“Mày Tên Ǵ?”
hoanglonghai
Tiếng Việt nghĩa lư rất rơ ràng, nhất là về thứ bậc, trên dưới đâu vào đó. Vợ kêu chồng bằng anh. Chồng kêu vợ bằng em. Khi chồng kêu th́ vợ dạ. Cả tiếng anh và dạ cho thấy người chồng lớn hơn người vợ. Chồng là anh, vợ là em!
Cha mẹ gọi con bằng con. Con th́ “thưa ba, thưa má” và xưng con. Với ông bà th́ xưng là cháu, với anh chị th́ xưng là em…Với người trong máu mũ huyết tộc, bà con th́ theo vai vế mà xưng, gọi: Cậu, mợ, o (cô) dượng, bác chú thím th́ xưng là cháu…
Bạn bè thân thiết th́ gọi mày tao chi tớ…
Với người lạ lớn tuổi th́ gọi bằng ông, bà, xưng cháu hoặc tôi. Ngang tuổi th́ gọi bằng anh chị, xưng tôi hoặc em. Nhỏ tuổi hơn th́ gọi bằng em, cháu…
Với người già hoặc già lắm, muốn tỏ ḷng tôn kính th́ gọi cụ, ông cụ, bà, bà cụ… (ngôi thứ ba). Khinh thường th́ gọi bằng thằng, thằng chả, con mẹ, con mẹ ấy (ngôi thứ ba), trẻ th́ gọi bằng thằng: thằng nọ thằng kia…
Dùng mày, tao có hai trường hợp: bạn bè thân thiết chí cốt như nói ở trên; c̣n ngoài ra th́ để tỏ ư khinh thị, ghét, coi thường. Với thằng chăn trâu, ông ăn mày th́ người ta gọi bằng mày, xưng tao: “Mày làm ǵ ở đây?”, “Mày cút khỏi mắt tao!”
Cách gọi chứng tỏ được sự tôn trọng hay coi thường, không tôn trọng hoặc sự khinh ghét.
Cách gọi của người Việt Nam, mỗi nơi mỗi khác. Người miền Trung, người Huế, gọi một cách b́nh thường như tôi vừa tŕnh bày ở trên. Vào miền Nam, tôi hơi lạ cách gọi của mấy “lơ” xe đ̣: “Bà con cô bác lên xe lẹ lên, tới giờ rồi!” Ai mà họ gọi là bà con cô bác? Ai là bà con (có huyết tộc). Ai là cô? Ai là bác? Về tới miền Tây Nam Bộ th́ rơ hơn: Dù lạ, dù quen, những người trẻ gọi các người lớn tuổi hơn bằng chú, bằng d́, theo nghĩa “bà con”.
Té ra trong cuộc Nam Tiến, người ta bỗng thấy sợ khi tới vùng đất mới. “Tới đây đất nước lạ lùng, Nghe con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kiêng” nên họ sinh ra tâm lư t́m tới nhau, gần nhau hơn để bớt đi nỗi sợ nơi xứ lạ: “con chim kêu, con cá vùng” từ đó mà nảy sinh gọi bằng chú, d́, cô hay anh em…
Người Miền Trung, nhất là người Huế, người có học, có đổ đạt, có bằng cấp th́ rất lễ nghĩa, đúng với câu “Tiên học lễ, học hậu hoc văn.” Đặc biệt, đối với những người yêu nước, v́ nước v́ dân mà hy sinh, chịu tù tội, lưu đày, cực khổ th́ người ta tôn trọng lắm.
Huế là nơi xung đột giữa Tây với ta. Ta là người Việt Nam, - xin đừng hiểu méo mó triều đ́nh không phải là của ta! - Thời kỳ đó, văn hóa đó, dân tộc đó th́ vua là dân tộc, là đất nước. V́ vậy, ông vua theo Tây là ông vua bán nước. Ông vua chống Tây là ông vua yêu nước.
Chuyện thằng tướng Tây De Courcy, ỷ có tàu sắt súng đồng, khinh mạn triều đ́nh Huế quá lắm, khiến người Việt ai cũng bất măn; chuyện ông vua Hàm Nghi bị bắt ở Nghệ Tĩnh rồi giải về giam ở Huế, chuyện ông vua Thành Thái bị truất ngôi, ông vua Duy Tân bị đày làm náo động ḷng người Huế dữ lắm. Gần nửa thế kỷ sau khi ông Duy Tân bị đày, tôi đến Huế, vẫn c̣n nghe các bạn học tṛ, hướng đạo, các thầy cô và người Huế nói về những biến cố ngày xưa ấy. Họ nói với nhau, với tôi chỗ giam vua Hàm Nghi trong thành Mang Cá hay ngôi chùa vua Duy Tân trốn lên trên ấy, hay chuyện ông già Bến Ngự, lăng cụ Phan, trụ sở ṭa báo Tiếng Dân của cụ Huỳnh thúc Kháng ở đường Hàng Bè, v.v…
Những câu “Đày vua không Khả...”, “Chiều chiều trước bến Văn Lâu…” hoặc “Chiều chiều ông Ngự ra câu…” đều bày tỏ ḷng kính trọng của người dân đối với người yêu nước, dù người đó là vua, là quan hay dân thường.
Ở Huế nhiều người biết cụ Tuần Chi, tức là cụ Tuần vũ Nguyễn Đ́nh Chi, (phu quân của bà Tuần Chi hay c̣n gọi là Tùng Chi, nguyên hiệu trưởng trường Đồng Khánh, Huế). Khi ông làm tuần vũ Quảng Ngăi, đọc lời khai một người tù mới bị bắt, tên là Hoàng Đức Nậy (trước 1975, ông nầy là ủy viên trung ương đảng Cọng Sản Việt Nam), con cụ Cử Hoàng Đức Cự bạn đồng liêu với ông, bèn gọi ông Nậy lên rồi tha về. Ông Nậy bấy giờ là đảng viên đảng Cộng Sản. Tuy nhiên, hồi ấy, người ta không phân biệt ai thuộc đảng nầy, ai thuộc đảng kia, ai Quốc Gia, ai Cộng Sản. Người ta gọi chung là “Người làm Cách mạng”, gọi như thế để tỏ ḷng tôn kính, tránh dùng tiếng chống Pháp, “e ngại” với chínnh quyền thực dân. “Người làm cách mạng” là người chống Pháp giành độc lập. Người dân tôn trọng và yêu mến tất cả những “người làm cách mạng” đó. Ai bị tù, không bị người ta gọi một cách khinh miệt là người tù hay thằng tù. Cụ Tuần Chi tha cho ông Nậy v́ ông Nậy là “người làm cách mạng” chứ không phải ông Nậy là đảng viên đảng Cộng Sản, thêm một lư do nữa là v́ ông Nậy là con của người bạn ông. Việc làm của cụ tuần Chi có thể bị Tây bắt tội.
Cũng trong ư nghĩa bày tỏ sự tôn kính đó, người ta gọi cụ Phan Bội Châu một cách tôn kính là Cụ Phan, cụ Huỳnh Thúc Kháng là cụ Huỳnh, cụ Ngô Đức Kế, cụ Ngô Đ́nh Diệm là cụ Ngô, và cả ông Hồ Chí Minh, thời kỳ 1945, 46 là cụ Hồ.
Người Tây phương, người Tàu th́ khác. Người Pháp, người Mỹ gọi ông bà, cha mẹ, anh chị người lạ người quen th́ gọi là Vous hay You, tự xưng là Je hay I. Tiếng Tàu th́ Ngộ, Nị tuốt luốt, già trẻ, trong ngoài đều như nhau.
Ư nghĩa tiếng Vous hay You rất phổ quát và phức tạp. Tự điển ghi như sau:Vous:
(đại từ) anh, chị, ông, bà...; các anh, các chị, các ông, các bà...You:
(đại từ) anh, chị, ông, bà, ngài, ngươi, mày; các anh, các chị, các ông, các bà, các ngài, các người, chúng mày.
Vous, theo tiếng Pháp, gọi chung, dù là ông bà cha mẹ, là anh chị, mày tao. Khi dịch, cứ theo ư nghĩa nội dung câu chuyện mà dịch thành ông bà hay mày tao, tỏ ư khinh thị hay tôn kính như thế nào cũng được.
Trong cuốn “Tự Phán” của cụ Phan Bội Châu, - cuốn hồi kư cụ Phan viết về cuộc đời cụ và tự phê phán xấu tốt, hay dở -. Cụ có thuật lại việc cụ bị bắt ở Thượng Hải năm 1925, đem về Hà Nội rồi bị đưa ra Hội Đồng Đề H́nh để xét lại cái án của cụ. Trước đó cụ đă bị Tây xử tử h́nh vắng mặt. Khi ra ṭa, dĩ nhiên quan Tây ngồi ghế chánh án, ông Bùi Bằng Đoàn làm thông dịch viên.
Quan Tây hỏi:- “Comment vous appelez vous?”
Ông Bùi Bằng Đoàn dịch là:
- “Mày tên ǵ?”
Ông Bùi Bằng Đoàn dịch chữ Vous là mày. Nghe có được không?
Có người cho là không được; trong đó có tôi!
Tôi đọc cuốn “Tự Phán” của cụ Phan, khoảng năm 1956, do nhà Anh Minh xuất bản. (1) Tôi ngạc nhiên, bất măn về chữ mày đó, do cụ Phan tự tay viết lại trong sách. Biết th́ biết vậy nhưng quên th́ không quên. Mới đây, đọc Việt Thường, thấy ông nhắc lại việc nầy, tôi rất thích thú. Cái ông Việt Thường nầy cũng lạ! Cái ǵ ông cũng nhớ mà sao nhớ dai thế? Ông ta đọc “Tự Phán” lúc nào nhỉ? Cuốn “Tự Phán” chỉ mới xuất bản lần đầu tiên sau khi nước Việt Nam bị chia cắt năm 1954. Không lư Việt Cộng cũng cho phổ biến cuốn sách ấy ở ngoài Bắc để khen ông thông dịch viên Bùi Bằng Đoàn dịch “hay”?
Năm 1904, sau khi “vào Giám” (Vào Giám là vào học ở Quốc Tử Giám”, cụ Phan t́m cách kết hợp những người yêu nước. Kể từ đó cho đến khi bị bắt năm 1925 là một khoảng thời gian dài 20 năm, cụ có rất nhiều hoạt động chống Pháp. Cụ là nhân vật chính trong số các ông như Tiểu La Nguyễn Thành, Kỳ Ngoại hầu Cường Để, Thượng thư Hồ Lệ, Thượng thư Nguyễn Thông, Tây Hồ Phan Chu Trinh, Thái Xuyên Trần Quí Cáp, Thạnh B́nh Huỳnh Thúc Kháng, v.v…thành lập Duy Tân hội, lănh đạo Phong Trào Đông Du, tác giả rất nhiều thơ văn kêu gọi ḷng yêu nước của dân chúng như Á Tế Á, Lưu Cầu huyết lệ tân thư, v.v… trong nam ngoài bắc, ai cũng biết tiếng tăm của cụ. Cái tiếng ấy lớn lắm đến nỗi Hội Nhân Quyền Pháp phải can thiệp vào cái án của cụ.
Không lư ông Bùi Bằng Đoàn không biết cái tiếng tăm ấy của cụ Phan mà dùng tiếng mày một cách khinh thị để dịch chữ vous của quan Tây? Cụ Phan là người yêu nước, hoạt động cách mạng v́ nước, v́ dân, ai cũng kính trọng, sao gọi là mày? Cho dù Tây nó có gọi là mày đi nữa, tại sao không dịch là ông. Sợ mất ḷng Tây hay muốn dịch cho đúng ư chủ?
Vậy lư do chính để ông Bùi Bằng Đoàn dịch như thế là cái ǵ?
Có phải dưới con mắt của ông Bùi Bằng Đoàn, cụ Phan là “thằng làm giặc”, dám cả gan chống lại “nước Đại Pháp” nên phải dịch là mày?
Có phải ông Bùi Bằng Đoàn nịnh Tây, giả bộ miệt thị cụ Phan để quan “nước Đại Pháp” vừa ḷng?
Không chắc ông Bùi Bằng Đoàn dám miệt thị cụ Phan là thằng giặc. So với cụ Phan là người yêu nước th́ ông Bùi Bằng Đoàn chẳng là cái thá ǵ cả!
Có lẽ ông cũng biết quá rơ cụ Phan là người yêu nước, nhưng nếu dịch là “Anh tên ǵ? hoặc “Ông tên ǵ?” th́ sợ quan “nước Đại Pháp” sẽ không vừa ḷng, không chứng tỏ được ḷng trung thành, khuyển mă và ngưỡng mộ của ông với “nước Đại Pháp”.
Một trí thức như ông Bùi Bằng Đoàn, một nhà khoa bảng, ông biết hết, biết tất, dù ông có kính nể cụ Phan bao nhiêu đi nữa, ông cũng dấu kín trong ḷng. Ông Bùi Bằng Đoàn phải chứng tỏ cho “chủ Pháp” biết ông ghét “thằng giặc” ấy v́ nó dám chống lại “nước Đại Pháp”, là “mẫu quốc”, chứng tỏ cho “chủ Pháp” biết ông chống lại “thằng giặc”, không theo nó bao giờ để ông được “nước Đại Pháp” chiếu cố tới vinh hoa phú quí mà ông thèm muốn!
Quả thật ông Bùi Bằng Đoàn là người thông minh khác thường, vạch được hoạn lộ cho ông. Sau vụ xử án Phan Bội Châu, trong khi cụ Phan th́ bị tù, bị giam lỏng ở Bến Ngự th́ đời ông Bùi Bằng Đoàn lên hương lắm, lên tới chức thượng thư bộ h́nh để xử tội những người làm cách mạng chứ không tha về như ông Tuần vũ Nguyễn Đ́nh Chi đă tha cho ông Hoàng Đức Nậy.
Sau tháng 8 năm 1945, ông Bùi Bằng Đoàn theo ông Hồ Chí Minh, và đời cũng lên hương một lần nữa, tới chức Phó Chủ tịch Quốc Hội (bù nh́n, phải không nhỉ?!!).
Theo tử vi th́ người ta có tuổi và mạng. Tôi không rơ ông Bùi Bằng Đoàn tuổi con ǵ, nhưng có lẽ ông mạng thủy, cốt con lươn. Con lươn đầu trơn, chui đâu cũng lọt.
Con người như thế, mai mốt đây, lỡ khi tôi gặp ông Bùi Bằng Đoàn dưới âm phủ, tôi hỏi “Mày tên ǵ?” th́ ông Bùi Tín có tức giận tôi không nhỉ?
hoànglonghải
(1) Nhà Anh Minh ở đường Phan Bội Châu, Huế. Tên nôm na đường phố nầy là Ngă Giữa. Thời “quốc trưởng hồi loan” th́ đổi là đường Gia Long. Khi cụ Ngô mới về làm thủ tướng, lại đổi tên là đường Phan Bội Châu. Nhà Anh Minh, do ông Hoàng Văn Thành - họ tên tôi nhớ không chắc đúng! - trông coi, chuyên xuất bản những sách do cụ Phan viết. Ông Hoàng Văn Thành là một đồng chí và người cùng quê với cụ Phan. Khi ông đi tù Côn Đảo được tha, thay v́ về quê ở Nghệ An, ông ở lại Bến Ngự, nhà cụ Phan bị giam lỏng. Đến khi cụ Phan qua đời năm 1941, ông vẫn tiếp tục ở đó chăm sóc phần mộ và hương khói. Khi cụ Ngô về làm thủ tướng th́ những người theo cụ Ngô như cụ Vơ Như Nguyện, Ngô Đ́nh Thảng, Huỳnh Hữu Hiến, được ông Ngô Đ́nh Cẩn hỗ trợ, thành lập nhà xuất bản Anh Minh, giao cho ông Thành trông coi. Được mấy năm, nhà xuất bản nầy cũng dẹp tiệm sau khi những người theo cụ Ngô khi cụ c̣n “lê gót nơi quê người” (lời bài ca suy tôn Ngô Tổng Thống của nhạc sĩ Nguyễn Hiền) cáo lui về vườn theo gương Phạm Lăi.
Kỳ tới: Trở lại việc ông Vơ Tử Đản tố cáo ông Bùi Tín đă chém bố ông Đản là ông Vơ Bào, lư trưởng làng Nại Cửu, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị năm 1947.
hoanglonghai