“Nếu ngày ấy...”

 

Hoàng Long Hải 

 

 

“Tiếc thay chút nghĩa cũ càng,

Dẫu ĺa ngó ư c̣n vương tơ ḷng.”

Nguyễn-Du. 

 

 

Hôm ông cựu Thiếu tá Dù Lă Quí Trang tổ chức lễ sinh nhựt cho ông Bill, đại tá Mỹ, sau khi ăn uống no say, tặng quà cho ông Bill xong th́ đến phần “phụ diễn văn nghệ”.

 

Nói cho xôm tṛ như thế, nhưng “phụ diễn văn nghệ” có nghĩa là ai biết hát th́ lên hát. Pḥng SB có cây đờn ghi-ta của ai đó, ai biết th́ cầm đờn phụ họa, ai không biết đờn th́ cũng có người đánh xịch xèng ḥa theo. Ai may mắn th́ được ông Hải quân Thiếu tá Nguyễn Th́n, tức nhạc sĩ Trường Sa, phụ đàn cho.

 

Ông cựu thiếu tá Cao Dai, hát một bài tiếng Tây quen thuộc, hồi xưa rạp Tân Tân ở đường Trần Hưng Đạo/ Huế hay cho phát trên loa, trước giờ “vô phim”. Có lẽ hồi đó ông cựu thiếu tá Cao Dai c̣n là học tṛ, dạo phố hay đi học ngang qua đường Trần Hưng Đạo, nghe riết thành quen hay ông tập tành bài hát nầy vào một dịp nào đó, riết thành quen, ai mà biết.

 

Không bàn hát hay hay dở, nhưng thường th́ không những dở mà lại c̣n là dở ẹt, khi hát, ông cựu thiếu tá Cao Dai hướng mặt về phía ông đại tá Bill, ngồi bên cạnh ông cựu thiếu tá Trang. Đó là lịch sự. Ông Dai hát chào mừng sinh nhựt ông Bill th́ mặt ông ta hướng về ông Bill. C̣n ngoài ra, v́ vui mà hát, hay hát để bốc thơm ngày sinh ông Bill một chút, như người ta thường hát để “ca  ngợi ngài giáo tổ” trong ngày Phật Đản hay ngày Chúa Giáng sinh. Ai biết được!?

 

Có điều, tôi ngồi với ông cựu đại úy Cảnh Sát Tống Văn Thừa, ông kỹ sư Bửu Tộ, ông kỹ sư Nguyễn Dương Hảo và ông cựu trung úy Hồ Đắc Liệu, - thường bị tôi đùa, gọi trại tên là “lẹo” -, phía sau lưng ông Cao Dai, thấy rơ ông Cao Dai vừa hát vừa run. Ông Bửu Tộ chỉ vào cái chân co của ông Cao Dai cho chúng tôi thấy mà cười. Không cười sao được! Cái chân ông Cao Dai lẩy bẩy như cái càng con châu chấu bị ngứt đầu như người ta thường làm để đút cho con sáo con ăn vậy.

 

C̣n nhạc sĩ Trường Sa, vốn là nghệ sĩ đa cảm đa t́nh, thấy người ta tiễn nhau đi định cư ở cầu tầu Jetty, là nơi tầu “Suma Tăng Cát” đến đón người đi, mà viết một bài hát mới, nhan đề là “Tiễn Em Ra Cầu Nhung Nhớ”. Nhạc Trường Sa th́ hay, nhưng giọng ông Trường Sa th́ ồ ề, nên trước khi hát, nghe ông giới thiệu bài ca mới sáng tác, mọi người ai nấy vỗ tay hoan hô dữ lắm, nhưng khi nghe ông ta hát, ai ai cũng thất vọng. Giọng hát ông ồ ê, tôi gọi đùa là “giọng độ-ma-jờ”, hát hỏng cái ǵ được!

 

Mấy bữa trước, sáng tác xong, ông kêu tôi tới để giới thiệu bài hát mới, tôi đă nói với ông ta rồi: “Nhạc anh hay lắm. Cần giới thiệu, anh nhờ cô Lệ Thu hát cho. Anh hát, không những không hay mà người ta c̣n cười đấy.”

 

Lệ Thu mà hát nhạc Trường Sa th́ cũng giống như Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn. Có lẽ nhạc sĩ Trường Sa cũng biết vậy đấy, nhưng ở trên đảo Bidong nầy, kiếm đâu ra cô Lệ Thu. Có thể có một Lệ Thu nào đó ở đảo, gốc là thị Mít, thị Xoài nào đấy, biết ca cải lương hơn là biết hát nhạc cải cách. Khi đến đảo, cô Mít, cô Xoài bỗng thấy ḿnh lột xác, bèn đặt cho ḿnh một cái tên mới, Lệ Thu hay Lệ Xuân, cũng có thể là Thanh Lan, Thanh Điệp. Tên th́ giống nhưng mà hát th́ làm sao giống danh ca được. Tiếng con chim quạ, đâu phải đầu hôm sớm mai mà thành tiếng chim hoàng oanh.

 

Bây giờ tới phiên ông cựu thiếu tá Trang đứng lên trổ tài mừng sinh nhựt ông đại tá Bill. Ông làm ra dáng vẻ một nghệ sĩ, tay ôm đàn, gục đầu xuống, cất giọng: “Ngày xưa có kẻ từ quan, lên non t́m động hoa vàng...”

 

Vốn tính hay đùa, mới nghe chừng đó, ông Bửu Tộ lên tiếng: “Ở đây không có động như ở Ngă Ba Chú Ía. Ông Trang lên núi Bidong.”

 

Ông Liệu lại chen một câu khác:

- “Rán mà hát cho hay, bắt gị cho chặt, hát dở, ông Bill hỏi tại sao thiếu tá mà cải tạo mới có 4 năm rưởi mà đă được tha về, bỏ mẹ luôn! Mục đảo như không!”

 

Liệu nói thế v́ theo “tiết lộ bí mật” của ông Hảo, - bí mật nhưng mà ai cũng biết -, rằng ông Trang khóa 18 Đà Lạt, phó pḥng 3 Sư Đoàn Dù, tù cải tạo chỉ có 4 năm rưởi th́ được tha.

 

Hảo khoe với tôi: “Em là vua thuốc Tây chợ trời Saigon. Mỗi sáng em ngồi ở quán càphê đường Trần Quang Khải/ Saigon mà định giá thuốc cho ngày đó. Thằng nầy (tức là ông cựu thiếu tá Trang), mỗi sáng chạy cái xe Yamaha Dame ra ngồi xớ rớ gần chỗ em họp. Chờ em ra giá xong, báo cho y biết. Y chạy đi thông báo kiếm chút tiền c̣m về nuôi vợ con. Nó vượt biên với thằng Khóai, đại úy Dù, thằng nầy không đi cải tạo, mà lại về xứ sở “quê hương Đồng Khởi” tổ chức vượt biên. Mẹ vợ bé của ông cựu thiếu tá Trang là thiếu tá Công An Việt Cộng nằm vùng. Tôi nói: “Hèn chi thấy ông qua đây, nó gọi ông lên làm pḥng SB để trám miệng ông.”

 

Hảo kéo thêm hai người bạn cùng vào làm SB, một là Bửu Tộ, ông kia là ông Liệu. Hai ông Tộ và Hảo đều là kỹ sư Canh Nông làm cho bộ Canh Nông trước 1975. Cựu trung úy Hồ Đắc Liệu là bạn học cũ của ông Hảo hồi ở trường Quốc Học Huế.

 

Nghe ông Trang hát xong, tôi nói: “Ông ta hát có cảm xúc đấy!”

 

Tộ lại cười: “Văn chương, nghệ thuật và thực tế không đi với nhau. Nhiều ông thầy chùa giảng “đời là hư vô”, nhưng ông nào ông đó vàng tính bằng cây. Tài sản đất ruộng ông Ngô Đ́nh Thục ở Saigon, ở Vĩnh Long nhiều lắm. Hát “Lên non t́m động hoa vàng” nhưng tranh nhau cái chức trưởng pḥng SB.”

 

Tôi cũng tin ông Tộ nói đúng.

Ông Tộ người Huế. Ở Huế người ta biết tài sản ông Thục gồm những ǵ. Chỉ một cái lầu Jira (?) mà thôi, người ta cũng đă ngán cho một vị tu hành.

 

Tộ cũng phụ trách việc truất hữu chính sách “Người cày có ruộng” của “tông tông” Thiệu, ông ta phải biết chủ điền là những ai chứ! Ở Vĩnh Long “đức cha” cũng có ruộng vậy!!!

 

Sở dĩ Tộ nói câu tranh nhau cái chức trưởng pḥng SB là v́ mấy hôm trước, tôi kể cho cả đám ông Hảo nghe rằng hôm ông Trang gọi tôi lên phỏng vấn để nhận vô làm pḥng SB, ông Trang tự giới thiệu: “Tôi là trưởng pḥng.” Tôi hỏi: “C̣n ông Khánh sao?” Ông Trang trả lời: “Ông Khánh cũng trưởng pḥng.” Vậy là pḥng SB có tới 2 trưởng pḥng. Đời thuở nhà ai có chuyện lạ đời không?!

 

Ông Khánh cũng lên hát một bài. Dĩ nhiên, ông Khánh cũng như mọi người hát không hay, nhưng tôi để ư câu sau đây, khi hát, trông ông có vẻ buồn lắm: “Nếu ngày ấy ḿnh đừng quen nhau th́ ngày nay có đâu buồn đau...”

 

Nh́n chung, buổi tiệc “Mừng sinh nhựt ông đại tá Bill” biểu lộ một vài cá tính tệ lậu của người Viêt Nam. Người VN thường gọi người Tàu là Tàu, v́ đa số người Tàu đến VN bằng tàu. Trong sinh hoạt xă hội b́nh thường, người VN, nhất là ở Saigon, gọi người Tàu là “Chú Ba”, tệ hơn nữa th́ người ta gọi là “Ba Tàu”, rơ hơn nữa th́ gọi là “Ba Tàu Chợ Lớn”.

 

Ngoài Bắc, dưới “Ánh sáng của Chủ nghĩa Quốc tế Vô sản”, người Bắc có gọi người Tàu là “chú Ba”, có gọi “người Tàu” hay gọi như thế nào? “Nước Tàu Cộng”, “người Tàu Cộng” hay “Ông Liên Xô”, “Ông Tàu Cộng”

 

Có phải đó là “tính Nô dịch”

 

Người miền Nam có cái tính Nô dịch đó không?

 

Có thể, - tôi nói có thể người Việt chúng ta “cám ơn” nước Mỹ, nhân dân Mỹ. Trước hết, nước Mỹ là một biểu tượng – biểu tượng cho Tự Do, B́nh Đẳng, Bác ái, - là mục tiêu của các “cha già” của dân tộc Mỹ, khi họ dựng nên nước Mỹ nầy, với những ước vọng một nước Mỹ như trong bản Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Hiến Pháp Hoa Kỳ.

 

Khi đến thăm Washington DC, nh́n ngọn tháp h́nh cây bút ch́ và ba màu Xanh/ Trắng/ Đỏ trên lá cờ Mỹ, có thể có người nghĩ tới lư tưởng cao cả của các Tổ phụ Hoa Kỳ.

 

Nhưng người Mỹ khi chở súng đạn đến VN, và đổ hơn nửa triệu quân vào miền Nam, th́ mục đích của chính phủ Mỹ không v́ cái lư tưởng của cha ông họ, mà chính là v́ quyền lợi của Tư bản Mỹ đấy chứ.

 

Vậy th́ “Mừng sinh nhật ông Đại tá Bill” là v́ ǵ?

 

Ông Bill, sau khi tốt nghiệp sĩ quan Hoa Kỳ, ông đến Huế năm 1955. Khi đó Mỹ mới “thay chân Pháp” ở miền Nam. Ông Ngô Đ́nh Diệm đuổi Pháp về Tây và đón Mỹ tới, Mỹ tới giúp VN chống Cộng.

 

Trong tiến tŕnh đó, ông (thiếu úy) Bill đến “công tác” là giúp VN chống Cộng hay v́ quyền lợi của Tư Bản Mỹ?

 

Trong cả hai viễn tượng nầy, tôi không có mắc mớ ǵ mà phải “đóng tiền tổ chức Mừng Sinh Nhật Đại Tá Bill” như ông Thiếu Tá Dù Lă Quí Trang đứng ra tổ chức, vận động nhân viên pḥng SB tham gia. Dù vợ ông Bill là cô Dung, học tṛ cũ của tôi – sau nầy tôi mới biết – tôi cũng không nên tham gia, huống chi làm như ông Trang, đọc “diễn văn” chúc thọ ông Bill, và ông nhạc sĩ Trường Sa (cựu Hải quân Thiếu tá Nguyễn Th́n) mặc nhiên coi như là người “đầu tṛ văn nghệ” của buổi “mừng sinh nhật” hôm đó.

 

Ở tù Cải Tạo, Việt Cộng có “giáo án” cho người “tù Cải Tạo” không nên phục Mỹ, sợ Mỹ. Bọn “Cải tạo viên” chúng tôi thấy buồn cười. Các sĩ quan VNCH, nhiều ông có coi Sĩ quan Cố vấn Mỹ là cái thá ǵ đâu. Đọc Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam, chúng ta thấy “Ro-be Lửa” chưởi vào mặt Sĩ quan Cố vấn Mỹ không tiếc lời. Cũng v́ chống Cố Vấn Mỹ, Đại tá Lê Đức Đạt bị Cố vấn Mỹ chơi khăm, khiến ông phải bỏ ḿnh ở Tân Cảnh.

 

Vậy th́ hà cớ chi mà “Pḥng SB” đóng tiền tổ chức “Mừng Sinh Nhật Đại tá Bill” hay đây cũng chỉ là cái tṛ nâng bi, cùng với cái tinh thần nô lệ, cái mặc cảm hèn kém của ông thiếu tá Dù Lă Quí Trang khi đứng ra tổ chức “Mừng Sinh Nhật Đại tá Bill”.

 

Lịch sử nước ta c̣n ghi lại gương anh dũng của nhiều người trước kẻ thù. Lời đối đáp của Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi trước vua nhà Nguyên, khiến vua Nguyên phong ông làm “Lưỡng quốc trạng nguyên”. Câu trả lời của sứ thần nước ta Giang Văn Minh khiến vua Minh tức giận, bèn sai quân mổ bụng ông Giang Văn Minh để coi thử cái gan của ông Giang Văn Minh to như thế nào. (1)

 

Cũng may, ông Trang có họ Lă. Có thể họ Lă của Lă Bất Vi hay Lă Bố. Vậy tổ tiên ông Trang chắc không phải là người Đại Việt.

 

Tiệc tùng xong, tôi tính đi tắm. Ở pḥng SB, có nước ngọt, tắm “thả dàn”, nhưng v́ hôm đó tập trung ăn tiệc nên khi tiệc xong, nhiều người cùng đi tắm nên pḥng tắm kẹt. Tôi ôm khăn áo, ngồi chờ trên cái ghế đặt ngang hai gốc dừa ở pḥng chờ. Pḥng chờ là một cái sàn hơi cao, có mái che, không có vách, rộng bằng nửa cái sân bóng chuyền.

 

Giữa hai gốc dừa nầy, h́nh chữ V., ai đó đóng một tấm ván ngang làm chỗ ngồi. Chỗ ngồi nầy khá thoải mái, v́ lưng th́ dựa vào thân dừa bên nầy, chân gác vào thân dừa bên kia, ngó mông ra biển. Xa xa, bên kia biển là rặng núi xanh xanh, xương sống của bán đảo Mă Lai, giống như khi tôi c̣n trẻ, ngồi bên bờ sông Thạch Hăn hay sông Hương mà ngó lên dăy Trường Sơn vậy.

 

Cái tấm ván làm chỗ ngồi được nhiều người chiếu cố, láng bóng lên. Ông Khánh đang ngồi trên đó, nh́n bâng khuâng ra biển xanh.

 

Tuy tôi không có chỗ ngồi thoải mái như ông Khánh, nhưng cái ghế tôi ngồi bên cạnh ông cũng có lưng dựa. Tôi cũng dựa lưng vào ghế, ngó mông ra biển.

 

Bắt chuyện, ông Khánh nói với tôi:

 

- “Anh Hải thấy biển đẹp không?”

- “Biển khi nào cũng đẹp, nhưng tôi không thích biển buổi chiều, gió lộng, sóng dữ lắm. Biển hay làm cho người ta nhớ. Trịnh Công Sơn viết “Biển Nhớ” là nói nỗi nhớ mênh mông như biển hay biển làm cho người ta nhớ...” Tôi nói

 

- “Nghĩ sao cũng được, cũng có lư cả. Nhớ là quay về dĩ văng.” Ông Khánh nói.

 

Tôi nói:

- “Hồi năy, anh hát “Nếu ngày ấy...” th́ cũng là nhớ, là quay về dĩ văng vậy.”

- “Anh tinh thật.” Ông Khánh khen tôi. “Cải tạo về, tôi đạp xích lô kiếm ăn, thấy người ta chở vợ ḿnh trên xe “Dream”, qua mặt ḿnh, vợ ḿnh ôm eo người ta, tôi tưởng như tôi có thể gục xuống ngay trên chiếc xe xích lô. Đau lắm anh ơi!...”

 

Tới phiên, tôi chào ông Khánh mang khăn áo đi tắm...

  

&

 

Bị ám ảnh bởi cái câu “Đau lắm anh ơi!...” nên mấy ngày sau, sau khi phỏng vấn xong một “kê” (case), tôi nghỉ mấy phút, ra ngồi ngoài pḥng chờ cho thoáng mát, vừa cầm ly càphê vừa hát... cho tôi nghe. Dĩ nhiên, tôi hát dở ẹt, nhưng tôi lại là người hay hát. Sợ người ta chê hát dở, tôi thường tự an ủi “Hát hay không bằng hay hát”. Vậy là tôi cứ cái bài ông Khánh hát hôm mừng sinh nhựt ông Bill mà ngâm nga: “Nếu ngày ấy... ḿnh đừng quen nhau.”

 

Lại cái ông Tộ “thông manh” nhiều chuyện”:

- “Anh bị con nhỏ nào đá chưa mà cứ “nếu ngày ấy...” hoài vậy.

 

Tôi cười:

- “Bồ đá đâu có quan trọng! Ông có nghe bọn con gái Huế nói không? “Chẳng thà bồ đá, không thà hỏng thi.” Tui cũng vậy. Tui con nhà nghèo, “cơm đùm gạo bới” mà đi học. Thi đậu mới là gay, c̣n em nào cho đi “tàu bay giấy” th́ mặc cha nó.”

 

Nói xong, bỗng tôi nhớ tới việc Tộ bị vợ bỏ. Anh ta là kỹ sư, làm giấy tờ bồi thường truất hữu cho một ông chủ điền. Ông chủ điền cám ơn, gả con gái cho, lại cho thêm mấy triệu. Vậy mà sau 30 tháng Tư, anh ta bị vợ bỏ, buồn t́nh, anh vượt biên. Ở đảo, tính t́nh anh ta đôi khi hơi “điện chạm”. Nghĩ chuyện Tộ, tôi nói với anh ta:

 

- “Tui nói thiệt ông! hồi trẻ tui cũng có mấy con bồ. Khi bị con nào đá, tui cũng buồn sơ sơ. Bây giờ, nhớ lại, đôi khi lại cho là may. Giả thử như tui lấy con đó, mà không lấy vợ tui, chắc đời tui cũng tơi tả lắm!”

 

Vậy rồi tôi kể lại cái “Đau lắm anh ơi...” của ông Khánh cho ông Tộ và ông Hảo nghe. Khi đó, ông Hảo cũng vừa tới hóng chuyện. Hảo cười, nói to:

 

- “Người ta đă nói rồi. “Tái ông thất mă”. Chuyện đời biết sao được mà lo!”

 

Mấy hôm sau nữa, tôi phỏng vấn mọt “kê” xong, hơi trễ, chỉ c̣n ông Trần Quốc Phụ, trưởng ban, chờ tôi giao hồ sơ lại đem cất, sau khi tôi cho “đối tượng” ra về rồi.

 

Khi tôi đi ra sân trước th́ ông Khánh đang ngồi ở cái ghế giữa hai gốc dừa. Ông Khánh nói với tôi:

 

- “Có lẽ tôi đi sớm. Hồ sơ USCC bên Mỹ xong rồi.”

 

Ông Khánh, tới đảo trước ngày “cut off date”, nôm na thường gọi là ngày “đóng cửa đảo”, khỏi bị “thanh lọc”, được định cư sớm. Phái đoàn Mỹ nhận cho đi Mỹ rồi, chỉ cần cơ quan USCC t́m người bảo trợ mà thôi.

 

Thấy tôi đứng lại nói chuyện với ông, ông Khánh rời khỏi ghế, nói với tôi: “Anh rảnh không? ḿnh ra ngoài kia ngồi chơi.” Tôi “ừ” rồi đi theo ông Khánh. Ra khỏi hàng rào B-40 của pḥng SB là tới cái sân trước nhà máy đèn. Ở đó có cái băng dài. Ông ta ngồi xuống một đầu. Đầu kia, ông đưa tay chỉ, ư muốn bảo tôi ngồi xuống.

 

Tôi nói, như một lời cuối, trước khi chia tay ông ta, về câu chuyện “Đau lắm anh ạ...” của ông:

 

- “Anh sắp đi rồi, tôi mừng cho anh, làm lại cuộc đời. Mọi việc rồi cũng sẽ nguôi ngoai, sẽ qua đi.”

 

Ông Khánh nói:

- “Từ lâu, tôi đă cố quên đấy chứ. “Đành quên đi! Thôi c̣n thương tiếc làm ǵ!” Anh biết bài hát đó chứ, nhưng mà đêm đêm, nằm chờ ngủ, nhắm mắt, cố quên mà không quên được anh à.” 

 

&

 

 ”Trước khi về Lực Lượng Đặc Biệt, tôi phục vụ trong đại đội Trinh Sát Sư Đoàn.” Khánh kể. “tôi đánh nhiều trận căng lắm, “loon” của tôi, hai lần “đặc cách mặt trận.”

 

“Giữa năm 1965, một trung đoàn Việt Cộng chiếm một phần chân núi Bà Đen. Phía đó, chúng nó có thể quan sát chợ Long Hoa và đường vào “ṭa thánh Tây Ninh” rất rơ. Mấy ông “chức sắc” sợ, kêu cứu sư đoàn. Phe ta điều hai tiểu đoàn tới, đánh ba ngày chưa xong.”

 

- “Ḿnh ở dưới, chúng nó trên, bất lợi.” Tôi góp ư.

- “Vậy th́ ḿnh phải trên đánh xuống. Lúc đó, tôi, “loon” thiếu úy mà làm đại đội phó, v́ đánh giặc “ch́” lắm. Ông tướng gọi tôi tới, hỏi tôi có đủ gan để chỉ huy một trung đội nhảy trực thăng, từ trên đánh xuống không? Tôi ừ liền. “Dzụ” nầy dễ ẹt”. Tôi tŕnh với ông tướng. Vậy là tôi có mấy chiếc H-34. Hồi đó ḿnh chưa có HU-1B.

 

“Sau một đợt của 2 chiếc Skyraider, trực thăng xuống thấp trên sườn núi đá dốc đứng. Làm chi có băi đáp!!!

 

Trong khi 2 chiếc Skyraider đè bọn Việt Cộng xuống, không cho chúng ngóc đầu lên, 28 người chúng tôi xuống bằng dây. Tới đất, t́m chỗ ẩn núp xong là quan sát. Bọn chúng tôi chỉ xài lựu đạn. Tên nào ngóc đầu lên, bắn lóc cóc là “dộng” cho nó một lựu đạn. Bây giờ th́ tôi lợi thế hơn. Sườn núi dốc bảy tám chục độ, cứ lựu đạn thảy xuống là ăn, ngọt như đường.

 

Bọn tôi xuống lúc 10 giờ, quá 12 giờ trưa, tui cho lính nghỉ xă hơi. Sau một giờ trưa, chơi tiếp đợt hai. Hai tiểu đoàn của ḿnh ở dưới chân đồi cũng chẳng thèm nổ phát súng nào. Chiều lại, mặt trời hơi nghiêng nghiêng, ông tướng gọi tôi đầu máy: “Lựu đạn xài bao nhiêu? Cần thêm nữa không?” Tôi đáp: “Tŕnh chuẩn tướng, c̣n đủ. Sáng mai c̣n chơi một trận nữa, xin thêm. Đêm nay chúng nó rút, chịu không nỗi đâu!”

 

“Tụi tôi gần ba chục đứa, mỗi đứa dộng cho tụi nó gần chục quả. Nội một ngày hôm đó, tụi nó chịu bao nhiêu lựu đạn của chúng tôi, mà trái nào trái đó quăng xuống, chắc như bắp? Chịu không nỗi, đêm đó chúng nó rút thiệt. Sáng hôm sau t́nh h́nh êm ru, ngó xuống dưới chân núi, tưởng như súng đạn chưa từng qua nơi nầy.”

 

- “Anh lên đặc cách?” Tôi hỏi.

- “Không những thêm một mai vàng, ông tướng c̣n cho tôi mười ngàn, cho 3 ngày phép, du hí Saigon. Thế là tôi đến trường đón cô ta.”

 

Tôi nói chen vào: “Đón em tận cổng trường.”

“Vâng! Đón em tại cổng. Rồi chúng tôi vào ăn nhà hàng Lệ Hoa ở Tổng đốc Phương, nhảy đầm ở Crystal. Vào tới nhà hàng nầy, một cô “tài pán” đến lễ phép hỏi tôi: “Trung úy chọn em nào không?” Tôi cười: “Tôi có đào của tôi rồi, số một đây.” Và tôi chỉ cô ấy. Cô “tài pán” lại chào cô ây rất lịch sự.”

 

“Anh biết sao không? Đi chơi với cô ấy, đi ăn, đi dạo phố, đi nhảy đầm, bao giờ tôi cũng phải mặc đồ nhà binh. Ư cô ấy muốn vậy.

 

- “Thần tượng. Thần tượng xă hội. “Xă hội quan văn” qua rồi với cái chết của cụ Ngô. “Xă hội quan vơ” lên hương.”

 

- “Đúng vậy!” Khánh nói. “Người con gái thấy anh nhà binh hào hùng hơn. “Thiên thần mũ đỏ”, “thiên thần mũ nâu”... Thành ra tôi có một “bộ đồ vía nhà binh”, vừa vặn, ủi thẳng, ủi hồ phẳng, huy chương, huy hiệu, lon lá không phải rực rỡ mà rơ ràng để đi phố với bồ, tôi cũng cứ mang “loon” đen, giày “saut” bóng, gỏ chân cồm cộp.

 

“Tới khuya, gần giới nghiêm, tôi bảo đưa cô ta về. Cô ta không chịu về. Tôi sững sờ! Con gái nhà lành, nề nếp, giàu có, lại hoa khôi của trường, bà mẹ đang chờ kỹ sư, bác sĩ đến hỏi...Tương lai tươi sáng đang chờ, sao lại đi đêm với trai, một anh sĩ quan quèn, súng đạn không chừng đâu biết được, biết có ngày về được hay “bại tướng cụt chân”.

 

“Bà mẹ biết tôi và cô ta yêu nhau, bà cấm cửa. Vậy mà đêm nay, cô ta dám đi suốt đêm với tôi. Cô ta nói: “Em phải là vợ anh. Em không thể xa anh được. Em liều với anh. Mẹ không chịu cũng phải chịu...”

 

“Tôi cười: “Em trao cái cán dao cho anh, mẹ cầm đầu lưỡi. Sao em liều vây?”

“Cô ta đáp, b́nh tĩnh: “Em không dành cái đẹp nhất của đời em cho một người hùng th́ em dành cho ai?”

 

“Chúng tôi cười rúc rích và ghé qua đêm ở một khách sạn hạng sang trên đường Nguyễn Trung Trực.

 

“Tôi đánh vài trận nữa, không thiếu nguy hiểm và cũng ngon lành, một năm sau, lại thêm một mai và cưới cô ấy. Bà mẹ không cho cưới cũng không được. Ư chí cương quyết của cô ấy và, và... cái bụng lùm lùm!

 

“Bấy giờ th́ tôi thấy ngại cho đời lính. Vợ đẹp, con ngoan, cầm chân ḿnh lại. Tôi chuyển qua Lực Lượng Đặc Biệt, nhưng bấy giờ, loon lá như tôi, trận mạc nhỏ cũng ít đi. Tôi chỉ tham dự những trận lớn. Trận lớn th́ tính mạng ḿnh cũng ít ngại hơn. Thế rồi 30 tháng Tư, tôi đang mang “loon” thiếu tá.

 

- “Anh không có bỗng lộc ǵ nhiều?” Tôi hỏi.

 

- “Không anh à. Moi đâu ra tiền? Chúng tôi sống nhờ đồng lương. Gạo, đường, sữa mả th́ nhờ Quân Tiếp Vụ. Mẹ vợ tôi qua đời đột ngột, anh em ai có đời nấy, cho nên đến ngày đi tù, tôi không biết vợ tôi lấy ǵ nuôi con. Học tṛ xuất thân, vui chơi rồi chăm sóc chồng con… suốt một đời. Khi c̣n trẻ cũng như khi lấy chồng, cô ấy không biết xoay xở, không biết buôn bán, sống nhờ vào đồng lương của chồng. Cuối cùng, hai đứa con tôi, cô ấy cũng cho được đứa con trai vượt biên, c̣n chị nó, về ở với bà nội. Cô ta đi lấy chồng.”

 

Tôi hỏi:

- “Anh trách ai?”

- “Trách ai? Tôi biết trách ai? Trách ai bây giờ? Trách ông Thiệu? Ổng nói rồi mà: “Mất đất nước, mất tất cả.” “Tất cả” là có vợ con ḿnh trong đó. Tôi trách vợ tôi được không?”

 

- “30 tháng Tư, miền Nam đă chết. Anh em ḿnh chết trong trại cải tạo. Chết liền hay chết dần ṃn, cũng là chết vậy. Ḷng ḿnh chết trước, thân xác chết sau”. Tôi nói.

 

- “Tôi nghĩ, nhiều khi, người đàn bà không có chi đáng trách. Lấy chồng là lấy ông sĩ quan, có xe Jeep, có tài xế, có tà-lọt. Ai chịu lấy một thằng tù ở tận đáy xă hội.

 

Đối với người đàn bà, bên cạnh bao nhiêu cái cạm bẫy của đời, lại c̣n sách lược của chúng nó nữa. Không những cướp tài sản của “thằng ngụy” mà c̣n phải xé nát gia đ́nh của “thằng ngụy” ra. Dù không giết nó, không “tắm máu” th́ cái “thằng ngụy gia đ́nh tan nát” ấy, chống phá cách mạng được cái ǵ, bằng cách nào?

 

Trong cái sách lược ấy th́ người đàn bà là mục tiêu của chúng nó, có muốn yên thân th́ yên được sao? Rồi c̣n cơm gạo, rau cá… Họ cũng phải sống chứ.

 

Chúng ta ở “tù trong”, có “nhà nước” lo, dù khoai ḿ, khoai lang, cũng đủ ngày ba bữa, năm một bộ quần áo. Họ là “tù ngoài”, - như bọn Công An thú nhận như vậy -. Họ là “tù ngoài”. Họ được cấp khoai lang, khoai ḿ hay tự kiếm lấy. Vậy là quỵ, ngă quỵ. Hộ khẩu là xiết bao tử lại, là người dân không có con đường nào khác. Đàn bà con gái không làm vợ bé cán bộ th́ cũng làm đĩ. Cái kinh khiếp của chế độ Cộng Sản chính là ở chỗ đó. Cả miền Nam nầy ngă quỵ xuống, tan nát, có riêng ǵ một ḿnh vợ anh hay vợ một ai khác!?” Tôi nói tiếp.

 

- “Tôi biết anh à, tôi biết anh à! Nhưng làm sao quên được người vợ cũ để khỏi đau ḷng?” Khánh than thở.

 

- “Yêu nhau là t́nh, vợ chồng là nghĩa. Càng mất cái nghĩa, anh càng chua xót cho cái t́nh. Đời vậy thôi! Lư thuyết th́ vậy, th́ hay, nói th́ dễ, quên đi một chuyện t́nh, một quăng đời lứa đôi hạnh phúc, đâu có dễ ǵ!!!

 

Một lúc sau, tôi hỏi:

-”Có gặp nhau lần nào nữa trước khi đi?”

-”Đau lắm. Nhà tôi ở trong hẽm. Tôi ở nhà mẹ tôi. Nhà tôi trong cư xá quân đội bị lấy mất rồi. Nhà cô ấy, do anh chồng lấy được một cái villa của một ông dân biểu chế độ cũ đầu hẽm. Mỗi ngày mấy lần tôi đạp xích lô ngang nhà cô ấy, ban đầu c̣n thoáng thấy. Về sau cô ấy tránh mặt. Chỉ một hai lần thấy ông cán bộ chở bà trên xe Dream, tôi đă đau lắm rồi! Sau nầy không thấy nữa. Cô ấy muốn tránh cái đau cho tôi hay sao? Tôi không biết.”

 

-”Vậy thôi.” Tôi hỏi.

-”Gay cấn là hôm đám cưới con gái tôi. Nó buộc tôi và cô ấy phải có mặt, bên cạnh vợ chồng nó. Nó không mời ông cán bộ, nhưng ông ta vẫn đến dự. Khi chụp h́nh, con rể và con gái tôi đứng giữa. Tôi bên nầy, cô ta bên kia. Và… cô ấy khóc, lấy tay áo lau giọt nước mắt, h́nh như cố nín. Ḷng tôi như xé ra!!! Vậy rồi thôi. Tôi cũng cố tránh người cũ! Gặp nhau nữa mà làm ǵ!?

 

Tôi hỏi:

-”Anh có khóc không?”

-”Khóc à?” Khánh nói. “Không biết hồi nhỏ tôi có hay khóc không nhưng từ khi khôn lớn th́ không. Tôi cứ nghĩ ḿnh làm ḿnh chịu, tại sao lại khóc? Hồi Mậu Thân, đụng một trận ở ngă ba Cây Thị, tôi nghĩ là tôi có thể khóc mà không khóc được. Một trái B-40 nổ ngang tầm chân phải tôi, tôi tưởng như chân tôi đă cháy thành than, nóng kinh khủng. Tôi nằm lại, không di chuyển được. Trước mặt là xác hai thằng lính của tôi, số c̣n lại rút đâu mất tiêu. Việt Cộng đang tấn công, chạy qua chạy lại trước mặt. Chúng nó tưởng tôi chết rồi, không bắn. Tôi muốn khóc, không phải khóc v́ sợ mà v́ cái chân đau quá. Vậy mà tôi không khóc. Sau đó, tôi được cứu thoát. Khi đó, mặc dù chân c̣n đau, nhưng tôi lại cười.

 

-”Thế khi ở trong trại tù?” Tôi lại hỏi.

-”Trong tù, một thời gian dài, khoảng hơn hai năm, tôi nằm gần một ông “Thông Thiên Học”. Ông nầy giảng cho tôi nhiều cái hay lắm anh à. Tôi học ở nhà trường, ở đời, ít thông suốt nhiều vấn đề như khi ở với ông. V́ dụ như ông ta nói về đời, cái nh́n rất khoa học.”

 

Tôi đề nghị:

-”Anh giải thích đi.”

-”Ông ta nói con người có số phận, nhưng cái số phận ấy do tự ḿnh định đoạt ra, không phải do một đấng thiêng liêng nào định ra cho ta. Đó là cái mâu thuẫn trong truyện Kiều. Nguyễn Du nói: “Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Như vậy th́ phong trần hay thanh cao đều do ông trời định đoạt ra. Nhưng Nguyễn Du lại viết về cô Kiều “Cứ t́m những chốn đoạn trường mà đi.” Vậy th́ cái đoạn trường là do cô Kiều tự t́m đến. Cô ta có thể đến, cô ta có thể tránh được. Như thế th́ phong trần là do ông Trời định đoạt thế nào được chứ?”

 

Tôi nói:

-”Tui học Kiều, dạy Kiều, đọc nhiều sách về Kiều, nhưng nhận xét về truyện Kiều như anh là mới lạ đấy. Nó gần với nhân quả như trong lời tựa của cụ Trần Trọng Kim.”

-”Vâng. Khổng tử bảo là “Khôn chết, dại chết, biết sống.” Vậy th́ con đường đời chúng ta đi là do chúng ta tự vạch ra, trên cái nền tảng “khôn”, “dại”, “biết” như Khổng tử nói, chứ có ai vạch ra cho ḿnh đâu? Ông bà ta cũng nói vậy: “Khôn sống, bống chết”. Thành ra, tạo hóa chỉ cho chúng ta có một điều: Sự sống. C̣n ngoài ra, sống như thế nào, là do cho chúng ta tự vạch lấy. Cái số phận, theo nghĩa đó, là chúng ta tự vạch lấy, do cái “khôn”, cái “bống” hay cái “biết” của chúng ta. Thượng đế có đày đọa hay cứu giúp ǵ chúng ta đâu?! Việc tin vào ông trời cho ta số phận là do chúng ta tự vẽ vời ra.”

 

-”Anh có ứng dụng lời nói của ông thầy “Thông thiên học” vào đời sống của anh không?” Tôi hỏi.

-”Có chứ sao không? Tôi lấy vợ, chúng tôi yêu nhau, sống với nhau, tôi đi ở tù, vợ tôi bỏ tôi là do tự chúng tôi cả.”

-”Vậy anh chỉ trách vợ mà thôi?” Tôi hỏi.

-”Cũng không tuốt. Cái ḿnh tự vạch ra cho ḿnh, hay một dân tộc vạch ra cho dân tộc đó, trở thành cái nạn chung.

 

Ngay như các đảng Cộng Sản, kể cả Cộng Sản Việt Nam cũng vậy. Họ tự vạch số phận cho họ chứ không ai vào đấy cả. Họ khôn? Khôn cũng chết. Bất nhân, lưu manh như họ, càng chết sớm mà thôi! Nhân loại nầy rồi cũng vậy anh à. Nhân loại sẽ sống chung với nhau trong ḥa b́nh, hay giết nhau để diệt vong, là do tự cái nhân loại nầy định đoạt lấy. Chẳng có ông Thượng đế nào nhúng tay vô đây cả.”

 

xCx

 

Ngoài kia, trời đă tối.

 

Chúng tôi vừa thoát qua khỏi một đoạn đời đầy gian nan, nh́n lại, mặc dù nhân loại ngày nay có hô hào nhiều nhân đạo hơn nhân loại ngày trước, xem ra cũng chưa thấy có một tương lai sáng lạn ǵ!

 

Chưa đầy một tháng sau, Khánh đi định cư. Tôi và vài anh em nữa làm việc ở pḥng SB, tiễn ông Khánh ra cầu Jetty. Đứng bên cạnh cựu Hải Quân thiếu tá Nguyễn Th́n, tức nhạc sĩ Trường Sa, hôm ấy cũng tiễn ông Khánh, tôi hỏi đùa:

 

-”Cây cầu nầy là cầu của anh đây phải không?”

Nhạc sĩ Trường Sa ngạc nhiên:

-”Sao cầu nầy là cầu của tôi?

Tôi cười:

“Đưa Em Ra Cầu Nhung Nhớ”, không phải cầu nầy của anh th́ c̣n của ai?”

 

Nghe nói đùa, nhạc sĩ Trường Sa cười hề hề, như cái cười muôn thuở của ông ta, trong khi ông Khánh đưa tay ra bắt. Có lẽ ông Khánh cũng không hiểu tại sao ông Th́n lại cười hề hề khi hai người bắt tay nhau như vậy!

 

 

ḥanglonghải

 

 

Trước sự ngạo mạn của vua nhà Minh với vế đối “Đồng Trụ chí kim đài dĩ lục” (Cột đồng đến nay rêu đă xanh - nhắc đến câu Mă Viện “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt), Sứ thần Đại Việt Giang Văn Minh hiên ngang đối lại: “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” (Bạch Đằng thuở trước máu c̣n loang).

 

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính