Cái Ḥm Thiếc

 

Hoàng Long Hải

(truyện có thật, tác giả hư cấu vài chi tiết)    

 

 

“Một chàng phiêu lăng

Ôm đàn tới giữa đời…”


(Tà Áo Văn Quân – Phạm Duy Nhượng)

 

oOo

 

 

Gần cuối tháng Tư/ 1972, từ miền Tây, tôi trốn phép về thăm nhà. Vừa gặp nhau, vợ tôi nói ngay:

 

– “Anh L. vừa từ Đà Nẵng gọi về. Anh ấy nói t́nh h́nh Quảng Trị không êm, Việt Cộng đă vượt Bến Hải, không chắc giữ được Quảng Trị. Anh ra ngoài ấy đi.”

 

Nếu Quảng Trị chạy loạn th́ nhiều khó khăn lắm. Gia đ́nh tôi, bên ngoại và gia đ́nh nội-ngoại bên vợ tôi đều là dân Quảng Trị cả. Không biết bà con chạy cách nào, chạy đi đâu!

 

Hôm sau nữa, xin được máy bay quân sự, mới sáng sớm, tôi nhờ xe trực ở Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp đưa vô phi trường Tân Sơn Nhứt.

 

Ở trạm hành khách, một số đông người đang chờ lên máy bay. Phần đông là quân nhân, mặc đồ lính. Binh sĩ, hạ sĩ quan, sĩ quan cấp úy. Một số là dân sự: đàn ông, đàn bà. Không có trẻ em. Tôi nghĩ thầm: Toàn dân nhà nghèo không! Mấy ông lớn chắc là đi Air Việt Nam, khỏe hơn.

 

Chờ chưa được nửa tiếng, một anh Trung sĩ Không quân, đứng ngay cửa ra phi đạo hô lớn: “Ai đi chuyến bay số xxxx, theo tôi lên máy bay.”

 

Nhiều người sắp hàng đi ra. Tôi đi gần chót, trước mặt là hai ông bà già, có lẽ vợ chồng nhà quê. Người chồng mặc áo sơ mi trắng, màu cháo ḷng, lưng áo lỗ chỗ nhiều vết thâm, vết chất dơ giặt không đi. Vậy mà cũng “áo bỏ vô thùng”, quần tergal hay dacron ǵ đó, màu xanh sẫm, chân mang đôi “dép mũ” màu trắng.

 

Bà vợ áo kiểu bà ba, mầu nâu nhạt, quần đen, chân mang dép Nhật. Ông chồng th́ xách cái va-li bằng thiếc, không to lắm, thứ hàng nội hóa, Chợ Lớn sản xuất, chợ Việt Nam nơi nào cũng có bán.

 

Cái va-li c̣n mới lắm, mới dùng lần đầu. Người vợ xách cái bị vải lớn, hơi nặng. Có lẽ đựng áo quần. Cả hai đều già, khoảng gần 70 tuổi. Người nhà quê lam lũ, thường già trước tuổi. Sau lưng tôi là mấy anh lính trẻ.

 

Tới gần cửa máy bay, mấy anh lính chen lên, cố giành lên trước. Tôi cũng dợm tranh với họ, nhưng hai ông bà già trước mặt, vẫn đi b́nh thường, làm tôi thấy kỳ, nếu tôi vượt mặt họ, nên thôi.

 

 

Tấm bửng sau chiếc C-119 hạ thấp xuống để mọi người vô trong máy bay. Một anh Trung sĩ Không quân khác, đứng ngay chỗ mép cửa, hỏi giấy phép lên máy bay từng người. Ông già nhà quê đưa giấy tờ ra, ông đă cầm sẵn ở tay. Bà vợ đứng bên cạnh im lặng.

 

Anh trung sĩ coi giấy tờ xong, đưa mắt nh́n vào cái va-li thiếc hơi lâu một chút. Tôi không rơ v́ sao. Xong, anh bảo: “Lên đi”. Hai người đi vào. Tôi là người lên máy bay sau cùng.

 

Vào tới bên trong, tôi thấy chỉ c̣n một cái ghế vải sát cạnh hai ông bà già. Tôi liền ngồi xuống đó. Tiếng động cơ đang chạy ầm ầm, có lẽ chuẩn bị cất cánh.

 

Loại ghế trên máy bay quân sự là loại ghế xếp dă chiến, nằm sát thân tầu. Ngồi xuống th́ cũng có giây “beo”, cũng gài vào móc một cái cạch như ghế xe hơi bên Mỹ vậy. Trong máy bay, ai muốn thắt giây “beo” th́ thắt, c̣n không th́ thôi. Mấy ông trung sĩ phục vụ trên máy bay chẳng nhắc nhở ai, không như ở Air Việt Nam, tiếp viên hàng không đi nhắc nhở và kiểm soát từng người.

 

Tiếng động cơ gầm rú mạnh hơn, rồi thân máy bay giựt mạnh một cái. Nh́n qua ô cửa tṛn nhỏ, tôi thấy ngôi nhà kế phi đạo đang chạy lui. Vậy là máy bay ra phi đạo.

 

Tới cuối đường để ra phi đạo rồi, tiếng máy bay lại gầm rú. Tôi nghĩ là phi công chuẩn bị cất cánh. Nhưng tiếng động cơ lại rú lên, lại xuống, lại rú lên, lại xuống, mấy lần như vậy. Cuối cùng, tôi có cảm tưởng như máy bay quay lui.  Máy bay dừng lại. Tôi nh́n ra qua ô cửa tṛn, mái nhà lúc năy lại hiện ra. Có nghĩa là máy bay không cất cánh, trở về chỗ cũ.

 

Mọi người vẫn ngồi yên trong phi cơ. Tôi lại nghe tiếng xe hơi ngừng lại bên ngoài máy bay. Cửa phía phi hành đoàn mở. Hai người mặc đồ không quân lên chỗ pḥng lái. Lại có tiếng động cơ gầm rú hai ba lần như thế.  Cuối cùng, hai người mới lên lại xuống. Tiếng động cơ gầm lên. Máy bay lại di chuyển. Có lẽ lại ra đầu phi đạo.

 

Cũng tới ngay chỗ cũ, hồi năy, tôi lại nghe tiếng động cơ gầm rú. Tiếng rú lại hạ xuống, lại gầm rú lần nữa. Mấy lần như thế. Cuối cùng, máy bay ra đầu phi đạo. Tiếng động cơ rú lên, dài hơn, và máy bay cất cánh. Nh́n qua cửa ô tṛn nhỏ, tôi thấy những cái dấu mốc hai bên phi đạo chạy lui rất nhanh.

 

Máy bay đă rời mặt đất. Bây giờ nh́n ra phía ngoài, chỉ thấy trời và mây. Máy bay lên chưa cao lắm, tôi có cảm tưởng máy bay nghiêng ṿng. Chắc là để lấy hướng, tôi nghĩ vậy. Nhưng không phải. Tiếng động cơ kêu nhỏ trở lại. Một chốc tôi lại nghe tiếng bánh xe chạm phi đạo, và tiếng bánh xe đang chạy. Máy bay lại hạ cánh. Tôi không rơ chuyện ǵ.

 

Khi máy bay dừng lại chỗ cũ, chỗ đầu tiên lên máy bay. Mọi người được lệnh xuống, không nói rơ v́ sao! Cánh quạt đă ngưng quay.  Hành khách kẻ đứng người ngồi xổm bên cạnh thân phi cơ.  Tôi thấy người Trưởng phi hành, mang “loon” thiếu tá, tên ở ngực là Lan, có thể là Lân – Đàn ông ít ai có tên đàn bà, – đến trước mặt tôi. Tôi tưởng ông ta muốn nói ǵ với tôi, nhưng không. Ông nh́n ông già tôi nói ban năy, đang đứng cạnh tôi, tay đang ôm cái va-li.

 

Thiếu tá Lân hỏi xẵng giọng:


-“Ông có giấy phép không?”


-“Dạ có.” Ông già trả lời lí nhí.


-“Giấy phép cái va-li ḱa!” Thiếu tá Lân vẫn gằn giọng.

 

Ông già lập cập lấy trong túi áo một tờ giấy quay rô-nẹ-ô, có chữ viết tay. Xem xong, Thiếu tá Lân trả lại cho ông già, bỏ đi.  Ông già gần như khóc, hai mắt đỏ hoe. Bà vợ khóc thút thít, không dám khóc to.


Ṭ ṃ, tôi hỏi:


-“Cái chi dzậy?”


-“Dạ! Ông Thiếu tá hỏi giấy phép đem hài cốt lên tàu bay. Tui có giấy đó.” Ông già trả lời, giọng nhỏ, từ tốn.


-“Bác bốc mộ cho ai?” Tôi lại hỏi.


-“Con trai tui. Nó đi lính Nhảy Dù, tử trận.”

 

Tôi im lặng. Dân “Quảng Trị tui” có cái lạ! Đi lính, ưa đi “thứ dữ”. “Hùng móm” em út tôi cũng vậy. Ra trường, cố đi cho được Nhảy Dù. Cẩm, bạn tôi, em Đại tá Bé, là “dân Biệt Động Quân”, trước đó là “Nha Kỹ Thuật.” Ông Lô, cũng Nhảy Dù. Dục, bạn tôi và hai ông em nó, Dưỡng, Lữ đều Thủy Quân Lục Chiến.

 

Rồi tôi nghĩ tới việc ông Thiếu tá Lân hỏi giấy phép mang hài cốt đứa con của ông già. Dân xứ tôi hay tin dị đoan. Đem hài cốt lên xe đ̣, xe hàng hay lên máy bay là xui. Có khi tài xế không cho mang hài cốt lên xe, nên thân nhân phải giấu. Chỉ đi xe lửa là không ai hỏi.

 

Thân phụ tôi “đi kháng chiến” qua đời trên chiến khu năm 1948. Năm 1954, ḥa b́nh rồi, anh em tôi lên chiến khu bốc mộ đem về. Tới nhà, mẹ tôi phải dựng một cái chái tranh bên kia đường, chỗ đất trống để cái va-li thiếc đựng hài cốt ở đó. Theo tục lệ, người ta cử đem hài cốt vô nhà. Anh Xạ Thử, lư trưởng phường tôi, nói với mẹ tôi: “Nể t́nh chị, chớ tục của ḿnh, đem về làng, người ta cũng cấm.”

 

Nghĩ tới đó, nh́n lại, tôi thấy ông bà già có vẻ sợ hăi chớ không như lúc đầu, khi tôi mới gặp ông. Có lẽ ông sợ người ta sẽ không cho ông đem hài cốt con ông lên máy bay.  Một lúc sau, mọi người được hướng dẫn lên một chiếc C-119 khác. Người ta đổi máy bay nhưng cũng toán phi hành cũ. Chuyến bay b́nh thường, cất cánh rời phi đạo, êm ru.

 

Ngồi trên máy bay lâu quá, tôi hơi bồn chồn. Tôi nghĩ sao máy bay chưa hạ cánh. Họ có bay lạc không? Tôi có cảm tưởng như máy bay đă ra tới Đồng Hới, không chừng Việt Cộng bắn lên mà rớt máy bay như không. Hỏi ra, anh Trung sĩ Không quân cho biết “Mới tới Quảng Ngăi.”  Máy bay chi mà chậm như rùa, như “Chuyến Xe lửa mồng năm” của Trần Văn Trạch.

 

Suốt trong chuyến bay, có lúc tôi hỏi chuyện ông già. Một là v́ thấy ông là người cùng quê: Quảng Trị. Quê ngoại tôi ở đó, bên kia sông, làng Nhan Biều. Bên nầy sông là thị xă Quảng Trị.

 

Tôi sinh ra, lớn lên, học hành thời thơ ấu là ở thị xă. Năm 16 tuổi, tôi trốn nhà đi xa, làm một kẻ, như các bạn tôi thường gọi: “Thằng lăng tử”. Vậy là gần hai mươi năm, tôi từ miền Tây Nam Bộ, cực nam của nước Việt Nam Cộng Ḥa, về thăm Quảng Trị, ở vĩ tuyến 17, cực Bắc Việt Nam Cộng Ḥa. Vậy là không biết, trong đời nầy, có ai đi xa hơn tôi?

 

Thứ hai, tôi thấy tội nghiệp cho hai ông bà già. Lặn lội đường xa, từ ngoài kia, “về Thủ Đô”, không phải để làm một du khách, thưởng ngoạn mà làm kẻ bốc mộ cho con, đem về quê.


Tôi hỏi:


-“Con bác chôn ở đâu?


-“Ở nghĩa trang Quân Đội G̣ Vấp.” Ông già trả lời.


-“Tui tới đó rồi. Nghĩa trang đó cũng đẹp lắm, để nó ở lại đó cho có bạn bè, đem về quê làm chi?” Tôi lại nói.


-“Đem về cho nó nằm chung với ông bà, cho ấm mồ ấm mả thiếu úy à!” Ông già nói. Ông gọi tôi là thiếu úy v́ thấy tôi đeo trên cổ áo một bông mai vàng.


-“Quê bác ở mô?” Tôi hỏi.


-“Ở Lai Phước. Thiếu úy biết làng đó không?”Ông già hỏi lại tôi.


-“Làng đó có cây cầu trên Quốc lộ 1. C̣n có cây cầu sắt trên đường xe lửa nữa, phải không?” Tôi hỏi.


-“Thiếu úy rành lắm!” Ông già trả lời tôi.


-“Hồi c̣n nhỏ, tui học ở thị xă mà, hay ra Đông Hà chơi! Con gái Đông Hà đẹp lắm! Ông biết không?” Tôi vừa cười vừa nói chuyện với ông.
-“Tui quanh quẩn trong làng, không biết chi hết. Ngày mô (nào) đi làm củi, tui đi dọc theo đường từ cầu ván, lên cầu sắt rồi lên rú.”

Tôi hiểu cầu ván là cầu xe hơi trên Quốc lộ, c̣n cầu sắt là cầu xe lửa.

 

Cuộc nói chuyện với ông già không có ǵ hứng thú; một là v́ tiếng động cơ kêu đều nhưng cũng to, nhiều khi không nghe rơ ông ta nói ǵ, tôi chỉ đoán chừng. Thứ hai, tôi cũng thấy buồn ngủ. Khi c̣n ở đơn vị, tôi ít ngủ. Hai hôm về nhà th́ một hôm đưa vợ đi nghe nhạc ở Queenbee, về khuya. Sáng nay lại dậy sớm ra phi trường.

 

Xuống máy bay, vô tới “trạm hành khách” th́ t́nh h́nh náo động lắm. Kẻ lui người tới vội vă, người nầy người nọ bàn tán xôn xao.

 

Té ra là Quảng Trị đă mất hôm qua, ngày 1 tháng 5. Quân đội đang trên đường rút lui. Bấy giờ chưa mấy ai biết lệnh Tổng Thống buộc binh sĩ phải dừng lại bên nầy sông Mỹ Chánh, lập tuyến pḥng thủ.

 

Đồng bào Quảng Trị chạy tán loạn về Huế. Việt Cộng từ trong núi pháo kích ra, hàng ngàn người chết trên “Quốc Lộ mới”, đoạn phía Nam Cầu Dài, phía dưới kia, trên Quốc lộ 1 cũ là cầu Bến Bá, c̣n gọi là cầu Trường Sanh, trên sông Trường Sanh, c̣n có tên là sông Diên Trường (1). Mấy hôm sau, báo chí đưa tin, đặt tên cho đoạn đường nầy là “Đại Lộ Kinh Hoàng”.

 

Huế cũng hoảng loạn theo. Chợ Đông Ba bị đốt cháy. Dân Huế tranh nhau vượt đèo Hải Vân, chạy trốn vào Đà Nẵng.

 

Tôi lo lắng, băn khoăn, lúng túng không biết phải làm ǵ bây giờ. Tôi t́m một chỗ ít ồn hơn, ở phía góc trong của “trạm hành khách”, b́nh tĩnh một chút, tôi nghĩ thầm để coi phải làm ǵ trong khung cảnh náo nhiệt hỗn loạn và đầy lo lắng nầy.

 

Tới góc pḥng, tôi thấy hai ông bà già đang ngồi lọt thỏm trong góc nhỏ. Ông già vẫn c̣n khư khư ôm cái va-li thiếc trước ngực. Thấy tôi, ông nh́n tôi, như muốn hỏi ǵ đó mà không dám hỏi.

 

Tôi thấy ái ngại cho ông, lên tiếng trước:


-“Bác nghe tin ǵ chưa?”


-“Dạ, nghe rồi!” Ông già trả lời.


-“Không chắc về Quảng Trị được đâu. T́nh h́nh nầy là chạy hết rồi, làm “răng” (sao) về?” Tôi nói.


-“Tui ở “già” (nhà) quê, chắc không phải chỗ hai bên đánh “dau” (nhau), về được.” Ông già trả lời.


-“Không chắc có xe mà về. Người ta chạy vô, có ai chạy ra.” Tôi giải thích.

-“Dạ! Không biết răng!” Ông già nói. Giọng nói nhỏ và yếu, tưởng nhưng không mấy hy vọng.

 

Bất thần có người gọi tôi “Cậu”. Nghe giọng quen, tôi quay lại. Té ra Tịnh, một người cháu gọi tôi bằng cậu, sáng nay nghe vợ tôi gọi điện thoại ra, cho biết “Cậu ra Đà Nẵng rồi” nên lái xe đến đón tôi. Anh làm tiểu Đoàn Phó cho Tiểu Đoàn Truyền Tin, được cấp xe Jeep riêng. Trước khi quày đi theo người cháu, tôi nói với ông già: “Bác liệu t́m xe ra ngoài đó. Nhớ tránh mấy chỗ đang đánh nhau.” Chưa kịp nghe ông già trả lời ǵ, tôi len vào đám đông đi mất.

 

Tối hôm đó, tôi định mượn xe gắn máy của Tịnh để đi t́m thân nhân chạy loạn từ ngoài kia vào. Tịnh nói:


-“Cậu không đi được đâu! Hai bữa nay, Đà Nẵng giới nghiêm 6 giờ chiều. Để Tịnh đưa cậu đi. Xe cháu có phép đi trong giờ giới nghiêm.”

 

Hôm đó, nhờ Tịnh, tôi đi thăm vài nơi. Em gái tôi, cùng mấy đứa con, chạy từ Huế vào tạm trú nhà bà con ở đường Bạch Đằng, người chồng nó phải ở lại với đơn vị, Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương Huế; chị và anh rể vợ tôi từ Quảng Trị chạy vào tạm trú bên Sơn Chà. Gia đ́nh anh tôi và mẹ tôi th́ đă chạy vào Qui Nhơn. Nhiều người nữa, nhưng không liên lạc được, không biết địa chỉ…
Sau khi đưa tôi về nhà, Tịnh lại vào doanh trại.

 

Khuya lắm, anh ta mới về. Tôi vẫn c̣n thức, đang băn khoăn, lo lắng, không ngủ được. Chúng tôi ngồi ở pḥng khách uống nước. Tịnh nói:


-“Lệnh Tổng thống không cho quân đội rút lui nữa, phải lập pḥng tuyến chận địch ở sông Mỹ Chánh. Tin c̣n mật, nhưng vài người ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn đă biết: Tướng Trưởng ra thay Tướng Lăm – (2). Mai cháu phải đi Huế. Nhiều đơn vị Tổng Trừ Bị đang trên đường ra Đà Nẵng. Khuya nay hay sáng mai họ đến. Phải giữ Huế, không được mất. Lệnh Tổng Thống đấy.”


-“Có chuyện chi gấp không mà phải đi trong t́nh h́nh nầy?” Tôi hỏi.
-“Vừa quan trọng vừa gấp. Tiểu đoàn ở đây, (3) lo việc liên lạc giữa Quân Đoàn với Saigon. Tịnh phải ra củng cố và phát triển một đài truyền tin của Tiểu Đoàn ở Huế, giữ nhiệm vụ truyền tin, không được trở ngại hay gián đoạn của các đơn vị đang đánh nhau liên lạc với Quân Đoàn. Truyền tin mà có chuyện ǵ th́ mệt lắm!”


Một lúc, tôi nói:

-“Tui đi với được không?”


-“Được th́ được, nhưng cậu ra làm ǵ ngoài? Về tới Huế thôi, không về Quảng Trị ḿnh được.”


-“Dĩ nhiên, dù sao ở Huế cũng gần hơn, hỏi thăm được tin tức, coi có ai c̣n kẹt lại.” Tôi nói.


-“Không an toàn lắm đâu!” Tịnh giải thích.


-“Ông ở truyền tin, ông biết chỗ nào đánh nhau, chỗ nào không. Biết th́ tránh được. Chắc không can ǵ!” Tôi nói.


-“Chỉ sợ bắn sẻ, nhất là ở trên đèo (4). Mới rồi, một người bà con bên mợ bị bắn sẻ ngay trên đèo. Trúng ngay đầu.” Tịnh nói.

 

Sáng hôm sau, Tịnh vô đơn vị sớm. Chị tôi, mẹ của Tịnh cũng dậy sớm, nấu bún ḅ cho tôi ăn sáng. Khi đó hai vợ chồng Tịnh đă đi rồi. Tịnh vô trại, c̣n vợ Tịnh đi làm.


Bún ḅ bà chị tôi nấu không có gị heo, giống như ở quê tôi hồi trước, nhưng thịt ḅ xào lăn th́ hết sẩy. Biết tôi thích ăn những món do bà nấu, chị ấy bảo tôi: “Cậu ở chơi vài “bựa” (bữa) chị kho cá nục cho ăn.”  Tôi không chắc chị tôi biết nấu những món cao lương mỹ vị, nhưng cá nục kho, cá ngừ kho, rau muống luộc, tôm chua thịt heo, v.v… th́ ăn một bữa, một đời khó quên.

 

Gần trưa th́ Tịnh về, ăn qua loa vài chén cơm cùng với tôi rồi hối tôi mặc quần áo quân nhân đi gấp. Tịnh nói đùa:

 

-“Đi với cháu là đi hành quân, không phải vô lớp giảng bài đâu mà thắt cà vạt.” (5)


-“Mặc xi-vin dễ thành mục tiêu cho tụi nó bắn sẻ, ông sợ tôi chết trước ông chớ ǵ. C̣n lâu! Số tôi thọ lắm. Nhưng có chuyện ǵ cũng mệt đấy.”


-“Mệt ǵ?” Tịnh hỏi.


-“Tui trốn phép, lỡ có bị thương hay ǵ, khó khai báo. Đơn vị ở trong Nam mà tôi bị thương ngoài Trung, lại không có giấy phép hay công tác ǵ cả.” Tôi nói.

-“Kệ! Không can ǵ đâu. Có ǵ cháu lo.”

 

Xong, chúng tôi lên đường. Thấy tôi nh́n chiếc xe Dodge, không đi xe Jeep, có vẻ ngạc nhiên, Tịnh nói ngay:

 

-“Cháu phải đi xe Dodge v́ có thêm mấy chuyên viên, chở theo linh kiện. Cậu ngồi phía sau, ngay sau lưng cháu.”

 

Thế rồi chúng tôi lên đường, sau khi chào bà chị, Tịnh th́ chào mẹ. Vợ Tịnh đi làm chưa về. Xe có tất cả 7 người: Tài xế, Tịnh, mấy trung sĩ chuyên viên truyền tin và tôi.

 

Xe bon bon ra hướng Liên Chiểu. Tới ngă ba Cây Lan, chỗ Quốc lộ 1 có đường rẽ đi về phía Nam, xe và người đông quá, nên tài xế chạy chậm lại. Tôi chợt nh́n qua bên đường, thấy ông già và vợ ông, người đồng hành hôm qua, đang đứng bên đường. Tay ông vẫn khư khư ôm cái va-li thiếc ở ngực, tôi chợt nói: “Ông bà già!”

 

Tịnh hỏi ngay:

 

-“Ông bà già cậu kể hồi tối hả?”

 

Tôi nói: “Đúng họ.”

 

-“Chắc họ không kiếm được xe ra Huế. Bây giờ làm ǵ có xe ra!”

 

Rồi Tịnh ra dấu cho tài xế biểu ngừng xe lại.

 

-“Tịnh cho ông ta quá giang hả?” Tôi hỏi.

 

-“Để cháu hỏi lại coi.” Xong, Tịnh bảo tài xế cho xe “de” lui.

 

Thấy ngại, tôi nói:

-“Ông ta có cái hài cốt đấy. Tịnh có ngại không?”

 

-“Cháu biết! Cháu muốn làm phước cậu à. Để cái đức cho con. Tin dị đoan làm ǵ.” Tịnh giải thích.


oOo

 

Chúng tôi ra tới Huế, trời cũng c̣n sáng. Trời mùa hè! Tịnh cho xe chạy thẳng ra bến xe Nguyễn Hoàng, nói với ông bà già: “Hai bác xuống đây. Không có xe về Quảng Trị đâu, hai bác phải liệu cách.”

 

Hai ông bà già xuống xe, tôi xuống theo. Tôi nói với Tịnh: “Để chỉ đường cho ông ta đi, họ không biết đường đâu!”

 

Tôi đứng trước mặt ông già, nghiêm trọng nói:

-“Từ đây, bác có thể ra Mỹ Chánh bằng xe ôm. Không có xe đ̣ ǵ đâu! Từ Mỹ Chánh ra, bác không thể đi theo Quốc lộ được. Hai bên đang đánh nhau. Vô đó là chết. Đi đường nầy may ra êm hơn: Từ Mỹ Chánh, bác đi dọc theo con đường bên sông Ô Lâu mà về làng Vân Tŕnh. Từ đó, bác ra ngă làng Trung Đơn mà về Ngô Xá. Từ Ngô Xá, băng qua Vân Ḥa, Đại Hào, rồi qua sông Thạch Hăn mà qua Trung Kiên. Từ đó mà về Lai Phước th́ dễ lắm.”

 

Ông già cứ ôm cái va-li thiếc vào ḿnh, nói luôn miệng:


-“Cám ơn thiếu úy. Cám ơn ông Đại úy. Cám ơn mấy thầy. Thiệt phúc hậu quá. Vợ chồng tôi gặp may.”

 

Tôi hơi bực ḿnh, nói:


-“Cám ơn chi nói hoài. Mấy cái làng tui nói tên, bác có nhớ mà đi qua không?”


-“Dạ nhớ! Mấy làng đó tui biết.” Ông già trả lời.

 

Tịnh hỏi tôi:


-“Sao cậu rành địa thế vậy? Đi chơi khi nào mà biết hết!”


-“Đi chơi đâu!” Tôi nói, “Hồi chạy tản cư, vùng đó tui có chạy qua. Dân Quảng Trị mà!”

 

Tôi quay qua nói với ông già:


-“Ḿnh người cùng quê giúp nhau. Ông Đại úy nầy, – Tôi chỉ Tịnh – người làng Cổ Thành. Ngoại tui là bên Nhan Biều, gần làng bác đó!”

 

Ông già vẫn cứ khư khư ôm cái va-li thiếc vào ngực, mặt mếu máo, nói:
-“Thiệt là hai vợ chồng tui gặp may. Ông bà với con tui phù hộ mới gặp được mấy thầy. Cám ơn Trời Phật, Cám ơn Trời Phật.”

Tịnh nói: “Thôi bác vô trong bến xe t́m xe ôm đi đi. Ra tới Mỹ Chánh là trời tối lắm. Lại c̣n đi theo con đường cậu tôi chỉ, không dễ lắm đâu.”


Ông già nói: “Dạ! Cám ơn Đại úy. Tui biết đường!”

 

Khi ông già tính quay đi, Tịnh nói theo:


-“Vừa đi vừa hỏi ḍ đường người ta. Nghe chỗ nào có lính, có súng nổ th́ đừng tới. Nghe chưa?”

 

Ông già lại “dạ, dạ” thêm mấy tiếng nữa, rồi đi nhanh vô bến xe.


Tịnh nói với tôi: “Con sống cũng khổ, con chết cũng khổ. Thiệt làm cha mẹ…”

 

 

 Hoàng Long Hải

………………………………..

(1)- Sông Trường Sanh, c̣n gọi là sông Diên Trường, có “bến đ̣ Diên Trường”, chỗ có câu ḥ:

Trăm năm “diều” (nhiều) nỗi hẹn ḥ,

Cây đa bến “cộ” (cũ) con đ̣ khác đưa

Cây đa bến cộ c̣n “lưa” (c̣n lại)

Con đ̣ đă “thác” (chết) năm xưa “tê” (kia) rồi.

(2)- Tịnh là em rể Tướng Lăm, có lẽ v́ vậy nên anh ta biết tin ấy sớm hơn những người khác.

(3)- Tiểu Đoàn 610 Truyền Tin, đóng ở Đà Nẵng – đơn vị của Tịnh

(4)- Tôi đi dạy 10 năm trước khi nhập ngũ.

(5)- Đèo Hải Vân, xe Quân Đội qua đèo, thường bị bắn sẻ.

 

 

Tin Tức - B́nh Luận     Vinh Danh QLVNCH     Audio Files     Tham Khảo     Văn Học Nghệ Thuật     Trang Chính