nhà em” hay nhà một người bà con, bạn bè, thậm chí là chỗ nghịch ngợm vui đùa khi c̣n trẻ thơ. Ngay cả với Saigon tôi cũng biết rất nhiều ngơ ngách v́ từng làm công việc “báo tin dữ” cho thân nhân binh lính, huống chi Huế là nơi không có con đường nào là không có nhà bạn bè tôi ở đó, không có những chuyện vui buồn mà ít khi tôi bỏ qua, nhà của những “con nhỏ nào” đó bất cứ xấu đẹp thế nào, cha mẹ tên chi, làm nghề ǵ tôi cũng biết vanh vách khiến bạn bè gọi đùa tôi là “Tự Điển sống”.

 

Trong tất cả những con đường chạy loanh quanh trong thành phố và cả ngoại ô Huế, con đường buồn nhứt là đường Cửa Hậu, (sau nầy có têen là Lê Văn Duyệt) nơi có nghĩa trang Quân Đội Quốc Gia và mộ cụ Trần Quí Cáp được cụ Vơ Bá Hạp cải táng về chôn ở đó.

 

Nhiều người “hoài cổ” thường cho rằng “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” là những con đường trong Đại Nội hay những con đường có hai hàng mù u rậm rạp chạy ngang các cửa Ngọ Môn, Chương Đức, Ḥa B́nh, Hiển Nhơn.

 

Không phải vậy!

 

Con đường “ấn tượng” nhứt chính là “Ngự Viên”, nơi có “bướm hoa vàng” như trong một bài hát của Duy Khánh.

 

Thật ra, Ngự Viên chỉ c̣n là một vườn hoa trong tâm tưởng mọi người mà thôi và Duy Khánh có thấy con bướm hoa vàng chăng th́ đó chỉ là một huyền thoại của một thời quá văng:

 

Khách du lần giở trang hoài cổ

Mơ lại thời xưa xóm Ngự Viên.

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển

Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?

           

Ḷng Trạng lâng lâng màu phú quí

Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên

Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy?

Nghiêng cả mùa xuân Trạng ngước nh́n.

 

Trạng bắt sai rồi lầu rủ sáo

Có người đêm ấy khóc trăng lên

Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc

Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền?

 

Có lẽ Nguyễn Bính viết sai đôi điều. Sợ ngai vàng mất về tay ngoại thích như các đời vua trước, nhà Nguyễn không có ngôi hoàng hậu mà chỉ có thái hậu bởi v́ người ta có thể không có vợ (hoàng hậu) nhưng ai cũng phải có mẹ (thái hậu). Điều ấy làm cho người ta thấy người Huế “thương” mẹ lắm, nhất là mấy cô. Trời cũng có mẹ, vua cũng có mẹ, huống chi là người mà đă là người th́ phải thương mẹ. Đó là hiếu, là bổn phận hàng đầu trong đạo làm người, mặc dù các cô rất ngần ngại khi...

 

“Tay mang khăn gói sang sông,

mẹ kêu mặc mẹ theo chồng cứ theo.”

 

Có lần tôi đi trên đường Gia Hội, Đông Ba, không phải để ngắm cảnh

 

“Đông Ba, Gia Hội hai cầu,

Ngó lên Diệu Đế bốn lầu hai chuông”

 

...nhưng để ṭ ṃ xem có nhà ai “rủ sáo”, để thấy tội nghiệp cho ai là “người đêm ấy khóc trăng lên” v́ quan Trạng bắt trật quả cầu, cuộc t́nh duyên của cô Tôn Nữ không được “phỉ nguyền mơ ước”, vỡ tan tành một giấc mộng yêu đương.

 

Hết rồi, đâu c̣n quan Trạng, đâu c̣n Ngự Viên, dù Nguyễn Bính có làm...

 

“... một người du khách

Gió bụi mang về xóm Ngự Viên

Dậu đổ b́m leo suồng să quá

Hoa tàn con bướm cánh nghiêng nghiêng

Buồn thu rơi nhẹ đôi tờ lá

Xóm vắng rêu xanh những lối hè

(Nguyễn Bính, “Xóm Ngự Viên”)

           

Sống nơi đất khách, nhắc tới Xóm Ngự Viên, ḷng người Huế tha phương sẽ ngậm ngùi. Nhưng khi c̣n ở Huế, nhắc đến vườn Thượng Uyển, người ta sẽ cười. Cái xóm lao động nghèo khó ấy, nhà không ra nhà, cḥi không ra cḥi, cái ngang cái dọc, cái xuôi cái ngược, mái tranh rách nát, tôn lợp miếng rách miếng sét, lối đi chật hẹp đến nỗi không thể dắt được chiếc xe đạp đi theo, bùn lầy nước đọng, hôi hám mà là Vườn Thượng Uyển đó sao?!

 

Kể từ thời “quốc phá gia vong”, kinh thành c̣n không giữ được trước họng súng thần công xâm lăng của Thực Dân Pháp, hết vua cha đến vua con theo nhau đi đày bên Châu Phi th́ quan Trạng cũng không c̣n, hoàng tử công chúa cũng lưu lạc người mỗi phương, th́ làm chi c̣n Vườn Thượng Uyển để mà mơ... “hoa cỏ giống vườn tiên”?

 

Nào ai biết Vườn Thượng Uyển bỏ hoang rồi biến mất tự bao giờ?!

 

Những năm chiến tranh, người dân vùng quê chạy vào thành phố tránh súng đạn. Không đủ đất, một gia đ́nh, rồi hai, ba, năm, bảy gia đ́nh đến đây dựng tạm một căn cḥi. Ai nỡ đuổi họ đi, ai nỡ dẹp “nhà” họ. Dần dần, một phần và rồi toàn bộ Vườn Thượng Uyển, lan rộng qua phủ Hoài Đức bên cạnh biến thành xóm lao động.

 

Thuở c̣n đi học, giữa thập niên 50, tôi thường đi qua đường Ngự Viên để vào Vườn Thượng Uyển. Không phải tôi vào thăm ông Tôn Thất T., nhà ở đầu đường, thầy dạy tôi những hai năm liền, người vẫn thường khuyến khích tôi mỗi khi đi thi, mà vào ngay trong “Vườn Thượng Uyển xóm lao động” ấy để bỏ đồ cho thợ giặt áo quần. Tôi c̣n quá tệ hơn một thư sinh “trói gà không chặt”, không bao giờ tự giặt nổi cáo áo lót nên trong những năm đi học, đi dạy xa nhà, nếu không có thợ giặt chắc tôi phải mặc lại đồ dơ.

 

Trong “Vườn Thượng Uyển Xóm Lao Động” ấy, có quán giặt của hai vợ chồng lớn hơn tôi chừng năm sáu tuổi, thường giặt áo quần cho tôi. Chỗ nầy giặt nhanh mà lại rẻ, vừa túi tiền cho những học sinh nghèo. Hai vợ chồng chỉ mới có một đứa con nhỏ, sống trong một cái cḥi lợp tôn rách nát, chỉ vừa đủ đặt một cái giường.

 

Tạo hóa nhiều khi thật trớ trêu, trong khi anh chồng là một người quê mùa “cục súc” th́ chị vợ là một Tôn Nữ đài các. Chuyện Tôn Nữ mơ kết duyên cùng quan Trạng như trong thơ Nguyễn Bính đă ch́m vào dĩ văng, giấc mơ lương duyên lặng lẽ lui vào quá khứ. Ở đây, anh chồng của cô Tôn Nữ hoàn toàn trái ngược với h́nh ảnh quan Trạng văn vơ song toàn. Anh gánh vác mọi việc trong nhà kể cả nấu cơm, đi chợ. Cô vợ Tôn Nữ chỉ mỗi việc cho con bú và bồng con đi chơi hàng xóm. Vậy mà một lần đến lấy áo quần, chị ấy nói với tôi:

 

- “Áo nầy tôi mới ủi cho anh đó. Đẹp không?!”

 

Câu nói đột ngột khiến tôi lúng túng, “quê” đến độ quên nói lời cám ơn. Tôi cứ nghĩ cô Tôn Nữ ấy chẳng bao giờ đụng đến một công việc ǵ, nhứt là công việc của chồng.

 

Thế rồi “tai họa” giáng xuống cho hai vợ chồng ấy. Người chồng bị gọi đi lính. Cô vợ Tôn Nữ đem đứa con trao cho mẹ chồng rồi bỏ đi mất biệt. Và cũng từ đó, tôi cũng không c̣n đến Xóm Ngự Viên.

 

Hơn ba mươi năm sau, t́nh cờ tôi lại gặp cô Tôn Nữ ngày xưa ấy ở Saigon. Bây giờ không riêng ǵ tôi mà cả xóm ai cũng biết cô Tôn Nữ là em họ vua Bảo Đại. Cô kết duyên với một ông cán bộ già “răng hô mă tấu”, vợ chồng theo kiểu “Xă Hội Chủ Nghĩa thời hậu chiến vui ở buồn đi”, duyên nợ chỉ v́ một lư do đặc biệt của chế độ mới: Cô Tôn Nữ không có hộ khẩu Saigon, sợ bị “Chính Quyền Cách Mạng” đuổi về cố đô, nơi cô Tôn Nữ có một thời thơ ấu vàng son trước khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ; nơi cô bỏ lại anh chồng “cục súc” và đứa con trai trao lại cho bên nội, để cô thực hiện một chuyến đi vô định của cuộc đời một Tôn Nữ vừa “xuất giá” vừa “xuống giá” trong cơi giang hồ. Vị cựu hoàng anh họ cô c̣n lưu lạc đâu đó bên trời Tây trong cảnh hết thời, sa cơ thất thế, nói chi tới thân phận một cô Tôn Nữ khi tuổi đă xế chiều.

 

Nghĩ cho cùng, số phận Huế đâu có dành riêng ǵ các cô Tôn Nữ như thế ấy:

 

Xứ Thừa Thiên trai hiền, gái lịch

Non xanh nước biếc điện ngọc đền rồng

Tháp bảy từng Thánh Miếu, Chùa Ông

Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Ṭa

Cầu Tràng Tiền sáu nhịp bắc qua

Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ

đợi khách âu ca thái b́nh.

(Ca Dao)

 

Thái b́nh không đến. Tất cả đă qua đi, mặc dù cầu Trường Tiền c̣n đó, cung vàng điện ngọc c̣n đó, nhưng tất cả đă biến thành nơi giải trí cho kẻ “phàm phu tục tử”.

 

Tưởng đă hết rồi một thời đêm đêm tiếng đàn tiếng ca vang vọng trên sông Hương êm đềm, khiến người ta quên đi mối hận mất nước. Ai ngờ ngày nay vẫn...

 

Khúc 'Hậu Đ́nh Hoa' hát tự nhiên.

Nhọc nhằn tiếng cú trong thanh vắng

Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn...

 

Hôm nay có một người du khách

Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên

                                    (Nguyễn Bính, Xóm Ngự Viên)

 

Trong đời lưu lạc của Nguyễn Bính, nhà thơ có một điều may mắn: Ông c̣n được “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên”.

 

Hôm nay, có biết bao nhiêu người con lưu lạc của Huế đang ở Saigon, Paris, Washington D.C., Vienne, Luân Đôn, hay đang ở Sydney, Melbourne mà nhớ... Ngự Viên.

 

 

Hoàng Long Hải

Worcester, Mass, Mùa Hạ 2003

 

(1) Lời khai của Cụ Phan Bội Châu khi ra trước Hội Đồng Đề H́nh ở Hà Nội, phiên ṭa Pháp bày ra để xử cụ. Phan Bội Châu nói: “Tôi chỉ có mỗi một tội là tội yêu nước... ”

 

(2) Ông Ngô Đ́nh Diệm là người rất tin Kinh Dịch do Khổng Tử san định. Năm 1956, khi mới làm Tổng Thống, ông yêu cầu những đồng chí cũ trong đảng của ông ở Huế cố t́m cho ông một bộ Kinh Dịch đầy đủ nhứt. Cuối cùng ông Huỳnh Hữu.H., chú tôi kiếm được. Bộ Kinh Dịch gồm có 4 cuốn, đóng “b́a sim” cẩn thận, coi như quí nhứt ở Huế lúc ấy. Tôi may mắn có thấy bộ sách nầy.

 

Khách du lần giở trang hoài cổ

Mơ lại thời xưa xóm Ngự Viên.

 

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển

Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?

Sớm Đào, trưa Lư, đêm Hồng Phấn

Tuyết Hạnh, sương Quỳnh, máu Đỗ Quyên

Cung tần mỹ nữ ngời son phấn

Theo gót nhà vua nở gót sen

Hương đưa bát ngát ngoài trăm dặm

Cung nữ đa t́nh vua thiếu niên

Một đôi công chúa đều hay chữ

Hoàng hậu nhu ḿ không biết ghen.

 

 Đất rộng can chi mà đổi chác

Thời b́nh đâu dụng chước ḥa Phiên

Mẫu đơn nở đỏ nhà vua nhớ

Câu chuyện “Hồ lai bất thượng thuyền”

           

Có phải ngày xưa vườn Ngự Uyển

Là đây, hoa cỏ giống vườn tiên?

Gót sen bước nhẹ lầu tôn nữ

Ngựa bạch buông chùng áo Trạng Nguyên

Mười năm vay mượn vào kinh sử

Đă trả xong rồi nợ bút nghiên

 

Quan Trạng tân khoa mừng tiệc yến

Đi xem hoa nở mấy hôm liền

Đường hoa, má phấn tranh nhau ngó

Nhạc ngựa vang lừng khắp bốn bên

Thắp hương Tôn Nữ xin trời phật

“Phù hộ cho con được phỉ nguyền.”

 

Ḷng Trạng lâng lâng màu phú quí

Quả cầu nho nhỏ bói lương duyên

Tay ai ấy nhỉ gieo cầu đấy?

Nghiêng cả mùa xuân Trạng ngước nh́n.

 

Trạng bắt sai rồi lầu rủ sáo

Có người đêm ấy khóc trăng lên

Bóng ai thấp thoáng sau bờ trúc

Chẳng Tống Trân ư cũng Nguyễn Hiền?

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính